Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
PHẦN I: GIỚI THIỆU
I. Đặt Vấn Đề:
- Trong những năm vừa qua, nông nghiệp Việt Nam đã có những biến đổi rõ rệt, nhất là
về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và ứng dụng khoa học công nghệ, tạo ra một
bước ngoặt trong nông nghiệp với tốc tăng trưởng khá cao. Các sản phẩm trong nông
nghiệp đã ngày một đa dang hơn, phong phú hơn cả về chủng loại, mẫu mã và ngày một
hoàn thiện hơn về chất lượng.
- Hàng hóa nông sản đóng vai trò quyết định trong chiến lược tăng tốc nền kinh tế của
cả nước nói chung và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng. Tuy
nhiên, thời gian qua ĐBSCL chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh vốn có của hàng
hóa nông sản. Nông dân luôn trong tình trạng được mùa lại rớt giá mức thu nhập bình
quân đầu người còn thấp.
II. Mục Tiêu Nghiên Cứu:
- Thông qua nghiên cứu thực trạng sản xuất cũng như tiêu thụ hàng nông sản của vùng
ĐBSCL nhằm tìm kiếm những biện pháp giúp nâng cao chất lượng hàng nông sản. Giúp
cho nông sản ở Đồng bằng sông cửu long có đầu ra ổn định, đời sống của nông dân ngày
càng được nâng cao.
III. Câu Hỏi Nghiên Cứu:
- Thực trạng sản xuất tiêu thụ hàng hóa nông sản vùng ĐBSCL như thế nào?
- Giải pháp nâng cao chất lượng hành hóa nông sản vùng ĐBSCL gồm những giải pháp
gì?
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các khái niệm lý thuyết sản xuất nông sản thông qua các tài liệu
tham khảo.
- Quan sát thực tế thu nhập và phân tích số liệu từ một số trang web
V. Cấu Trúc Của Bài Viết:
PHẦN I: GIỚI THIỆU
I. Đặt Vấn Đề:
- Về nguồn nước : ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mê Kông và nước mưa. Lượng nước
bình quân của sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL hơn 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng
150 – 200 triệu tấn phù sa. Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi
bổ lâu dài đã tạo nên Đồng bằng ngày nay.
2. Điều kiện kinh tế và xã hội:
2.1 Xã hội:
2
Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
- Dân số vùng ĐBSCL khoảng 21,1 triệu người vào năm 2010, trong đó khoảng trên
12 triệu người trong độ tuổi lao động. Dân số nông thôn chiếm 2/3 dân cư vùng khoảng
13,7 triệu người.
-
Dân tộc chủ yếu: Kinh, Khơme, Hoa, Chăm…
Trình độ dân trí còn thấp.
2.2 Kinh tế:
- Cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL mang tính thuần nông, tốc độ tăng trưởng của vùng
ĐBSCL đạt trên 8%/năm.
- ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, nông nghiệp vùng đồng bằng
ĐBSCL đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế trong cùng, đồng
thời gốp phần ổn định nền kinh tế chung của cả nước.
- Cây lượng thực giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Sản lượng lương thực là 4,6 triệu tấn
năm 1976 lên 15,1 triệu tấn năm 1996 (số liệu từ các Sở NN &PTNT), từ chỗ sản xuất
không đủ ăn trong vùng, tiến đến đủ ăn và còn chi viện cho các vùng khác xuất khẩu,
đồng thời đảm bảo an toàn lương thực quốc gia.
tăng tương ứng, nông dân trồng lúa không giàu lên được. Tính toán kỹ khi trồng lúa
người nông dân chịu chi phí khá cao:Thuốc trừ sâu, phân bón, xăng dầu, gián bán bị
thương lái ép giá…nhiều hộ huề vốn hoặc có lời cũng rất ít.
1.2. Rau màu:,
- ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ 2, chiếm khoàng 20% diện tích trồng rau của cả
nước. Hàng ngày, toàn vùng ĐBSCL tiêu thụ bình quân gần 3.000 tấn rau, màu các loại.
Việc sản xuất rau thường tập trung ở 2 khu vực:
+ Vùng rau chuyên canh: tập trung ở thành phố và khu công nghiệp, sản phẩm chủ yếu
cung cấp cho dân phi nông nghiệp, vì vậy đòi hỏi phong phú chủng loại và mức độan
toàn sản phẩm cao. Hệ số sử dụng đất cao (4-8 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân
khá cao, nhưng vẫn còn sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học.
+ Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích và sản lượng lớn, cây rau được trồng luân
canh với cây lúa, phát triển tốt trên nhóm đất khá phèn có khuynh hướng ổn định. Hệ số
sử dụng đất thấp (2-4 vụ/năm). Chính vì thế ĐBSCL dễ dàng thực hiện qui hoạch chuyển
đổi trồng rau màu trên đất lúa, có tiềm năng lớn trong việc mở rộng diện tích rau thành
vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu.
- Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệcao nhưsản xuất trong nhà lưới chống
côn trùng, mái lưới che không cố định đểhạn chếtác hại của các yếu tốthời tiết bất lợi,
trồng rau không cần đất (kỹthuật thuỷ canh)… cũng được áp dụng.
4
Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
1.3. Cây ăn trái:
- Vùng ĐBSCL có diện tích cây ăn quả 262.100 ha, sản lượng đạt 2,93 triệu tấn, chiếm
35,1% về diện tích. Tuy nhiên tỷ lệ xuất khẩu rau quả tươi của Việt Nam còn thấp,
nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả chủ yếu là các công ty vừa
và nhỏ, còn khó khăn trong việc đầu tư xây dựng thương hiệu, một phần cũng do năng
tỉnh phối hợp với các ngành liên quan tháo gỡ khó khăn liên quan đến rào cản thương mại
nhiều nước, cung cấp cho doanh nghiệp chế biến và người nuôi thêm nhiều thông tin về
5
Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Các biện pháp tích cực nói
trên đã góp phần thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản tăng cả về số lượng và giá trị.
2. Những khó khăn:
- Yếu tố thời tiết đóng vai trò rất lớn đối với sản lượng và chất lượng nông sản. Nông
nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố thời tiết. Hiện nay sự biến đổi thời
tiết do hiện tượng nóng lên toàn cầu đang ngày một biểu hiện rõ và ảnh hưởng không nhỏ
đến sản xuất nông nghiệp. Cụ thể là ở đồng bằng sông Cửu Long, khi mực nước biển
tăng lên thì tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền ngày càng tăng, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc trồng lúa.
- Phần lớn các loại giống cây con hiện đang được nông dân sử dụng có năng suất và chất
lượng thấp, chưa hình thành được một hệ thống cung ứng giống cây con tốt cho người
sản xuất. Hầu hết người nông dân đã tự sản xuất giống cây con cho mình hoặc mua giống
trên thị trường trôi nổi mà không có sự đảm bảo về chất lượng.
- Nông sản mua rẻ, bán đắt và phân phối nông sản có quá nhiều trung gian. Có thể thấy,
chuỗi tiêu thụ nông sản hiện nay tồn tại quá nhiều nghịch lý. Nông dân phải bán với giá
rẻ, còn người tiêu dùng lại mua với giá cao hơn gấp 2 – 3 lần. Nguyên nhân là do việc
phân phối nông sản phải qua nhiều khâu trung gian.
- Năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sản chưa đáp ứng
được yêu cầu trong điều kiện tự do hóa thương mại, đặc biệt là khâu marketing, dự tính
dự báo thị trường. Mối liên kết kinh tế giữa các khâu sản xuất - chế biến - xuất khẩu, giữa
khâu cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, giữa khâu kỹ thuật với khâu
kinh tế... chưa thiết lập được một cách vững chắc để đảm bảo sự ổn định về số lượng và
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1. Quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất nông sản:
Nền nông nghiệp nước ta vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, nông dân sản xuất theo tập
quán lạc hậu nên nông sản làm ra không có số lượng lớn, không đồng đều về giống, mẫu
mã, chất lượng, dẫn đến giá thành cao và giảm khả năng cạnh tranh.
Cần xây dựng những vùng sản xuất tập trung phù hợp với tiềm năng và lợi thế
về khí hậu, đất đai...Không để nông dân sản xuất một cách tự phát theo phong trào, hình
thành những vùng sản xuất theo quy hoạch chung.
Thời gian qua, một số hợp tác xã (HTX) sản xuất, tiêu thụ trái cây đã xây dựng
vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản. Thế nhưng đến nay, nhìn chung các HTX vẫn đang
loay hoay tìm đầu ra cho sản phẩm. Điển hình nhất là HTX Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim .
Từ lâu, thương hiệu Vú sữa Lò Rèn được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước biết
đến. Năm 2008, gần bảy ha vú sữa Lò Rèn trong HTX được chứng nhận Global GAP
(chứng nhận quy trình sản xuất an toàn toàn cầu), năm 2010 đã mở rộng đạt diện tích lên
50 ha.
2. Xây dựng hệ thống thủy lợi:
Tăng cường công tác quản lý, khai thác các công trình thuỷ lợi, đảm bảo tính
hệ thống, đồng bộ. Xây dựng các phương án quy hoạch thuỷ lợi, hỗ trợ việc chống sạt lở
khu vực giáp biên giới với Campuchia và các khu vực sạt lở ven sông Tiền và sông Hậu,
7
Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
bảo đảm an toàn và sử dụng hiệu quả nguồn nước sông Mê Kông trong điều kiện có
những thay đổi bất lợi trên thượng nguồn.
Tiếp tục xây dựng mới các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất phù hợp với
quy hạch các vùng chuyên canh, đồng thời sữa chửa hay loại bỏ những công trình không
biến sâu, đa dạng hoá sản phẩm chế biến. Trước hết cần rà soát lại tất cả các nhà máy chế
biến nông sản hiện có để tiến hành nâng cấp công nghệ mới hiện đại, loại bỏ những nhà
máy quá cũ kỹ, lạc hậu, trên cơ sở lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu. Đồng thời xây
dựng một số nhà máy mới tại vùng nguyên liệu áp dụng đồng bộ công nghệ tiên tiến và
đa dạng hoá các sản phẩm chế biến.
-
Giải pháp thiết thực hiện nay là tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách về công
nghệ sau thu hoạch, nhất là công nghệ làm khô sản phẩm như: lúa, cà phê, lạc, tiêu… ưu
tiên nghiên cứu công nghệ bảo quản nông sản, nhất là rau quả tươi để kéo dài thời gian sử
dụng và tăng giá trị thương phẩm, chú ý khâu bao bì, đóng gói, nhãn mác của hàng nông
sản xuất khẩu. Trên cơ sở nắm bắt các nhu cầu của thị trường, xây dựng các chương trình
dự án cụ thể, cần hỗ trợ đổi mới công nghệ, đáp ứng yêu cầu của thị trường về chất lượng
sản phẩm, nhất là các thị trường mới thuộc các nước phát triển với yêu cầu chất lượng và
tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cao.
-
5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
Làm nông nghiệp không thể đứng yên một chỗ mà cần phải đầu tư nhiều chất xám
hơn để chủ động trước thị trường. ĐBSCL là “vùng trũng” của ngành giáo dục Việt
Nam. 80% lao động nông nghiệp chưa được đào tạo mà chỉ dựa vào kinh nghiệm theo
kiểu “cha truyền con nối.
- Cập nhật, phổ biến kiến thức về thị trường thông qua nhiều hình thức khác nhau để
người nông dân nắm bắt thông tin kịp thời, tìm đầu ra cho sản phẩm của họ và giúp đỡ
nông dân đa dạng hóa sản phẩm hơn nữa để đáp ứng nhu cầu thị trường. Mở các lớp đào
tạo ngắn và dài hạn tại địa phương về các kỹ thuật bảo quản, chế biến, đóng gói…
- Thường xuyên bổ sung và có chính sách sử dụng hiệu quả cán bộ của cơ quan,
Trong đó ngắn hạn là hỗ trợ tức thì về lãi suất, về giá sàn, cung ứng vốn thu mua… Còn
về dài hạn, phải nâng cao năng lực dự báo thị trường, phát triển công nghiệp chế biến, từ
đó có chiến lược hoạch định lâu dài cho tiêu thụ nông sản.
- Để giải quyết tình trạng bị động về thị trường xuất khẩu, làm chủ giá nông sản, cách
tốt nhất là dự trữ, canh giá lên. Để làm được điều này, chính phủ phải tham gia điều tiết
giá nông sản. Nếu giá trên thị trường thế giới quá thấp thì cho doanh nghiệp vay vốn để
dự trữ, không xuất đi. Về phía nông dân cũng phải biết điều tiết chứ không thể tái diễn
cảnh trúng giá vỗ tay, rớt giá thì kêu la.
9.Xây dựng thương hiệu nông sản:
- Nhà nước cần có một kế hoạch dài hạn về việc xây dựng thương hiệu mặt hàng nông
sản, dĩ nhiên chiến lược này phải là một bộ phận hợp thành quan trọng trong chiến lược
tổng thể của Nhà nước đối với việc xây dựng thương hiệu cho hàng hóa Việt Nam.
10
Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
- Hiện nay một số thương hiệu nông sản của ta như cà phê Trung Nguyên, gạo nàng
thơm Chợ Đào, bưởi Năm Roi, xoài cát Hòa Lộc, vải thiều Lục Ngạn... rất có uy tín và
được tiêu thụ mạnh trên thị trường khu vực và thế giới. Những điển hình tiên tiến này cần
được nhân rộng lên một cấp độ mới. Muốn làm được như vậy cần phải có sự quảng bá,
tuyên truyền giới thiệu mạnh mẽ các mặt hàng nông sản Việt Nam trên các phương tiện
thông tin đại chúng, đặc biệt là xây dựng trang WEB về thương hiệu nông sản Việt Nam.
- Thiết tưởng các cơ quan tài chính ngân hàng nên có một cơ chế tài chính đặc thù ưu
tiên cho việc quảng bá và xây dựng thương hiệu đối với các mặt hàng nông sản, vì hầu
hết các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn.
PHẦN III: KẾT LUẬN
Gạo xuất khẩu của ĐBSCL chủ yếu là gạo 15 - 25% tấm, gạo 5% tấm không nhiều.
Trái cây chất lượng cao xuất vào thị trường khó tính như châu Âu gần như bằng không,
chỉ một lượng nhỏ được xuất sang một số nước châu Á nhưng cũng chưa cạnh tranh nổi
Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
điều kiện sản xuất để có nhiều sản phẩm tinh chế hơn; quản lý chất lượng hiệu quả hơn
để uy tín thương hiệu nông thủy sản Việt Nam được bền vững. Sản xuất nông thủy sản
vùng ĐBSCL nói chung được điều chỉnh lại, cơ cấu sản xuất phải gắn chặt với chế biến,
bảo quản và vận chuyển bằng kỹ thuật, công nghệ cao; gắn chặt hơn nữa vùng nguyên
liệu với thị trường, gắn liên kết và hợp tác giữa ĐBSCL với trong và ngoài vùng, với
quốc tế; tạo điều kiện tốt hơn để kinh tế hộ chuyển nhanh sang kinh tế trang trại, gắn
với các hình thức hợp tác và hệ thống các kênh thương mại, dịch vụ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS MAI THỊ THU CÚC – TS QUYỀN ĐÌNH HÀ , 2005. Giáo Trình Phát
Triển Nông Thôn ,Đại học Nông Nghiệp Hà Nội.
2. C. Peter Timmer – David Dawe, 2007, Quản Lý Bình ổn Giá Lương Thực ở
Châu Á: Nhìn Từ Góc Độ An Ninh Lương Thực Vĩ Mô.
3. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘIVIỆT NAM MƯỜI NĂM 2001 – 2010, Nhà
xuất bản Tổng Cục Thống Kê.
4. Trang Web tổng Cục Thống Kê:
5. ThS. Nguyễn Trúc Vân. Khả năng cạnh tranh của rau an toàn Đồng Bằng Sông
Cửu Long trên địa bàn Tphcm.
6. Michael Dower, PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TOÀN DIỆN,Nhà xuất bản nông
nghiệp.
12
Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hàng Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Mục Lục