ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
SỞ BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG
––––––––––––––––––––––
BÁO CÁO
TỔNG KẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ QUẢN LÝ MẠNG
NGOẠI VI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH, THÀNH PHỐ”
Cơ quan quản lý: Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Bưu chính, Viễn thông
Cơ quan chủ trì: Sở Bưu chính, Viễn thông Thanh Hoá
Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Đỗ Thanh
Chức vụ: Giám đốc
Thanh Hóa, 03-2007
1
DANH SÁCH TỔ CHỨC CÁ NHÂN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
TT
A
Họ và Tên
Cơ quan công
tác
Nội dung tham gia
4
Nguyễn Anh Tuấn
Sở BC-VT
5
Lê Văn Huyên
Sở BC-VT
6
Đỗ Thị Diệp
Sở BC-VT
Thư ký
2
TÓM TẮT
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
1. Tên đề tài:
Nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý mạng ngoại vi trên địa bàn tỉnh, thành phố.
2. Mã số: 105-06-KHKT-RD
3. Chủ nhiệm đề tài:
Thạc sĩ Đỗ Thanh; Giám đốc Sở Bưu chính, Viễn thông Thanh Hoá.
- Tìm hiểu cách quản lý của các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về quá
trình xây dựng, quản lý, bảo dưỡng, khai thác mạng ngoại vi trên địa bàn tỉnh,
thành phố Thanh Hóa, một số thị xã và huyện.
- Nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài ngành về xu hướng phát triển của mạng
ngoại vi trên địa bàn tỉnh, thành phố.
- Tham khao tài liệu về kinh nghiệm của một số nước về quản lý mạng ngoại vi.
- Trên cơ sở thực tế tại Thanh Hóa, nghiên cứu một số phương án và lựa chọn, đề
xuất cơ chế quản lý mạng ngoại vi trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Nội dung Đề tài đã xây dựng một số quy định về quản lý mạng ngoại vi viễn
thông áp dụng cho các tỉnh, thành phố. Làm cơ sở cho các cơ quan quản lý nhà nước
thực hiện công tác quản lý và các doanh nghiệp thực hiện việc xây dựng mới, mở
rộng mạng, bảo dưỡng và khai thác mạng ngoại vi viễn thông trên địa bàn tỉnh. Một
số vấn đề liên quan đến sử dụng chung cơ sở hạ tầng mạng ngoại vi của các doanh
nghiệp viễn thông trên cùng một địa bàn cũng được đề cập đến. Tuy nhiên đây là một
vấn đề lớn có tính toàn quốc, vì vậy cần có thời gian, công sức và sự phối hợp rộng
hơn để có thể hoàn chỉnh các quy định cho nội dung này.
4
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...........................................................................................................6
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI......................................................8
Chương I................................................................................................................8
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI..........................8
I. Tình hình nghiên cứu trong nước.................................................................10
II. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:..........................................10
Chương II.............................................................................................................12
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN, CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU....................................................................................................12
5
LỜI NÓI ĐẦU
Mạng ngoại vi là một trong những thành phần chính cấu thành mạng viễn
thông; mạng ngoại vi chủ yếu nằm bên ngoài trạm viễn thông, do vậy việc phát
triển, bảo dưỡng và khai thác mạng phụ thuộc nhiều bởi tác động của các yếu tố
bên ngoài như điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện khí hậu, địa lý, môi trường, khoa
học kỹ thuật, các hạ tầng khác (điện, nước, giao thông..) và cơ chế chính sách của
địa phương.
Trong những năm qua, các cơ quan quản lý nhà nước đã xây dựng các quy
định, các tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn kỹ thuật; các doanh nghiệp cũng đã có các
quy định riêng áp dụng trong xây dựng, phát triển, khai thác và vận hành bảo
dưỡng mạng ngoại vi; các quy định, tiêu chuẩn được xây dựng đã được áp dụng
tích cực, góp phần quan trọng trong phát triển mạng ngoại vi phục vụ tốt các nhu
cầu sử dụng dịch vụ viễn thông, internet trên địa bàn các tỉnh, thành phố.
Với nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng các loại hình
dịch vụ viễn thông, Internet, tổ chức mạng riêng … ngày càng lớn và đa dạng; các
tổ chức, doanh nghiệp xây dựng, khai thác mạng ngoại vi ngày càng nhiều kể cả số
lượng và hình thức hoạt động; do vậy công tác quản lý nhà nước tại địa bàn các
tỉnh, thành phố càng ngày càng phức tạp, cần phải có những quy định thống nhất
để làm cơ sở cho các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho các tổ
chức, doanh nghiệp phát triển nhanh và bền vững mạng ngoại vi trên địa bàn các
tỉnh, thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của xã hội.
Được Bộ Bưu chính, Viễn thông tín nhiệm giao nhiệm vụ xây dựng đề tài
“Nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý mạng ngoại vi trên địa bàn tỉnh, thành phố”.
Đây là một lĩnh vực tuy không mới, nhưng lại đứng trên góc độ của cơ quan quản
lý nhà nước ở địa phương nên có những vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực. Để hoàn thành đề tài, Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự đã
tập trung nghiên cứu và tìm hiểu thực tiễn các hoạt động của các tổ chức, doanh
Trong những năm qua, các doanh nghiệp cũng đã tập trung đầu tư phát triển
mạng góp phần đáp ứng được một phần nhu cầu cơ bản về sử dụng dịch vụ viễn
thông của các cơ quan Đảng, nhà nước và người dân.
Ở các tỉnh, thành phố nói chung và Thanh Hóa nói riêng, mạng ngoại vi của
các doanh nghiệp viễn thông đã được đầu tư xây dựng lớn về dung lượng, rộng
khắp trên các vùng miền. Xét về chủng loại trên mạng đã có cả các loại cáp quang,
cáp đồng, dây thuê bao các loại. Xét về hình thức tổ chức mạng có cả cáp chôn,
cáp cống, cáp treo. Dung lượng cáp ngày càng lớn, đảm bảo nhu cầu phát triển
máy. Công tác quản lý mạng đã được chú trọng, việc ứng dụng CNTT trong công
tác quản lý ở các mức độ khác nhau, ở các đơn vị khác nhau.
Tuy nhiên ngoài những mặt tích cực đã đạt được, mạng ngoại vi còn tồn tại:
- Về phía các doanh nghiệp:
+ Các trạm chuyển mạch còn hạn chế, bán kính phục vụ bình quân của các
điểm chuyển mạch chưa đồng đều đặc biệt là khu vực các huyện thị miền khu vực
đồng bằng trung du và miền núi, cự ly cáp ngoại vi vượt quá tiêu chuẩn cho phép;
trên một tuyến cột dung lượng lắp đặt 300- 400 đôi nhưng sử dụng nhiều sợi cáp
có dụng lượng từ 10x2 đến 50x2 dẫn đến không đảm bảo về chất lượng cơ học, và
chất lượng dịch vụ đặc biệt là hạn chế khả năng ứng dụng các dịch vụ mới như truy
cập Internet băng rộng ADSL.
+ Việc phát triển mạng ngoại vi do các doanh nghiệp thực hiện theo nhu cầu
cần thiết của khách hàng sử dụng dịch vụ, chưa thực hiện được việc dự báo nhu
cầu phát triển thuê báo theo sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội làm cơ sở cho việc
quy hoạch dài hạn cho toàn mạng và kế hoạch cho từng khu vực, do vậy mạng lưới
còn phát triển theo xu hướng tự phát và chắp vá, dẫn đến việc đầu tư không đồng
bộ và hợp lý giữa cáp gốc, cáp trung gian và cáp ngọn.
+ Trong các quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế kỹ thuật các khu dân cư,
khu công nghiệp, cụm công nghiệp của chính quyền địa phương đã có quan tâm
đến việc quy hoạch hạ tầng thông tin liên lạc nhưng mới ở mức độ nhà trạm còn
việc qui hoạch mặt cắt cụ thể cho các công trình ngoại vi như cống bể, hầm cáp,
tuyến cáp chưa được quan tâm …
định về kiểm tra giám sát chất lượng và xử lý các vi phạm trong hoạt động xây
dựng, bảo dưỡng, quản lý mạng ngoại vi.
Do vậy việc có một quy định về quản lý mạng ngoại vi trong đó quy định rõ
nội dung quản lý, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước ở
Trung ương (Bộ Bưu chính, Viễn thông, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông) ở địa
phương (UBND tỉnh, thành phố, các sở Bưu chính, Viễn thông, Xây dựng, Giao
thông vân tải, UBND cấp huyện, cấp xã phường) và của các doanh nghiệp viễn
thông trong xây dựng, quản lý, bảo dưỡng, khai thác mạng ngoại vi. Nhằm tăng
9
cường hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước, sự đầu tư có hiệu quả và an toàn
mạng lưới của các doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng được sử
dụng dịch vụ viễn thông chất lượng cao, đồng thời phục vụ tốt cho chính quyền địa
phương trong việc xây dựng kinh tế- xã hội và đảm bảo an ninh-quốc phòng.
I. Tình hình nghiên cứu trong nước
Để đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai, Bộ Bưu chính Viễn thông đã phối hợp
với Cục Tiêu chuẩn hoá Viễn thông của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) tổ
chức Hội thảo về Mạng ngoại vi cho truy nhập nội hạt và Cuộc họp Nhóm Nghiên
cứu số 6 của ITU. Việc tổ chức Hội thảo và Cuộc họp nhóm Nghiên cứu số 6 lần
này cho phép Việt Nam tham khảo và học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước về quy
hoạch, áp dụng công nghệ, triển khai và xây dựng mạng ngoại vi, chính sách quản
lý mạng ngoại vi trong môi trường cạnh tranh và cung cấp đa dịch vụ, đồng thời hỗ
trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu xây dựng và ban hành các
tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm liên quan đến mạng ngoại vi ở Việt Nam. Việc
phối hợp với ITU tổ chức sự kiện này tại Việt Nam sẽ tạo điều kiện thúc đẩy mối
quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật và phát triển đào tạo trong lĩnh vực
viễn thông giữa Việt Nam với các nước thành viên của ITU, đồng thời đây cũng là
hoạt động góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Bưu điện Việt Nam trên con
Chương II
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN, CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Thực trạng mạng ngoại vi của các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn tỉnh:
+ Tình hình đầu tư phát triển xây dựng mới, mở rộng mạng ngoại vi.
+ Tình hình triển khai các hoạt động quản lý, bảo dưỡng, khai thác.
+ Các vấn đề đang gặp phải trong các 2 công tác trên.
- Tình hình quản lý hiện tại của các cơ quản lý tại địa phương.
+ Hiện trạng, trình tự thủ tục quản lý của cơ quan quản lý xây dựng tại
địa phương (Sở Xây dựng, Viện Quy hoạch Xây dựng).
+ Hiện trạng, trình tự thủ tục quản lý của cơ quan quản lý nhà nước
cấp huyện, xã tại địa phương ( UBND Thành phố Thanh Hóa, Huyện).
+ Những vấn đề Sở Bưu chính, Viễn thông đã tiếp cận trong quá trình
xây dựng quy hoạch bưu chính, viễn thông; thẩm định các công trình xây dựng
chuyên ngành của các doanh nghiệp và sự phân định cũng như mối quan hệ phối
hợp giữa Sở Xây dựng và sở Bưu chính, Viễn thông.
- Một số tài liệu trong nước và nước ngoài:
+ Tài liệu trong nước:
Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý xây dựng
Hệ thống Tiêu chuẩn ngành về mạng ngoại vi
Tài liệu của các đơn vị nghiên cứu trong nước
Chương trình quản lý mạng ngoại vi của VNPT
+ Tài liệu nước ngoài:
Chương trình đào tạo về mạng ngoại vi ( Outside Plant Management
Trainning Course) của New Zealand
Chương trình đào tạo quản lý của Telstra ( Australia)
Các tài liệu Outside Plant Management trên Internet
Từ các nghiên cứu trên xây dựng các đề xuất, làm cơ sở hình thành các quy
định về cơ chế quản lý mạng ngoại vi trên góc độ quản lý nhà nước tại địa phương.
13
Chương III
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Hiện trạng mạng ngoại vi viễn thông tỉnh Thanh Hóa
Mạng ngoại vi là một bộ phận quan trọng của mạng viễn thông; tại Thanh
Hoá mạng ngoại vi viễn thông đã được xây dựng và phát triển tương đối rộng
khắp và phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như mạng công cộng và mạng
chuyên dùng. Trước năm 2004, mạng ngoại vi phục vụ cho việc cung cấp các dịch
vụ viễn thông công cộng chủ yếu do Bưu điện tỉnh Thanh Hoá xây dựng. Trên
mạng ngoại vi chỉ có khoảng 30% các tuyến cáp cống ở khu vực TP, các thị trấn,
thị tứ, còn lại là các tuyến cáp treo trên đường cột bê tông riêng của Bưu điện hoặc
đi chung trên đường cột mạng phân phối điện của điện lực. Mạng cáp quang nội
hạt chưa có, các thiết bị truy nhập chưa được đưa vào sử dụng.
Đến nay, mạng ngoại vi viễn thông đã phát triển nhanh trên nhiều mặt:
- Số lượng nhà cung cấp dịch vụ tăng lên: Từ chỗ chỉ có một nhà cung cấp với duy
nhất một mạng cáp đã có thêm 2 nhà cung cấp dịch vụ là Chi nhánh Viễn thông
quân đội Viettel tại Thanh Hoá, Điện lực Thanh Hoá. Vì vậy trên địa bàn đã có đến
3 mạng cáp của 3 nhà cung cấp dịch vụ cố định và dịch vụ khác.
- Loại hình trang bị trên mạng đã có nhiều loại mới:
+ Cáp quang nội hạt: Bưu điện tỉnh Thanh Hóa, Điện lực Thanh Hoá, Viettel.
+ Cáp đồng điện thoại và Internet: Bưu điện tỉnh Thanh Hóa, Viettel.
+ Cáp đồng trục cho CATV: Điện lực tỉnh
+ Thiết bị truy nhập thuê bao: Bưu điện tỉnh Thanh Hóa, Viettel.
- Các mạng chuyên dùng: Trên địa bàn ngoài các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
còn có các đơn vị xây dựng các mạng chuyên dùng:
nên sử dụng cáp quang loại nhỏ 6-8 đôi, treo trên các tuyến cột bê tông hiện có
hoặc đi nhờ trên các đường cột điện lực.
Mạng cáp quang của Thanh Hóa được thiết kế theo hướng hiện đại, dung
lượng sợi lớn, cấu trúc mạch vòng gồm nhiều RING, với năng lực phục vụ cho
thông tin viễn thông, dự phòng và cho thuê với các mục đích sử dụng khác. Tuy
nhiên cho đến thời điểm hiện nay cấu trúc này chưa triển khai được, mà mới chỉ có
các tuyến nối điểm-điểm, kết hợp cả với các đoạn xen là vi ba PDH.
Mạng cáp quang xuống xã được xây dựng gần đây nhằm mục đích đưa nối
các trạm truy nhập dung lượng nhỏ đặt tại các điểm BĐ-VH xã. Do vậy tổ chức
mạng, hình thức tổ chức rất đa dạng, khó quản lý.
- Mạng cáp thuê bao chủ yếu là cáp đồng có dung lượng từ 10x2 đến 600x2, kích
thước lõi sợi 0,4 và 0,5 mm. Mạng sử dụng hai phương thức là cáp treo và cáp kéo
cống. Tại khu vực TP. Thanh Hoá, các thị xã và tại một số thị trấn huyện trong
15
những năm qua đã chuyển dần từ phương thức cáp treo sang cáp kéo cống với tỷ lệ
ngầm hóa đạt khoảng 30%. Phần lớn mạng cáp đồng là cáp treo trên các tuyến cột
bê tông của doanh nghiệp tự xây dựng. Trong các thành phố, thị xã, thị trấn các
tuyến cáp còn được treo chung trên đường cột do ngành điện lực quản lý. Ngược
lại trên các tuyến cột của doanh nghiệp viễn thông trên các khu vực đều có các
đường điện hạ thế của nhân dân địa phương đi chung (cắt ngang hoặc song song).
Chiều dài bình quân mạng ngoại vi của một điểm chuyển mạch là 3km.
Hình thức tổ chức cáp rất khác nhau cho từng trạm. Trước đây tổ chức các
cáp nhập đài từ giá đầu dây ( MDF) của trạm chuyển mạch ra tủ cáp nhập đài bên
ngoài. Từ đó tổ chức cáp đến các hướng; hiện nay do yêu cầu phát triển nhanh, các
đơn vị đã đưa cáp thẳng vào giá đầu dây( MDF) của trạm chuyển mạch.
- Năng lực mạng lưới phục vụ cho việc phát triển các thuê bao điện thoại cố định,
các thuê bao Internet. Mạng được phát triển trên địa bàn toàn tỉnh với trên 100
trạm chuyển mạch; dung lượng cáp gốc sử dụng/lắp đặt là 220.000/295.000 đôi đạt
2.1. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật:
Theo thiết kế kỹ thuật thi công của các công trình mạng ngoại vi do các cấp
có thẩm quyền phê duyệt, đều có nội dung tuân thủ các Tiêu chẩn ngành cho từng
hạng mục và chất lượng chung của công trình.
Trên các tuyến cáp quang chôn trực tiếp có các băng báo hiệu, cọc biển báo
tuyến cáp. Trên các tuyến cáp vượt đường có biển báo giới hạn độ cao cho các
phương tiện giao thông. Một số tủ hộp cáp có thiết bị bảo an và có khóa an toàn, có
đánh số hiệu.
Nhưng nhìn chung, chất lượng tất cả các hạng mục của mạng ngoại vi: cống
cáp, bể cáp, tuyến cột (cột treo cáp, block cột, cột chống, dây co, dây thu lôi chống
sét, cọc tiếp đất), tủ hộp cáp đều chưa đảm bảo chất lượng theo các tiêu chuẩn
ngành. Thậm chí một số điểm vi phạm các quy định về chất lượng. Việc kéo cáp
trong cống bể và treo cáp trên cột không đúng Tiêu chuẩn ngành đã quy định. Đặc
biệt việc sử lý các điểm giao cắt với các đường điện lực (cao thế, hạ thế) không
đảm bảo. Nhiều tuyến cáp thuê bao (đặc biệt khu vực nông thôn, miền núi) đi song
song chung cùng các đường dây dẫn điện của cơ quan, cá nhân. các điểm nối
không đảm bảo chất lượng kỹ thuật, gây chập cháy cáp, tủ cáp, hộp cáp, các thiết
bị bảo vệ, thiết bị chuyển mạch và chết người đối với công nhân khai thác, bảo
dưỡng mạng. Các đôi dây đầu cuối từ tủ hộp cáp đến thiết bị đầu cuối (máy điện
thoại) của khách hàng không đảm bảo cả về kỹ thuật, mỹ thuật và an toàn.
2.2 Công tác phát triển mạng lưới, vận hành, quản lý bảo dưỡng mạng ngoại vi
Năm 2003 Tổng công ty Bưu chính, Viễn thông (nay là Tập đoàn Bưu chính,
Viễn thông Việt nam) cũng đã ban hành nguyên tắc tổ chức mạng ngoại vi và các
quy định về mạng cáp đồng, quy định về đường dây thuê bao làm cơ sở cho các
Bưu điện tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện xây dựng và quản lý mạng ngoại vi trên
17
địa bàn các tỉnh; về cơ bản mạng lưới ngoại vi được xây dựng theo nguyên tắc
chung; tuy nhiên do các điều kiện thực tế về mặt bằng tổ chức, nhu cầu sử dụng
giới giao thông .
18
- Đối với các công trình thi công tại các huyện thị, thành phố, thị xã : Chủ đầu tư
ngoài việc gửi hồ sơ về UBND huyện, Thị xã, Thành phố (Phòng quản lý đô thị
hoặc phòng Công thương) xin cấp giấy phép xây dựng còn phải xin cấp giấy phép
cấp chỉ giới giao thông của Phân khu quản lý đường bộ (Cục quản lý đường bộ),
Sở giao thông vận tải đối với các tuyến dọc theo hành lang quốc lộ, tỉnh lộ. Chủ
đầu tư tổ chức thi công công trình; UBND huyện, Thị xã, Thành phố quản lý nhà
nước và giám sát thi công theo quy định.
- Đối với các công trình ngoại vi thi công dọc các tuyến trong hành lang sông,
kênh, mương , chủ đầu tư ngoài việc xin cấp giấy phép xây dựng theo qui định còn
phải xin giấy phép của đơn vị quản lý đê điều và đơn vị quản lý Thuỷ nông.
Công tác xin cấp giấy phép xây dựng và chỉ giới giao thông của các chủ đầu tư
xây dựng các công trình mạng ngoại vi viễn thông (đặc biệt là các công trình cáp
treo khi thi công tại các xã thuộc các huyện, thị) bỏ qua các trình tự về tổ chức thi
công các công trình xây dựng như không xin giấy phép thi công, chỉ giới giao
thông của cơ quan quản lý nhà nước, hoặc đồng thời vừa tổ chức thi công và xin
cấp giấy phép chỉ giới xây dựng .Vi phạm nghiêm trọng qui định về việc tổ chức
thi công các công trình dẫn đến tình trạng các công trình thi công xong đưa vào
khai thác sử dụng một thời gian rất ngắn phải tổ chức di rời chuyển sang tuyến
khác gây tốn kém và gián đoạn thông tin làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và
phục vụ.
Việc cấp giấy phép của một số đơn vị chức năng cũng chưa thực hiện theo
đúng quy định, chưa kiểm tra đầy đủ hồ sơ pháp lý của công trình cũng như việc
xin ý kiến các đơn vị có liên quan.
3. Công tác quản lý của các cơ quan nhà nước
3.1. Thực trạng công tác quản lý
Căn cứ vào Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông; Nghị định 160/2004/NĐ-CP,
- UBND cấp xã: quản lý chỉ giới các tuyến đường cáp chôn, các treo trên
địa bàn qua xã, các thôn làng.
3.2. Các vấn đề bất cập trong quản lý
- Không có, hoặc thiếu quy hoạch vị trí cho hệ thống thông tin liên lạc nói chung
và các thành phần của mạng ngoại vi nói riêng. Vì vậy mổi khi có doanh nghiệp
cần xin thì các đơn vị quản lý tiến hành khảo sát và thỏa thuận cấp phép thi công
cho từng tuyến, điểm thi công cụ thể.
- Không có sự phối hợp tổng thể mà xin ý kiến thoả thuận theo từng dự án, từng
công trình của mỗi doanh nghiệp.
- Có sự chia cắt trong quản lý: Chẳng hạn các tuyến quốc lộ do Khu quản lý đường
bộ quản lý, một số đoạn đường quốc lộ , tỉnh lộ, liên huyện do sở Giao thông vận
20
tải quản lý, các tuyến đi trong nội thị, nội thành do UBND cấp huyện quản lý…Vì
vậy không thống nhất trong việc quản lý xây dựng.
- Không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về mặt quản lý chất lượng của
công trình bao gồm việc thực hiện có đúng chỉ giới, đúng thiết kế, đảm bảo chất
lượng thi công các tuyến cáp chôn cáp treo (cống bể, cột , cáp, tủ, hộp…) mà do
DN tự quản lý xây dựng. Dẫn đến tình trạng mạng ngoại vi có chất lượng kém về
cơ học không đảm bảo an toàn , mỹ quan đô thị và ảnh hưởng đến chất lượng
thông tin.
- Việc quản lý xây dựng hạ tầng phát triển mạng ngoại vi cơ quan quản lý nhà
nước chuyên ngành không nắm được, vì vậy rất khó khăn trong việc quản lý phát
triển mạng ngoại vi theo quy hoạch và công tác phối hợp với các cơ quan bảo vệ
pháp luật tại địa phương, đồng thời cũng gây khó khăn trong công tác tham mưu
cho Tỉnh chỉ đạo các ngành các cấp tham gia bảo vệ đảm bảo an toàn mạng lưới và
các công trình Viễn thông. Nguyên nhân các văn bản chỉ đạo của Bộ về công tác
báo cáo chưa đề cập đến công tác báo cáo mở rộng phát triển mạng ngoại vi.
Tương đối ngoại lệ là Võng Thông. Công ty này vào năm 2002 bắt đầu dựa vào
mệnh lệnh hành chính của Quốc Vụ Viện mà thừa hưởng một phần tài sản vốn
thuộc Viễn thông Trung Quốc ở 10 tỉnh Miền Bắc Trung Quốc. Trong đó bao gồm
quyền sở hữu mạng ngoại vi nội hạt ở 10 tỉnh này, đồng thời cũng được quyền sản
xuất kinh doanh ở 30% số mạng ngoại vi đường trục trong nước. Từ đó mà Công
ty này trở thành đơn vị được gọi là “Viễn thông Miền Bắc Trung Quốc”, có trong
tay tài nguyên mạng ngoại vi tương đối phong phú.
Tình hình của nhà sở hữu mạng ngoại vi một khi đã thay đổi đã làm cho các
vấn đề do chưa có hệ thống qui chế về mạng ngoại vi gây nên đã nổi trội lên, chủ
yếu là thể hiện trên ba mặt: xây dựng, kinh doanh và qui định về sở hữu.
1. Vấn đề xây dựng mạng ngoại vi
Vì giai đoạn xây dựng đặt cơ sở cho việc kinh doanh và qui định chủ sở hữu,
cho nên hầu như tất cả mọi vấn đề cũng bắt nguồn từ giai đoạn này, chủ yếu bao
gồm: Đa dạng hoá chủ thể xây dựng, ngoài nhà khai thác viễn thông có điều kiện
phù hợp và đơn vị xây dựng đường ống mạng lưới chuyên dùng. Các chủ thể nhiều
dạng khác, như xí nghiệp chỉ có giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông gia tăng
giá trị, thậm chí một số xí nghiệp không khai thác viễn thông cũng tham gia việc
xây dựng mạng ngoại vi. Thủ tục trình báo phê duyệt không đúng qui chế, do thiếu
các qui định cho nên nhiều hạng mục xây dựng mạng ngoại vi không qua thủ tục
trình báo phê duyệt ở chính quyền đô thị, ở cơ quan qui hoạch, ở cơ quan quản lý
thông tin, hoặc là vừa trình báo vừa xây dựng, vi phạm nghiêm trọng qui chế. Vấn
đề xây dựng trùng lặp rất nghiêm trọng, do thiếu sự quản chế nên các chủ thể xây
dựng làm theo cách riêng của mình, thường là trong một thời gian ngắn nhiều chủ
thể xây dựng tiến hành lắp đặt lần lượt nhiều đường ống ở cùng một địa điểm hoặc
trên cùng một đoạn đường, không chỉ lãng phí nguồn lực, mà đồng thời cũng phá
hoại nghiêm trọng đường giao thông và bộ mặt của đô thị.
22
trong nước. Theo qui định của mục lục, cơ sở hạ tầng thông tin trong nước là chỉ
mạng lưới truyền dẫn và yếu tố mạng lưới mặt đất, cần có để thực hiện dịch vụ
thông tin trong nước. Dịch vụ phục vụ cơ sở hạ tầng thông tin trong nước là chỉ
dịch vụ xây dựng và cho thuê, bán lại cơ sở hạ tầng thông tin trong nước. Cơ sở hạ
23
tầng thông tin trong nước chủ yếu bao gồm các tài nguyên vật lý như cáp quang,
cáp điện, sợi quang, dây kim loại, thiết bị kết nối, thiết bị đường dây, trạm vi ba,
trạm mặt đất thông tin vệ tinh trong nước, cùng với cơ sở hạ tầng truyền dẫn thông
tin trong nước tạo thành tài nguyên công năng như băng rộng (bao gồm kênh channel, đường điện - circuit), sóng điện v.v… Dựa vào đó có thể cho rằng trở ngại
về pháp luật của việc xây dựng và khai thác mạng ngoại vi vẫn tồn tại, về vấn đề
này cũng cần có lý luận chứng minh.
- Thứ hai là nhìn từ nội hàm của tài nguyên viễn thông. “Văn kiện tham khảo
quản chế viễn thông” của WTO coi quyền thông tin là một loại tài nguyên viễn
thông. Định nghĩa tài nguyên viễn thông trong “Điều lệ Viễn thông” là: Tài nguyên
là chỉ tài nguyên hữu hạn dùng để thực hiện công năng viễn thông, như tần số vô
tuyến điện, vị trí quỹ đạo vệ tinh, mã số mạng lưới viễn thông v.v… Tuy tài
nguyên viễn thông mà qui định ở khoản đó liệt kê chỉ có 3 loại, là tần số vô tuyến
điện, vị trí quĩ đạo vệ tinh, mã số mạng lưới viễn thông, nhưng miêu tả có tính khái
quát về tài nguyên viễn thông nêu ra chỉ bao hàm hai điều kiện, là dùng để thực
hiện công năng viễn thông, và là hữu hạn. Nhưng đường ống rõ ràng là phù hợp
với cả hai điều kiện đó. Nếu nói về tính chất và công năng, thì tài nguyên đường
ống và quĩ đạo vệ tinh không có sự khác biệt về mặt bản chất. Cho nên mạng ngoại
vi là tài nguyên viễn thông, rõ ràng cũng chịu sự quản chế của cơ quan giám quản
viễn thông.
4. Vấn đề giám quản
Như đã trình bày ở trên, hiện nay các địa phương bắt đầu tìm cách làm mới
về xây dựng mạng ngoại vi, ví dụ như thành lập công ty xây dựng mạng ngoại vi
chẳng hạn. Nhưng mô hình thể chế xây dựng - khai thác mạng ngoại vi mới có thể
III. Đề xuất cơ chế quản lý mạng ngoại vi trên địa bàn tỉnh, thành phố:
1. Quy định chung:
Không xây dựng, phát triển mạng ngoại vi nhằm mục đích phá hoại hoặc các
mục đích làm ảnh hưởng xấu đến chính trị, an ninh, trật tự xã hội và thuần phong
mỹ tục.
Việc xây dựng, phát triển và quản lý mạng ngoại vi trên địa bàn các tỉnh,
thành phố phải thực hiện theo đúng Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông; các thông
tư, nghị định, các Tiêu chuẩn ngành, Tiêu chuẩn kỹ thuật và các văn bản có liên
quan theo quy định của nhà nước và của địa phương.
Các đơn vị, tổ chức, cá nhân xây dựng, phát triển và khai thác mạng ngoại vi
trên địa bàn tỉnh, thành phố phải tuyệt đối tuân thủ sự quản lý nhà nước của các cơ
quan quản lý theo chức năng và quy định của nhà nước.
2. Quản lý trong công tác quy hoạch
a) Quan điểm:
Công tác quản lý đầu tư phát triển mạng ngoại vi hiện nay phải tính đến các
yếu tố sau đây:
- Sự đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp, cơ quan đơn vị, tổ chức xây dựng,
quản lý, vận hành khai thác mạng.
25