Một số vấn đề về hoạt động khai thác bảo hiểm tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng trở nên
sôi động với sự tham gia của các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước.
Người dân Việt Nam từ chỗ xa lạ với bảo hiểm ngày càng quen dần với khái
niệm bảo hiểm và đã bắt đầu tìm mua dịch vụ bảo hiểm nhiều hơn.
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh như ngày nay, vấn đề cạnh
tranh về dịch vụ và bán hàng càng trở nên quyết liệt hơn. Khai thác bảo hiểm
là khâu đầu tiên quan trọng trong quy trình khai thác một nghiệp vụ bảo
hiểm. Thông qua hoạt động này các DNBH mới có được nguồn doanh thu và
chỉ có tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp mới bù đắp được khoản chi phí
trong hoạt động kinh doanh và mở rộng thị trường. Làm thế nào để khách
hàng biết đến sản phẩm, thương hiệu của công ty, hiểu được sự cần thiết của
việc tham gia bảo hiểm trong khi đa số người tiêu dùng hiện nay chưa có
quan điểm tích cực đối với các ngành bảo hiểm.
Công ty cổ phần bảo hiểm AAA với sự góp vốn của một số các cá
nhân, tổ chức thành lập và hoạt động trong giai đoạn mở cửa hội nhập. Bước
chân vào thị trường bảo hiểm, quy mô hoạt động còn nhỏ, thương hiệu lại
chưa thực sự hấp dẫn, AAA đã xác định là phải chịu áp lực cạnh tranh rất
lớn. Thực tế đó đặt ra cho AAA là cần có chiến lược để giải quyết bài toán
này. Đó cũng là lý do chọn đề tài: “Một số vấn đề về hoạt động khai thác
bảo hiểm tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA”.
Việc chọn đề tài nhằm mục tiêu tìm hiểu kết quả, phân tích tình hình
khai thác bảo hiểm của AAA sau 5 năm thành lập; nhận thức các cơ hội và
thách thức, các điểm mạnh và yếu của công ty, từ đó đề xuất một số biện
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác tại AAA.

1


I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ HOẠT ĐỘNG KHAI
THÁC BẢO HIỂM.

bảo hiểm.

2


Bản chất của bảo hiểm.
Dù được thể hiện theo khái niệm nào thì về mặt bản chất, bảo hiểm đều
được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:
Bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro từ bên tham gia bảo hiểm sang nhà bảo
hiểm, những rủi ro đó phải là những rủi ro không biết trước. Sự cam kết giữa
người tham gia và nhà bảo hiểm thường được thông qua một hợp đồng bảo
hiểm mà thực chất là một hợp đồng kinh tế rang buộc quyền lợi và trách
nhiệm các bên. Các công ty bảo hiểm có thể được coi là trung gian tài chính.
Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông bù số ít, đó là nguyên tắc cơ
bản nhất trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Mục đích chủ yếu của bảo
hiểm là bồi thường thiệt hại và chi trả tiền bảo hiểm giúp người tham gia gặp
tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất kinh
doanh, tiết kiệm khởi nghiệp kinh doanh, mua sắm tài sản…
Bảo hiểm là một hoạt động vừa có tính dịch vụ, vừa có tính kinh tế, vừa
có tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
1.2.

Sơ đồ: Bản chất của bảo hiểm.

Người
tham gia
bảo hiểm

Quỹ tài chính
bảo hiểm

hiểm và DNBH có nghĩa vụ thực hiện.
• Bảo hiểm xã hội (BHXH): là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm
hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng
một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo an toàn xã hội. Mối quan hệ giữa
các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3
bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Những biến cố
làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là
rủi ro ngẫu nhiên hoặc là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu
nhiên. Mục đích của BHXH là nhằm thỏa mãn những yêu cầu thiết yếu của
người lao động.
- Bảo hiểm y tế (BHYT) được tách ra từ chết độ “chi phí y tế” trong hệ
thống các chế độ BHXH do đó mang đầy đủ tính chất của BHXH. BHYT là
một loại dịch vụ bảo hiểm rât phổ biến trên thế giới. Đối tượng tham gia
4


BHYT là mọi người dân có nhu cầu BHYT cho sức khỏe của mình hoặc có
thể là từ một người đại diện cho một tổ chức đứng ra ký kết hợp đồng cho tổ
chức đó. Khác với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ BHYT được hình thành
chủ yếu từ phí bảo hiểm của người tham gia BHYT.
- Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cũng là loại bảo hiểm được tách ra từ
BHXH, là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập
do bị mất việc làm. Đối tượng của BHTN là phần thu nhập của người lao
động. Việc trả trợ cấp BHTN là việc sử dụng chủ yếu nguồn quỹ BHTN,
quỹ này do sự đóng góp từ 3 nguồn là người tham gia BHTN, người sử dụng
lao động và nhà nước bù thiếu.
2. Hoạt động khai thác bảo hiểm trong doanh nghiệp bảo hiểm.
2.1. Quy trình triển khai một nghiệp vụ bảo hiểm.
Hoạt động chủ yếu của DNBH là tổ chức kinh doanh các nghiệp vụ bảo

cấp khác, chi nhánh xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên.
- Khai thác viên nghiên cứu, đề xuất phương án giải quyết. Lãnh đạo khối
xem xét và gửi đến các khối lien quan xin ý kiến.
- Lãnh đạo đồng ý với phương án của khối nghiệp vụ thì khối nghiệp vụ
thông báo cho chi nhánh để tiến hành cấp đơn bảo hiểm.
e. Đàm phán, chào phí.
- Phí bảo hiểm đã chào cho khách hàng nhưng chưa được chấp nhận, tùy
trường hợp mà lãnh đạo phòng hoặc lãnh đạo công ty sẽ trao đổi và tính toán
lại phương án chào phí phù hợp, đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm của khách
hàng.
- Việc đàm phán diễn ra cho đến lúc khách hàng chấp nhận hoặc không
chấp nhận việc đàm phán.
f. Chấp nhận bảo hiểm: Sau khi đã thống nhất các nội dung trong hợp đồng,
khai thác viên thông báo cho khách hàng và hướng dẫn khách hàng làm các
thủ tục cần thiết để cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm.
g. Theo dõi thu phí, tiếp nhận giải quyết mới.
- Vào sổ theo dõi khai thác, thống kê.
- Theo dõi đối tượng bảo hiểm, thu phí, trả hoa hồng.
- Sửa đổi các điều kiện bổ sung.
- Làm công tác tuyên truyền, đề phòng hạn chế tổn thất.
- Tái tục bảo hiểm.
2.1.2. Khâu đề phòng hạn chế tổn thất: gồm 3 khâu chuyên môn:
a. Khảo sát điều tra thực tế: Đây là việc DNBH điều tra các thông tin có
lien quan để có thể đưa ra các đề xuất giúp khách hàng kiểm soát rủi ro có
khả năng xảy ra.

6


b. Phân tích và tư vấn cho khách hàng: Từ những thông tin ở khâu điều tra,


7


+ Trong trường hợp khiếu nại về thương tật thân thể, người được bảo hiểm
cần phải có những biện pháp khẩn cấp như đưa người bị nạn đến ngay bệnh
viện, tổ chức cấp cứu chữa trị…
- Hướng dẫn khách hàng thu thập đầy đủ chứng từ cần thiết để khiếu nại
bồi thường và tiến hành vào sổ theo dõi.
b. Khâu giải quyết bồi thường.
- Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại bồi thường.
- Kiểm tra hoàn thiện hồ sơ.
+ Tham chiếu quy tắc/ Hợp đồng bảo hiểm kiểm tra lại hồ sơ khiếu nại.
+ Trường hợp chưa đầy đủ tài liệu, cán bộ yêu cầu khách hàng cung cấp
thêm theo đúng quy tắc bảo hiểm hiện hành.
- Tính bồi thường.
+ Nghiên cứu kỹ chế độ bảo hiểm để tính toán đầy đủ và chính xác số tiền
bồi thường.
+
Xem xét kiểm tra các phương án khắc phục hậu quả.
- Trình duyệt.
+ Khối nghiệp vụ trình lãnh đạo duyệt bồi thường.
+ Nội dung của tờ trình duyệt bồi thường bao gồm: Tên người được bảo
hiểm, đối tượng được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm…
+ Hồ sơ được chuyển lấy ý kiến các cơ quan có lien quan, thống nhất ý
kiến.
+ Hồ sơ được duyệt: làm công văn gửi khách hàng và vào sổ.
(*) Trường hợp hồ sơ trên phân cấp: Đối với thiệt hại trên phân cấp thì vẫn
tiến hành giải quyết theo tuần tự bình thường. Khi hoàn thiện hồ sơ gửi về
công ty kèo theo phương án đề xuất giải quyết.

Trên cơ sở phân loại bảo hiểm thì hệ thống chỉ tiêu thống kê bảo hiểm
cũng được chia ra làm các nhóm với nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác
định khác nhau: nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm con người; nhóm chỉ tiêu
thống kê bảo hiểm tài sản; nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm trách nhiệm;
nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh bảo hiểm. Để làm cơ sở cho việc
phân tích tình hình khai thác đối với một DNBH, trong từng nhóm chúng ta
có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
- Nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm tài sản.
+ Số khách hàng tham gia bảo hiểm tài sản theo từng nhóm nghiệp vụ và
từng loại sản phẩm bảo hiểm.
+ Số đơn bảo hiểm cấp theo từng nhóm nghiệp vụ và từng loại sản phẩm
bảo hiểm.
+ Tổng số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm theo từng nhóm nghiệp vụ và
từng loại sản phẩm bảo hiểm.
+ Doanh thu phí vảo hiểm đối với từng nhóm nghiệp vụ.

9


+ Năng suất khai thác:
Tổng số tiền bảo hiểm khai thác được trong kỳ
Năng suất khai thác =
Số lao động bình quân trong kỳ
- Nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm TNDS.
+ Tổng số xe cơ giới, số máy bay, tàu thuyền, số chủ sử dụng lao động
tham gia bảo hiểm TNDS trong kỳ.
+ Tỷ lệ số xe cơ giới, số máy bay, tàu thuyền, chủ sử dụng lao động tham
gia bảo hiểm trên tổng số tham gia của địa phương hay cả nước.
+ Doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm TNDS.
- Hệ thống chỉ tiêu thống kê bảo hiểm con người phi nhân thọ (chủ yếu là

INK =
• Chỉ số hoàn thành kế hoạch: iKH
IKH =
• Chỉ số thực hiện: iTH
ITH = iNK x iHK = x
Trong đó: yK, y0, y1 tương ứng là mức độ khai thác kỳ kế hoạch, kỳ gốc
và kỳ báo cáo. yK, y0, y1 có thể là số hợp đồng, số giấy chứng nhận bảo hiểm,
số đơn bảo hiểm, doanh thu phí bảo hiểm…
b. Phân tích cơ cấu khai thác.
Mỗi DNBH thường triển khai cùng một lúc nhiều nghiệp vụ, nhiều loại
sản phẩm khác nhau. Cần phân tích cơ cấu khai thác nhằm đánh giá kết quả
theo từng nghiệp vụ, từng khu vực, từng nhóm khách hàng trong kết quả
khai thác chung của doanh nghiệp.
Đối với DNBH phi nhân thọ, phân tích cơ cấu khai thác chủ yếu được
thực hiện với các chỉ tiêu: tổng số hợp đồng bảo hiểm và doanh thu phí bảo
hiểm.
Theo các xu hướng chung thì nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu thường chiếm
tỷ trọng cao trong tổng doanh thu. Những nghiệp vụ bảo hiểm mới triển khai
thường có tỷ trọng doanh thu thấp. Nhưng khi phân tích cần quan tâm đến
lợi nhuận mà doanh nghiệp hay nghiệp vụ bảo hiểm đó mang lại. Phải tiến
hành tính toán so sánh trong nhiều năm để có thể nhận biết được xu hướng
biến động của các nghiệp vụ trong thời gian tới.
c. Phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác.
Một số nghiệp vụ bảo hiểm có kết quả khai thác biến động rất lớn giữa
các khoảng thời gian trong kỳ nghiên cứu, tức là có phát sinh tính thời vụ
như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm vật chất tàu
biển - sông, bảo hiểm kết hợp học sinh…
Phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác có thể dùng chỉ số thời vụ:
11


- Điện thoại: (848) 8228499
- Webside: www.aaa.com.vn
- Lĩnh vực hoạt động: bảo hiểm phi nhân thọ.

12


Vào thời điểm thành lập, vốn điều lệ của công ty là 80 tỷ đồng. Đến nay
vốn điều lệ đã tăng lên 1500 tỷ đồng.
1.2.
Cơ cấu tổ chức và hệ thống chi nhánh.
1.2.1. Cơ cấu tổ chức.
Bảo hiểm AAA là một công ty cổ phần nên mô hình tổ chức gắn liền với
các cổ đông, Hội đồng quản trị… Để phù hợp với điều kiện của công ty, việc
bố trí tổ chức bộ máy điều hành đã có sự kết hợp các mô hình tổ chức.
• Mô hình trực tuyến chức năng: Mô hình này cho phép người lãnh đạo có
toàn quyền xử lý, chỉ đạo và phát huy chức năng của các phòng ban trực
thuộc (Phòng công nghệ thông tin, phòng hành chính, kinh doanh, tài chính,
kỹ thuật).
• Mô hình tổ chức theo lãnh thổ: Tức là có sự kết hợp, chỉ đạo hoạt động
của lãnh đạo cấp, đến các vùng, các chi nhánh đặt tại các khu vực địa lý,
vùng, chi nhánh trên toàn quốc.
1.2.2. Hệ thống chi nhánh.
Năm 2005, khi mới thành lập công ty có trụ sở đặt tại thành phố Hồ Chí
Minh, 1 sở giao dịch ở miền Bắc và 10 chi nhánh. Năm 2006. công ty đã xây
dựng được mạng lưới kinh doanh gồm 33 văn phòng, chi nhánh và trung tâm
giao dịch với hơn 400 nhân viên. Năm 2007, công ty đã thành lập thêm 4 cơ
sở giao dịch và 22 chi nhánh với hơn 10000 đại lý. Năm 2009, số chi nhánh
của công ty là 93 chi nhánh với 650 nhân viên.
Các chi nhánh và văn phòng giao dịch sẽ là đơn vị trực tiếp kinh doanh,

• Bảo hiểm mọi rủi ro văn phòng và nhà ở.
• Bảo hiểm hỏa hoạn tư nhân.
+ Bảo hiểm kĩ thuật.
• Bảo hiểm thiết bị điện tử.
• Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt.
• Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng.
• Bảo hiểm đổ vỡ máy móc.
• Bảo hiểm công trình hoàn thành.
+ Bảo hiểm tàu.
• Bảo hiểm thân tàu, TNDS chủ tàu cá.
• Bảo hiểm thân tàu, TNDS chủ tàu sông.
• Bảo hiểm thân tàu, TNDS chủ tàu biển, P&I.
+ Bảo hiểm trách nhiệm.
• Bảo hiểm trách nhiệm chung.
• Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm.
• Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
14


• Bảo hiểm trách nhiệm của chủ đối với người lao động.
+ Bảo hiểm tín dụng.
Các loại hình bảo hiểm tín dụng ngân hàng:
+ Bảo hiểm con người: Các loại hình bảo hiểm:
• Du lịch.
• Tai nạn, sức khỏe, kết hợp.
+ Bảo hiểm xe cơ giới: các sản phẩm bảo hiểm thiệt hại vật chất xe, TNDS
và bảo hiểm hành khách.
- Kinh doanh tái bảo hiểm: nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả các
nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ.
- Tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật. Đầu tư tài chính

thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công
ty. Từ đó tóm tắt được các thông tin cơ bản, cần thiết cho việc hình thành
chiến lược.
II.1.1.Đặc điểm thuận lợi.
• Khách quan:
Kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, thu nhập đầu người tăng lên. Do đó đảm
bảo được cho những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống và có điều kiện quan
tâm đến các nhu cầu khác, trong đó có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho
cuộc sống, nhu cầu được bảo vệ và quản lý thu nhập cá nhân ngày càng cao.
Trình độ dân trí tăng, kéo theo đó là ý thức về bảo hiểm trong dân cư
cũng tăng. Thêm vào đó, những sự kiện nổi bật xảy ra gần đây như các thảm
họa thiên nhiên, sập cầu, sập mỏ khai thác, cháy rừng… liên tiếp xảy ra đã
giúp nâng cao nhận thức của công chúng về tầm quan trọng của việc mua
bảo hiểm nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro gây ra.
Số lượng các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tăng, trong đó tập quán
mua bảo hiểm để an toàn trong sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nước
ngoài sẽ lan rộng trong các khối tổ chức kinh tế - xã hội. Theo nhận định, thị
trường BHNT Việt Nam còn nhiều tiềm năng, hiện mới khai thác khoảng
45% và theo thống kê trung bình mỗi người dân Việt Nam mới chỉ mua
khoảng 10USD/năm phí bảo hiểm, như vậy còn nhiều cơ hội để các DNBH
tăng trưởng phí bảo hiểm.
Sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin sẽ tạo
ra nhiều công cụ và giải pháp hữu ích, cho phép các DNBH có thể nắm bắt
và ứng dụng vào hoạt động kinh doanh của mình nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý, hạ thấp chi phí, mở rộng và đa dạng hóa các kênh phân phối.
• Chủ quan: Bản thân công ty bảo hiểm AAA có những điểm mạnh trong
hoạt động kinh doanh như:

16


• Khách quan:
Do ảnh hưởng từ các cam kết WTO và chính sách thu hút đầu tư đã làm
xuất hiện thêm nhiều đối thủ cạnh tranh; sự gia tăng nhiều DNBH với năng
lực tài chính sẵn có, có kinh nghiệm… sẽ đặt ra một số vấn đề như việc chia

17


sẻ thị phần cạnh tranh không lành mạnh, hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh để
kiểm soát hoạt động đa dạng của các doanh nghiệp này.
Trình độ dân trí tăng cao cùng với việc số lượng DNBH tăng lên nên sự
lựa chọn cho mình một DNBH để tham gia ngày càng khắt khe hơn. Trong
khi đó thương hiệu bảo hiểm AAA lại chưa thực sự hấp dẫn. Đánh giá của
các doanh nghiệp sản xuất về chất lượng phục vụ của các CTBH cho thấy:
chỉ có 16,4% cho rằng chất lượng phục vụ của các CTBH là rất tốt, 81,1%
cho rằng đạt yêu cầu, 2,5% không đạt yêu cầu. Như vậy yêu cầu đặt ra cho
bảo hiểm AAA trong phạm việc nghiên cứu những điều các doanh nghiệp
khác chưa làm được để có thể làm được và làm tốt hơn, nâng cao chất lượng
để thu hút được lượng khách hàng.
Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh vẫn chưa chấm dứt gây khó khăn
cho công ty trong việc nhận bảo hiểm. Các biện pháp cạnh tranh nổi bật mà
các DNBH tại Việt Nam thường sử dụng: giảm phí bảo hiểm, tăng hoa hồng,
tăng mức bồi thường, quảng cáo tiếp thị hay thông qua các biện pháp đề
phòng hạn chế tổn thất quản lý rủi ro. Đặc biệt hơn cả là vấn đề cạnh tranh
về mức phí bảo hiểm. Nếu so với Bảo Việt, Bảo Minh thì tiềm lực về tài
chính của bảo hiểm AAA là yếu hơn nên nếu thực hiện hạ phí để giữ chân
hay lôi kéo khách hàng sẽ ảnh hưởng đến an toàn tài chính của công ty. Còn
nếu không thực hiện hạ phí sẽ không thu hút và giữ được khách hàng.
• Chủ quan:
Ra đời và hoạt động muộn hơn trong khi tình hình thị trường đã mở cửa

(Nguồn: Bảo hiểm AAA)
• Đóng góp vào kết quả chung của toàn công ty có một số đơn vị điển hình
đã đạt kết quả vượt mức cao so với kế hoạch: Chi nhánh Nghệ An đạt 170%
kế hoạch năm, CN Đồng Nai: 161%, CN Bắc Ninh: 136%, CN Bà Rịa –
Vũng Tàu: 123%, CN Lâm Đồng: 114%, CN An Giang: 112%, CN Bình
Định: 111%, CN Miền Trung: 109%, CN Hải Phòng: 108% và Chi nhánh
Đồng Tháp đạt 105% kế hoạch năm.

19


Qua 5 năm hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp đã có được
những kết quả như sau:
Sơ đồ: Cơ cấu doanh thu theo nhóm nghiệp vụ 2009

(Nguồn: Chi nhánh bảo hiểm AAA Hà Nội)
Qua sơ đồ trên cho thấy ngiệp vụ xe cơ giới có tỷ trọng doanh thu phí cao
nhất 70,54%, tiếp theo là BH tài sản – thiệt hại 13,6%, BH kỹ thuật 7,46%,
còn lại là nhớm các nghiệp vụ có tỷ trọng doanh thu thấp.
• Trong thời gian hoạt động, công ty luôn có sự cải tiến, gia tăng tiện ích
cho các sản phẩm bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng và khó tính của
thị trướng bảo hiểm. Sản phẩm mới đưa ra có thể làm tăng doanh thu, tạo ấn
tượng tốt đẹp nhưng cũng có thể không thực sự hấp dẫn đối với khách hàng.
Thiết kế và hoàn thiện được một sản phẩm thất sự hiệu quả là rất khó khăn,
do đó cần có chính sách cụ thể, rõ ràng.
• Với việc tích cực khai thác mối quan hệ với các cổ đông là ngân hàng
AAA cũng thu hút được sự tin tưởng tham gia của nhiều chủ đầu tư khác.
Ký được nhiều hợp đồng có giá trị lớn đem lại nguồn thu đáng kể cho công
ty trong thời gian hoạt động vừa qua:
Bảng: Một số hợp đồng đã được thực hiện.

- Dự án xây dựng đường
cao tốc Trung Lương
- Dự án khu trung tâm
thương mại
- Bảo hiểm nhà cửa, máy
móc, thiết bị, hàng hóa
- Bảo hiểm nhà xưởng,
máy móc, hàng hóa
Bảo
hiểm
tài
sản

198,000,000,000
610,000,000,000
143,000,000,000
93,000,000,000
115,106,000,000
29,000,000,000

- Bảo hiểm rủi ro tài sản
văn phòng, thiết bị

63,306,105,000

- Bảo hiểm tiền

600,000,000,000

- Bảo hiểm mọi rủi ro tài

Việt Long
Công ty cổ phần
văn hóa Tân
Bình
Ngân hàng
thương mại Việt
Á
Bệnh viện Chỡ
Rẫy
Các trường Quận
6 và Quận 9
Công ty vận tải
biển Sài Gòn


- Bảo hiểm du lịch trong
và ngoài nước

Công ty TNHH
du lịch Tre Việt
(Nguồn: Bảo hiểm AAA)

• Về hoạt động của hệ thống phân phối.
Mạng lưới của bảo hiểm AAA gồm 1 trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí
Minh, 6 sở giao dịch, 93 chi nhánh và trên 10000 đại lý hoạt động rộng khắp
các vùng miền trên toàn quốc. Công ty bảo hiểm AAA thường sử dụng 2
loại kênh phân phối chính:
- Kênh phân phối trực tiếp: bán hàng trực tiếp thông qua các hình thức: bán
tại văn phòng công ty, tại sở giao dịch hay các chi nhánh…
- Kênh phân phối gián tiếp: công ty thông qua hệ thống đại lý (đại lý, cộng

tiến hành sát nhập các văn phòng đại diện. Doanh thu của một số nghiệp vụ
rất thấp, đạt tỷ lệ nhỏ so với kế hoạch.
- Có sự phân hóa mạnh về doanh thi giữa các nhóm nghiệp vụ chính và
nhóm các nghiệp vụ còn lại.
Căn cứ vào kết quả đạt được, thực tế chi bồi thường, năng lực và tiềm
năng của công ty có thể xác định một số khó khăn và nhận định về phương
hướng cho công tác khai thác các nhóm nghiệp vụ tại AAA như sau:
- Tập trung khai thác mạnh mẽ nhóm các nghiệp vụ chính, đông thời có
biện pháp kiểm soát để tỷ lệ bồi thường không vị đẩy lên cao, tránh trục lợi.
- Thận trọng hơn trong khi khai thác nghiệp vụ bảo hiểm tàu vì đây là
nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thường cao trong nhiều năm nay và công tác quản lý
rủi ro khó khăn.
- Nên tập trung vào bảo hiểm du lịch toàn cầu đồng thời mạnh dạn đưa ra
những sản phẩm bảo hiểm mới quan tâm đến quyền lợi khách hàng.
- Tập trung khai thác nhóm bảo hiểm hàng hóa vì đây là nhóm có nhiều cơ
hội tăng trưởng doanh thu, phí bảo hiểm khá cao và tỷ lệ bồi thường thấp.
- Chú ý đến công tác quản trị rủi ro nhằm phòng tránh các rủi ro mang tính
thảm họa.
- Cần có chiến lược về nhân lực do lượng đại lý khai thác chuyên nghiệp
còn ít và khó phát triển.
- Liên kết, hợp tác với nhiều ngân hàng để tăng thêm hiệu quả khai thác và
thị trường.
III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KHAI
THÁC TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM AAA.
1. Định hướng.

23


1.1. Định hướng chung.

350 tỷ đồng. Để đạt được mục tiêu như thế công ty đã có những định hướng
khá cụ thể trong các hoạt động:

24


- Đẩy mạnh các chương trình khai thác trên thị trường mà trước hết là tập
trung khai thác ở lượng khách hàng của cổ đông sang lập. Sử dụng hệ thống
của ngân hàng làm hệ thống phân phối và chi trả bồi thường cho khách hàng.
Ngoài ra công ty còn tập trung khai thác tốt mối quan hệ giữa nhà bảo hiểm
và chủ đầu tư.
- Nghiên cứu kỹ lưỡng để thiết lập các văn phòng chi nhánh tại các địa
phương giàu tiềm năng, không bỏ lỡ bất cứ thị trường nào.
- Khai thác các nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc vì là loại hình có khả năng
tăng trưởng khá ổn định.
- Bảo hiểm AAA đề ra nhiệm vụ là nhanh chóng giành thế mạnh và phát
triển ở một số nhóm nghiệp vụ bảo hiểm như: bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm
cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm. Do công ty xác định được những điều kiện
thuận lợi từ phía công ty và thị trường.
- Với bảo hiểm AAA trong khâu khai thác ngoài việc giới thiệu những sản
phẩm tốt, mức phí phù hợp với khách hàng, công ty còn xác định tập trung
vào các vấn đề nhu cầu, dịch vụ bảo hiểm và xử lý các phản ứng của khách
hàng.
- Trong thời gian tới công ty sẽ chú ý nhiều hơn đến các sản phẩm bảo
hiểm chăm sóc sức khỏe và các sản phẩm phục vụ phát triển nông thông.
2. Ý kiến đề xuất.
Trong thời kì cạnh tranh gay gắt thì việc cải thiện vị trí cạnh tranh trên thị
trường là việc cực kỳ quan trọng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Tìm
ra được chiến lược kinh doanh đúng đắn thì hoạt động của công ty sẽ ổn
định, sinh lời và phát triển được. Dựa trên quá trình tìm hiểu, phân tích, nắm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status