NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG GIỜ CHÍNH TẢ LỚP HAI - Pdf 33

Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

ĐẠI HỌC HUẾ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
--------

TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
Ngành: Giáo dục Tiểu học

Họ và tên sinh viên: Dương Chí Toàn
Ngày sinh: 23/3/1978
Mã sinh viên: 9016001186
Nơi sinh: Minh Diệu, Hoà Bình, Bạc Liêu

Khóa học: 2014-2016
Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 1


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học
MỤC LỤC

A. Phần mở đầu………..…………………..………..………..………..……..…..trang 3
1. Lý do chọn đề tài………..……………………..………..………..………..…..trang 3
2. Mục đích nghiên cứu………..…………………..………..………....……..…..trang 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu………..…………………..………..………..……….…trang 4



Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

ĐỀ TÀI

NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG GIỜ CHÍNH TẢ LỚP HAI
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Dạy học là một môn nghệ thuật, dạy học còn là quá trình hết sức quan trọng.
Đặc biệt bậc Tiểu học là một nền tảng hết sức quan trọng, tạo những cơ sở ban đầu rất
cơ bản bền vững về trí thức hình thành những đường nét phát triển về nhân cách, giúp
trẻ có thể tiếp tục học lên bậc cao hơn.
Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua tám phân môn (hay
bảy loại bài học) khác nhau Hoc vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể
chuyện, tập làm văn. Phân môn chính tả có vị trí đặc biệt trong dạy và học môn Tiếng
Việt xét trên hai phương diên :
Phần môn Chính tả giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng
Chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hóa, Tiếng
Việt chuẩn mực.
Phân môn Chính tả là giai đoạn then chốt trong qua trình hình thành kĩ năng
và tính thư hành. bỡi lẽ, chỉ có thể thực hành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả cho học sinh
thông qua thực hành luyện tập. Do đó trong phân môn này, các quy tắc chính tả, các
đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không được bố trí trong tiết dạy riêng mà
lồng trong hệ thống bài tập chính tả.
Trên thực tế hiện nay việc dạy phân môn Chính tả trong trường tiểu học,giảo
viên và học sinh có nhiều thuận lợi và gặp không ít khó khăn như sau:
Thuận lợi :

tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết
đúng Chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hóa,
Tiếng Việt chuẩn mực.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân môn Chính tả có vị trí quan trọng. Bởi vì, giai đoạn tiểu học là giai đoạn
then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh. Không phải ngẫu
nhiên mà ở Tiểu học, chính tả đươc bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy
riêng.
Giống như các phân môn khác trong môn Tiếng Việt , tính chất nổi bậc của
phân môn Chính tả là tính thực hành . Bởi lẽ, chỉ có thể hình thành các kĩ năng , kĩ xão
chính tả cho học sinh thông qua việc thực hành,luyện tập. Do đó, trong phân môn này,
các quy tắc chính tả , các đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không đươc bố trí
trong tiết dạy riêng mà dạy lồng trong hệ thống bài tập chính tả. Nội dung, cấu trúc
của bài chính tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học thể hiện rất rõ tính chất
thưc hành nói trên.
Phân môn chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững các
quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả ; nói cách khác giúp học sinh hình
thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả.

Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 4


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

Ngoài ra , phân môn Chính tả còn rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính
cẩn thận, óc thẩm mĩ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt và chữ viết của

Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 5


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

Học sinh lần đầu tiên biết đến “chuẩn ngôn ngữ” không phải ai muốn nói thế
nào cũng được mà phải phân biệt. Các em cần ý thức được rằng mọi người trong xã
hội đã thỏa thuận quy ước nói thế này thì được mà nói thế khác thì không được. Ví dụ:
Có thể nói “áo cụt tay” và viết “áo cụt tay” không thể nói “áo cụt cổ”. Học sinh cần
biết cái gì là có thể, không có thể khi nói năng mà cần hiểu rằng có những lời nói là
hay là đẹp. Lần đầu tiên ngôn ngữ trở thành đối tượng quan sát, phân tích, khái quát
tìm hiểu của học sinh mang tính chất tự phát, nặng nề về kinh nghiệm, học sinh có ý
thức quan sát ngôn ngữ của người khác, quan sát ngôn ngữ của chính mình để phát
triển cảm ngữ và có ý thức điều chỉnh lời ăn tiếng nói của mình.
6.2. Phương pháp quan sát:
Là một phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục. Nó giúp
ta theo dõi hiện tượng nghiên cứu theo trình tự thời gian, phát hiện những biến đổi số
lượng, chất lượng gây ra do tác động giáo dục. Nó giúp ta thấy được những vấn đề
thời sự cấp bách đòi hỏi phải nghiên cứu, hoặc góp phần giải quyết nhiệm vụ nghiên
cứu. Ví dụ quan sát có mục đích quá trình dạy học, có biên bản giờ học và các trích
đoạn của chúng, các câu trả lời của học sinh theo câu hỏi, các chuyện kể của các em
(có thể ghi chép, ghi âm, chụp ảnh…) nghiên cứu các bài tập viết, bài chính tả, bài Tập
làm văn của học sinh, phỏng vấn giáo viên và học sinh…
Theo mối quan hệ giữa đối tượng quan sát và người nghiên cứu thì có các dạng
quan sát trực tiếp, gián tiếp, công khai, kín đáo. Theo dấu hiệu về thời gian thì có quan
sát liên tục, gián đoạn.

kiện thực nghiệm khác cho phù hợp với ý đồ nghiên cứu của mình. Đặc trưng thứ hai
làm cho thực nghiệm khác với phương pháp kinh nghiệm và quan sát là thực nghiệm
tìm kiếm chân lý bằng con đường diễn dịch: đưa giả thuyết khoa học (dù chỉ mới ở
những điểm chung nhất và giả thuyết này sẽ được phát triển và chính xác hơn trong
quá trình thực nghiệm), sau đó tạo ra những điều kiện nhân tạo cho việc học tập của
học sinh, những em này khác với những em khác ở chỗ là chúng là đối tượng của việc
tiến hành thực nghiệm. Thực hiện được tiến hành trong một số lớp song song. Để so
sánh, người ta lấy các lớp kiểm tra (hay còn gọi các lớp đối chứng), ở đó công việc
phải được tiến hành một cách bình thường. Những tổ hợp khác nhau của các lớp thực
nghiệm và kiểm tra sẽ được tiến hành như sau: thủ pháp cần kiểm chứng được vận
dụng lần lượt theo thứ tự lúc thì ở trong lớp thực nghiệm, lúc thì ở lớp đối chứng. Nếu
kết quả ứng dụng biện pháp cần kiểm chứng trên cả hai lần đều cao như nhau thì đó sẽ
là sự bảo đảm cho tính hiệu quả của nó.
Những nghiên cứu thực nghiệm được phân tích theo phạm vi, mục đích của nó :
bắt đầu từ những thực nghiệm kiểm tra các thủ pháp giảng dạy đơn lẻ, cuối cùng là
thực nghiệm kiểm tra cả một chương trình mới, bắt đầu có thể chỉ một trường rồi một
huyện, một tỉnh và cuối cùng là những đo nghiệm đại diện trên phạm vi toàn quốc.
Theo nhiệm vụ của mình, thực nghiệm được phân ra thành thực nghiệm để làm rõ tính
vừa sức của phương pháp, nội dung dạy học nào đó và thực nghiệm để làm rõ tính vừa
sức của nội dung,phương pháp, được đề xuất.

Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 7


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học


2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 8


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

4. Đối tượng nghiên cứu
5. Phạm vi nghiên cứu
6. Phương pháp thực hiện
7. Giả thuyết khoa học
8. Cấu trúc của đề tài
B. Phần nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận, thực tiễn
I. Cơ sở lý luận
1. Cơ sở lý luận:
2. Cơ sở ngôn ngữ học:
3. Một số nguyên tắc dạy chính tả
II. Cơ sở thực tiễn:
1. Quan điểm của giáo viên về dạy phân môn chính tả:
2. Cách tiến hành dạy phân môn Tập làm văn
3. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong giờ dạy chính tả
4. Đánh giá kết quả giờ dạy
5. Kết luận
Chương II: Cơ sở nghiên cứu
I. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ dạy chính tả

sự vận dụng chúng vào việc dạy Chính tả.
* Mục đích dạy chính tả là hình thành cho học sinh năng lực viết thành thạo,
thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo các chuẩn chính tả . Nghĩa là giúp học sinh hình
thành các kĩ xảo chính tả. Khái niệm trong tâm lí học được hiểu là “những yếu tố tự
động hóa của hoạt động có ý thức, được tạo ra trong quá trình thực hiện hoạt động đó”
Hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả nghĩa là giúp học sinh viết đúng chính
tả một cách tự động hóa, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả, không
cần tham gia đến ý chí. Để đạt được điều này, có thể tiến hành theo hai cách:
* Cách có ý thức:
- Chủ trương cần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật
chính tả. Trên cơ sở đó, tiến hành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả.
Việc hình thành các kĩ xảo bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công
sức. Đó là con đường ngắn nhất và có hiểu quả cao.
* Cách không có ý thức:
Chủ trương dạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc chính
tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ
pháp của chính tả mà chỉ đơn thuần là việc viết đúng từng trường hợp, từng từ cụ thể.
Cách dạy học này tốn nhiều thì giờ, công sức mà không thúc đẩy sự phát triển của tư
duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định.

Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 10


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

Đối với học sinh tiểu học cần vận dụng cả hai cách nói trên. Trong đó cách


Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 11


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

Nói rằng chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học, giữa cách đọc và cách
viết thống nhất với nhau là nói về nguyên tắc chung còn trong thực tế, sự hiểu biết của
mối quan hệ giữa đọc và viết khá phong phú, đa dạng. Cụ thể, chính tả Tiếng Việt
không dựa vào cách phát âm thực tế của một phương ngữ thực nhất định nào. Cách
phát âm thực tế của các phương ngữ đều có những sự sai lệch so với chính âm . Cho
nên, không thể thực hiện phương châm “nghe như thế nào viết như thế ấy” được. Ví
dụ: không thể viết là “bo vang”, “Ba Vi”… như cách phát âm của các phương ngữ
vùng Sơn Tây; “suy nghỉ, sạch sẻ…” ở vùng Thanh Hóa; “bắc bẻ, Buông Mê
Thuộc…” ở trong phương ngữ Nam bộ…
- Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học. Nhưng trong thực tế, muốn viết
đúng chính tả thì việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một trong
những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả. Ví dụ: Nếu giáo viên đọc một từ có
hình thức ngữ âm là “za” thì học sinh có thể lúng túng trong việc xác định hình thức
chữ viết của từ này. Nhưng nếu đọc “gia đình” hoặc “da thịt” hay “ra vào” (đọc trọn
vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) thì học sinh dễ dàng viết đúng chính tả. Vì
vậy có thể hiểu rằng chính tả tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa. Đây là một đặc
trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt mà khi dạy chính
tả giáo viên cần chú ý.
3. Một số nguyên tắc dạy chính tả
a. Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực.

cái sai).
- Phương pháp tích cực(cung cấp cho học sinh các quy tắc chính tả , hướng
dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo chính tả)
- Phương pháp tiêu cực ( tức là đưa ra những trường hợp viết sai chính tả,
hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa , rồi từ đó học sinh đi đến cái đúng).
Ví dụ: quyét sạch, qoanh co, khúc khỷu, ngoằn ngèo…
+ Lỗi chính tả do viết theo lỗi phát âm địa phương hoặc do không nắm vững
chính âm. Lỗi này mỗi địa phướng sai mỗi khác. Có vùng viết d thành r, có vùng viết l
thành n…
Phương pháp tiêu cực giúp học sinh phát hiện óc phân tích, xét đoán, đồng
thời kiểm tra, củng cố được kiến thức về chính tả của học sinh.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã tiến hành điều tra tìm hiểu Trường
Tiểu học Minh Diệu A.
Trường Tiểu học Minh Diệu A thuộc xã Minh Diệu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc
Liêu.
Trường có tất cả 17 lớp, có 493 học sinh. Với 33 cán bộ- nhân viên được đào
tạo qua các hệ sau:
- Tốt nghiệp cử nhân tiểu học: 12 giáo viên.
- Đang theo học lớp cử nhân: 7 giáo viên.
- Cao đẳng tiểu học: 10 giáo viên.
- Trung học sư phạm: 2 giáo viên.
- Sơ cấp: 1 giáo viên.
Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 13


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm


sẵn.
3. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong giờ dạy chính tả:
Hiện nay, ở trường Tiểu học đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học tiến bộ
như: phương pháp vấn đáp, phương pháp gợi mở, phương pháp trực quan, phương
Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 14


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

pháp luyện tập, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sắm vai (đóng vai),…
Mặc dù phương pháp đã có nhiều cải tiến nhưng nhìn chung giáo viên chưa phối hợp
nhịp nhàng các phương pháp trong giảng dạy, còn bám vào sách giáo khoa nhiều và sử
dụng một cách máy móc, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh trong giờ học
Chính tả.
Một số phương pháp thường dùng trong giờ dạy Chính tả:
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp giảng giải
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp hổ trợ
Mặc dù phương pháp đã có nhiều cải tiến nhưng nhìn chung giáo viên chưa
phối hợp nhịp nhàng các phương pháp trong giảng dạy, còn bám vào Sách giáo viên
nhiều và chưa sử dụng phương pháp máy móc, cơ giới, chưa phát triển được tính tích
cực trong giờ học chính tả.
Tóm lại để đạt được hiệu quả cao trong giờ dạy thì ta cần phải sử dụng phối
hợp một cách linh hoạt các phương pháp dạy học và phương pháp đó được gọi là
phương pháp tích cực hoạt động hóa học tập của học sinh.

luận sau:
- Giờ Chính tả có vị trí rất quan trọng ở Tiểu học vì nó tập hợp hầu hết 4 kĩ
năng học tiếng Việt là nghe, nói, đọc, viết.
Trong giờ Chính tả , giáo viên cần sử dụng và phải phối hợp nhịp nhàng các
phương pháp, để gây hứng thú học tập cho học sinh, phát huy tính sáng tạo cho học
sinh
CHƯƠNG II: CƠ SỞ NGHIÊN CỨU
I. MỘTSỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG GIỜ
CHÍNH TẢ LỚP HAI:
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học. Tôi nhận
thấy thực tế dạy học chưa đáp ứng đủ yêu cầu dạy học chính tả ở Tiểu học. Cần phải
đổi mới phương pháp dạy học để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học, phát
triển năng lực, sở trường của học sinh, rèn luyện học sinh trở thành người lao động
chủ động. Vì thế để khắc phục những hạn chế, phát hiện những ưu điểm, tôi xin đưa ra
một số biện pháp với mong muốn là có thể nâng cao hiệu quả của tiết chính tả.
1. Công tác chuẩn bị của giáo viên
a. Rèn luyện kĩ năng nghe và tái hiện lại hình thức chữ viết, yêu cầu học sinh
viết lại đủ số âm tiết đã nghe, viết đúng và nhanh theo tốc độ quy định. Từ đây việc
đọc mẫu của giáo viên phải chuẩn xác, phải đúng với chính âm. Cạnh đó, giáo viên
nên đọc thong thả, rõ ràng, ngắt hơi hợp lí sau mỗi cụm từ, mỗi câu. Tốc độ đọc phải
phù hợp, tương ứng với tốc độ viết của học sinh.
b. Giáo viên phải hướng dẫn việc nghe của học sinh phải gắn với việc hiểu nội
dung của từ, cụm từ. Vì vậy, ngoài những hiểu biết về quy tắc chính tả học sinh còn
phải hiểu nghĩa của từ, cụm từ.
2. Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy phân môn Chính tả:

Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 16


CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM DẠY HỌC
Viêc lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp với nội dung của từng hoạt
động trong một bài giảng là khâu quan trọng nhất. Vì tùy thuộc vào nội dung của từng
phần mà giáo viên lựa chọn biện pháp thực hiện sao cho thích hợp trong bài giảng của
mình để làm sao cho đạt được mục đích cuối cùng của giờ học.
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 2, xin chọn phân môn Chính tả (ngheviết) để soạn và dạy thực nghiệm.
I. MÔ TẢ GIỜ DẠY:
Quy trình dạy phân môn chính tả (nghe-viết) lớp 2 như sau:
1. Ổn định tổ chức
Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 17


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

- Kiểm tra sỉ số
- Hát ngắn
2. Kiểm tra
- Giáo viên thu và chấm vở của học sinh tiết trước,đã chép lại
bài hoặc trả bài cho học sinh mà giáo viên đã thu chấm ở tiết trước.
- Có thể cho học sinh viết lại từ ngữ khó mà tiết trước học sinh
viết sai.
- Yêu cầu học sinh nhắc lại quy tắc chính tả.
- Giáo viên nhận xét chung.
3. Bài mới
a. Giới thiệu bài
Từng tiết dạy mà giáo viên giới thiệu bài phù hợp với nội dung dạy, có khi đi

Môn: Chính tả(nghe- viết)
NGƯỜI LÀM ĐỒ CHƠI
I . Mục tiêu:
Kiến thức
-Viết chính xác bài chính tả, trình bày đúng đoạn tóm tắt truyện Người làm
đồ chơi
- Làm được bài tập
Kĩ năng: Rèn kĩ năng viết và trình bày bài
Thái độ:- Học sinh có ý thức rèn chữ, giữ vở
II. Đồ dùng dạy học:
- GV: Bảng phụ .
III. Các hoạt động dạy học:
Thời
gian
2’

NỘI DUNG
1. Kiểm tra:

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của HS

- Gọi 2 HS lên bảng viết

- 2 HS lên vit

từ: hoa sen, xen kẽ
- Nhận xét
2. Bài mới:


và bác Nhân.
-Bác làm nghề nặn đồ

-Bác Nhân làm nghề gì?

chơi bằng bột màu.
-Vì đồ chơi bằng

Người thực hiện: Dương Chí Toàn

-Vì sao bác định chuyển

nhựa xuất hiện, hàng

về quê?

của bác không bán
Trang 19


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học
được.
-Bạn nhỏ đã làm gì?

-Bạn lấy tiền để dành,
nhờ bạn bè mua đồ
chơi để bác vui.


câu

từ khó

-Người nặn đồ chơi,

-Yêu cầu HS viết từ khó.

chuyển nghề, lấy tiền,
cuối cùng.
-2 HS viết bảng lớp,
-Đọc cho HS viết bài

HS dưới lớp viết vào

-Đọc cho HS soát bài

-HS viết bài

3.Hướng dẫn

-Gọi 1 HS đọc yêu cầu.

-Đọc yêu cầu bài tập

làm bài tập

-Gọi 2 HS lên bảng làm,


- Viết bài:
10’

- Soát lỗi

Đèn khoe đèn tỏ hơn
trăng
Đèn ra trước gió còn
chăng hỡi đèn?
Bài 3(a)

-Gọi 1 HS đọc yêu cầu.
-Chia lớp thành 2 nhóm

Người thực hiện: Dương Chí Toàn

a) Chú Trường vừa
Trang 20


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học
và tổ chức cho HS điền từ

trồng trọt giỏi, vừa

tiếp sức. Mỗi HS trong

chăn nuôi giỏi. Vườn

sau.

III. KẾT QUẢ GIỜ DẠY:
Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm lớp 2B, tôi đã thu được kết quả như sau:
- Đa số học sinh trong lớp đều thực hiện hết bài viết.
- Học sinh vừa nghe vừa tái hiện lại hình thức chữ viết tốt.
- Học sinh viết đúng và nhanh theo tốc độ quy định.
*Thu chấm 10 bài và thu được kết quả:
- Tổng số bài: 10 bài.
- Bài trên chuẩn: 9 bài 90%.
- Bài đạt chuẩn: 1 bài 10%.
C. PHẦN KẾT LUẬN
Qua thực tế dạy phân môn chính tả, giáo viên đã sử dụng một số biện pháp,
phương pháp phù hợp linh hoạt với đề tài đưa ra. Nó không đòi hỏi phải tốn nhiều
công sức mà chỉ thể hiện ở sự chịu khó nghiên cứu, đưa ra các nội dung bài soạn sao
cho phù hợp và thực hiện tiết dạy một cách linh hoạt theo nội dung bài soạn.
Áp dụng các biện pháp va các phương pháp trong quá trình dạy phân môn
chính tả(nghe- viết) tạo cho các em có lòng tự tin học tập. Học sinh hứng thú học tập,
tư duy phát triển, hạn chế được một số học sinh tránh được các lỗi không hiểu, quỹ
thời gian dành cho tiết học được sử dụng triệt để. Tạo điều kiện để học sinh học tập tốt
môn tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Chính tả góp phần nâng cao chất lượng môn học.
Đó cũng là điều kiện để học sinh học tập tốt các môn học khác có trong chương trình,
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của lớp, của trường.
Người thực hiện: Dương Chí Toàn

Trang 21


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm


Trang 22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status