BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
---------------
LÊ THỊ THU BA
ĐỀ TÀI: KIỂM ĐỊNH KHẢ NĂNG DỰ BÁO KIỆT QUỆ TÀI
CHÍNH CỦA MÔ HÌNH Z-SCORE: TRƯỜNG HỢP CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60.340.201
TP.HCM, 2015
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
---------------
LÊ THỊ THU BA
ĐỀ TÀI: KIỂM ĐỊNH KHẢ NĂNG DỰ BÁO KIỆT QUỆ TÀI
CHÍNH CỦA MÔ HÌNH Z-SCORE: TRƯỜNG HỢP CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TP. HCM, ngày… tháng … năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thu Ba
ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ......................................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................... viii
TÓM TẮT .................................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ............................................ 3
1.1.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ..................................................................................... 3
1.2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .............................................................................. 4
1.3.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .................................................. 5
Phân tích chỉ số phi truyền thống .............................................................. 16
2.2.2.
Phƣơng pháp phân tích đa biệt thức .......................................................... 17
iii
2.3.
2.2.3.
Phân tích phân biệt đơn biến của Beaver (1966)....................................... 19
2.2.4.
Mô hình phân tích logit của Ohlson (1980) ............................................... 20
2.2.5.
Mô hình dựa trên thị trƣờng MKV-Merton (1974) .................................... 22
MÔ HÌNH Z-SCORE ...................................................................................... 25
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................... 35
3.1.
CÁC BƢỚC THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU..................................................... 35
THỐNG KÊ MÔ TẢ ....................................................................................... 45
4.2. KẾT QUẢ “ KẾT QUẢ DỰ BÁO LÝ THUYẾT” CỦA TỪNG MÔ HÌNH 48
4.3.
XÁC ĐỊNH “MỨC ĐỘ CHÍNH XÁC” CỦA TỪNG MÔ HÌNH .................. 55
4.4.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................................... 57
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 62
5.1. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 62
5.2. GỢI Ý GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG DỰ BÁO VÀ GIẢM THIỂU NGUY
CƠ XẢY RA KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM ........ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 68
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 73
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Trang
Hình 2 1: Mối quan hệ cơ bản giữa VA, VE và X......................................................... 22
Hình 2 2: Mô tả cách xác định DD và PDt của mô hình MKV-Merton ........................ 24
Bảng 4.9: Mức độ dự báo chính xác của mô hình Z’’ ................................................... 55
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định ở mẫu doanh nghiệp kiệt quệ tài chính ........................ 58
vi
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định ở mẫu doanh nghiệp không kiệt quệ tài chính ............. 59
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định của toàn mẫu nghiên cứu.............................................. 59
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DN:
Doanh nghiệp
DNNN: Doanh nghiệp nhà nƣớc.
DA:
Discriminant Analysis – Phân tích phân biệt
DATC: Debts and Assets Trading Company: Công Ty Mua Bán Nợ và Tài Sản Tồn
Đọng của doanh nghiệp
EBIT: Earning before interest and tax – Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay
FED:
Federal Reserve System – Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
HOSE: Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
tài chính khi lựa chọn mẫu sẽ dựa trên quan điểm của Aktan (2011), đó là những công
ty gặp phải một trong các sự kiện sau: thua lỗ 3 năm liên tiếp, hoặc có vốn chủ sở hữu
âm, hoặc đã bán hết tài sản để trả nợ rồi giải thể, hoặc đã đƣợc tòa án chấp thuận phá
sản. Khoảng thời gian lấy dữ liệu là giai đoạn 2010 – 2014. Dữ liệu đƣợc lấy vào thời
điểm cuối năm tài chính của mỗi năm.
Mô hình chỉ số Z, Z’, Z’’ của Altman là một hàm biệt thức, có khả năng phân biệt
giữa công ty kiệt quệ tài chính, sắp phá sản và một công ty có tình hình tài chính lành
mạnh. Để xác định độ tin cậy của mô hình tại Việt Nam, tác giả đã tiến hành kiểm
định ba mô hình Z, Z’, Z’’ của Altman (1968, 1993, 1995), với mẫu nghiên cứu gồm
50 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE).
Kết quả kiểm định cho thấy mô hình Z’’ của Altman (1995) rất hiệu quả với tỷ lệ dự
báo chính xác đạt 95% tại thời điểm một năm trƣớc khi doanh nghiệp kiệt quệ tài
chính, tỷ lệ này giảm xuống còn 86% trong vòng hai và ba năm. Kết quả này gần
tƣơng đồng với các kiểm định tại những thị trƣờng mới nổi khác nhƣ Mexico, Thái
Lan.
Với độ chính xác trong dự báo đạt mức khá cao, mô hình phân tích phân biệt Z’’Score của Altman có khả năng dự báo kiệt quệ tài chính tốt nhất đối với khoảng thời
gian dự báo là 1, 2 năm trƣớc khi kiệt quệ xảy ra. Cuối cùng, sau khi xem xét tổng thể
về khả năng dự báo cùng các ƣu nhƣợc điểm cho thấy mô hình tốt nhất để dự báo kiệt
quệ tài chính cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Kết quả của nghiên cứu này cũng đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế Việt Nam
1
vì đã cho thấy năng lực dự báo kiệt quệ tài chính của mô hình Z’’-Score của Altman
(1995) khi đƣợc vận dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, giúp cho các nhà
quản trị, nhà đầu tƣ, ngân hàng, tổ chức cấp tín dụng, v.v… có thể đánh giá khả năng
xảy ra kiệt quệ tài chính của từng công ty, nhằm giúp đƣa ra quyết định chính xác nhất
để giảm thiểu rủi ro mất vốn và phòng ngừa rủi ro xảy ra kiệt quệ tài chính, Z-Score.
2
đời cách đây nhiều năm, mô hình chỉ số Z vẫn là công cụ dự báo đƣợc hai giới học
thuật, thực hành công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới”.
3
Tại Việt Nam, thời gian gần đây đã xuất hiện một số ngiên cứu về chỉ số Z, trong
đó phải kể đến nghiên cứu của Lâm Minh Chánh (2007), Huỳnh Cát Tƣờng (2008),
Phạm Thế Anh và Nguyễn Thành Cƣờng (2010). Đa phần các nghiên cứu này tập
chung vào khía cạnh lý luận hay ứng dụng mô hình chỉ số Z tại một số doanh nghiệp
trong cùng một ngành nghề, do đó chƣa thật sự đƣa ra cái nhìn đa chiều về nguy cơ
phá sản của hệ thống doanh nghiệp. Đúc kết từ những vấn đề cấp thiết trên, tác giả sẽ
tiến hành xác định mức độ chính xác cùng lúc ba mô hình chỉ số Z, Z’, Z’’ của Altman
(1968, 1993, 1995) tại Việt Nam thông qua kiểm định thống kê dựa trên dữ liệu của
các doanh nghiệp đa ngành nghề trong nghiên cứu “Kiểm định khả năng dự báo kiệt
quệ tài chính của mô hình Z-Score: Trường hợp công ty niêm yết tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ của mình. Từ đó nhận
diện đƣợc mô hình dự báo kiệt quệ tài chính phù hợp đối với các doanh nghiệp
Việt Nam trong tình hình kinh tế hiện nay, giúp cho các nhà quản trị công ty, các
nhà phân tích tài chính, các nhà đầu tƣ, các ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng
có thể dự báo sớm khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính của công ty mình, công ty đối
thủ, công ty đã và đang dự định đầu tƣ cũng nhƣ cấp tín dụng và đƣa ra đƣợc các
quyết định đúng đắn nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn, giảm thiểu nguy cơ xảy ra kiệt
quệ tài chính và phá sản.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là kiểm định khả năng dự báo kiệt quệ tài
chính của ba mô hình dự báo kiệt quệ tài chính đã phát triển trên thế giới đó là Z, Z’,
Z’’ của Altman (1968, 1993, 1995) với mẫu là 50 doanh nghiệp đa ngành nghề đã và
đang niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, nghiên
cứu giúp tìm ra mô hình phù hợp để dự báo kiệt quệ tài chính cho các doanh nghiệp
Thu thập số liệu: Từ các báo cáo, bài nghiên cứu khoa học, tạp chí khoa học đã
thu thập đƣợc cùng với các dữ liệu báo cáo kết quả tài chính: Bảng cân đối kế toán,
báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lƣu chuyển tiền tệ, thuyết minh tài chính của 50
công ty đƣợc công bố trên các Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
trong giai đoạn 2010-2014, tác giả tiến hành tổng hợp, thống kê và xử lý tài liệu.
1.5. ĐÓNG GÓP VÀ ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài luận văn thạc sĩ “Kiểm định khả năng dự báo kiệt quệ tài chính của mô
hình Z-Score: Trường hợp công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành
5
phố Hồ Chí Minh” vừa có tính khoa học và thực tiễn bởi luận văn của tác giả làm rõ
các nội dung sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiệt quệ tài chính.
Luận văn đã trình bày có hệ thống tƣơng đối hoàn chỉnh về quá trình thiết lập
một mô hình dự báo khá nổi tiếng trên thế giới, nhƣng còn ít đƣợc sử dụng ở Việt Nam
đó là mô hình Z-Score.
Việc xác định mức độ chính xác của mô hình dự báo phá sản còn có ý nghĩa
quan trọng đến nhiều thành phần trong doanh nghiệp cũng nhƣ trong xã hội và với
những nhà quản lí, những ngƣời điều hành chính sách trong công ty - những ngƣời
phải áp dụng thƣờng xuyên đến những mô hình dự báo để kiểm tra tình trạng sức khoẻ
tài chính của những doanh nghiệp từ đó đƣa ra những phƣơng án thiết thực, hữu hiệu,
chữa đúng bệnh cho doanh nghiệp mình khi có vấn đề xảy ra.
Nghiên cứu giúp kiểm định mức độ chính xác của mô hình Z-Score đã đƣợc sử
dụng rộng rãi trên thế giới với mức độ tin cậy khá cao khi vận dụng các doanh nghiệp
tại Việt Nam và kết quả của nghiên cứu này sẽ đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế Việt
Nam vì giúp cảnh báo sớm cho các doanh nghiệp trƣớc nguy cơ kiệt quệ dẫn đến phá
sản, để họ có biện pháp đối phó kịp thời.
Ngoài ra, còn giúp tổ chức tín dụng để xét khả năng phá sản của doanh nghiệp.
cứu sẽ xác định đƣợc mô hình dự báo kiệt quệ tài chính phù hợp cho các doanh nghiệp
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chƣơng 5: Kết luận: Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt đƣợc,
cùng các hạn chế của nghiên cứu.
7
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH
2.1. TỒNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH
Trong nền kinh tế thị trƣờng, việc tham gia và rời khỏi thị trƣờng của các công ty
tạo nên nền tảng của quá trình cạnh tranh. Quá trình cạnh tranh đảm bảo rằng sẽ duy
trì đủ số lƣợng công ty trong ngành, thỏa mãn nhu cầu thị trƣờng với giá cạnh tranh và
đảm bảo quy trình sản xuất hiệu quả. Tuy nhiên, việc tham gia hay rời khỏi thị trƣờng
của một công ty không phải lúc nào cũng là quy luật tự nhiên, điều đó có thể đƣợc
quan sát nhƣ hoạt động kinh doanh thay đổi, nguồn lực thay đổi, lĩnh vực kinh doanh
thay đổi. Trong bối cảnh này, quá trình cạnh trạnh có thể đƣợc hiểu nhƣ là việc giữ lại
hay tăng thêm các nguồn lực hiệu quả vào ngành và loại bỏ các tác nhân không hiệu
quả ra khỏi ngành. Nói cách khác, sự suy giảm trong hoạt động kinh doanh và sau đó
bị đào thải khỏi thị trƣờng của một công ty có thể đƣợc coi nhƣ một quá trình kiệt quệ
tài chính và đích đến cuối cùng là phá sản. Trong nền kinh tế thị trƣờng cạnh tranh,
điều này đƣợc thể hiện nhƣ là một dòng chảy hoặc một sự dịch chuyển từ khu vực kém
hiệu quả sang khu vực hiệu quả.
Về mặt lý thuyết, kiệt quệ tài chính là bao gồm: thất bại (failure), mất khả năng
thanh toán (insolvency), vỡ nợ (default), phá sản (bankruptcy), và giải thể. Tuy nhiên,
những trạng thái này lại khó có thể quan sát thấy (Hashi, 1997). Chính vì vậy, có khá
nhiều quan điểm khác nhau về kiệt quệ tài chính và các dấu hiệu khác nhau để nhận
biết kiệt quệ tài chính. Chúng có thể khác nhau theo thời gian, theo đặc điểm thị
trƣờng, hoặc theo diễn biến của các giai đoạn kiệt quệ tài chính.
Trong phần này, tác giả sẽ lần lƣợt trình bày các quan điểm về kiệt quệ tài chính
đƣợc phát hiện trong các tài liệu nghiên cứu liên quan để phân loại các công ty không
thành công, đó là: “thất bại” (failure), “mất thanh khoản” (insolvency), “vỡ nợ”
(default), và “phá sản” (bankruptcy). Các giai đoạn này đôi khi đƣợc sử dụng thay thế
nhau, nhƣng chúng đều cho thấy các nội dung khác nhau của “kiệt quệ tài chính”
(financial distress).
Thất bại (failure): Altman và Hotckiss (2005) định nghĩa “thất bại” theo chuẩn
kinh tế học, nghĩa là “tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tƣ, cùng với các tỷ số khác
để đánh giá rủi ro, là thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số của các đầu tƣ tƣơng
đƣơng trên thị trƣờng, hoặc doanh thu không đủ bù đắp chi phí của công ty”. Tuy
nhiên, định nghĩa nhƣ trên vẫn chƣa đủ, bởi vì mặc dù có doanh thu không đủ bù đắp
chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực trên vốn đâu tƣ thấp hơn so với tỷ số của các đầu tƣ
tƣơng đƣơng trên thị trƣờng thì một công ty trong tình huống này cũng có thể tiếp tục
9
hoạt động kinh doanh nếu các nhà đầu tƣ đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp.
Vì vậy, rất khó để phân loại một công ty đối mặt các tình huống ở trên nhƣ một doanh
nghiệp kiệt quệ tài chính.
Một quan điểm khác, dựa theo chuẩn tài chính, “thất bại” là việc dòng tiền của
doanh nghiệp không đủ để thỏa mãn nghĩa vụ tài chính hiện tại. Các nghĩa vụ tài chính
này bao gồm việc không thể giải quyết nợ đối với các nhà cung cấp tín dụng và ngƣời
lao động, hoặc gánh chịu tổn thất từ quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng, hoặc không thể
hoàn trả nợ gốc và lãi vay (Wruck, 1990).
Từ các quan điểm trên, “thất bại” của công ty đƣợc chia làm 2 loại, đó là: “thất bại
kinh tế” (economic failure) và “thất bại tài chính” (financial failure). Andrade và
Kaplan (1998) nhấn mạnh cần thiết phải phân biệt giữa “thất bại tài chính” và “thất bại
kinh tế”. Hai ông định nghĩa rằng một công ty vi phạm việc trả nợ là “thất bại tài
chính”, còn một công ty đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh là “thất bại kinh tế”.
Ở một quan điểm phổ biến khác, “thất bại tài chính” đƣợc định nghĩa là việc công
“Vỡ nợ” đƣợc thể hiện nhƣ là tình trạng khi một công ty không thể trả đƣợc nợ gốc
hay lãi đối với chủ nợ khi chúng đến hạn, và do đó, vi phạm điều kiện của hợp đồng
tín dụng, dẫn đến các hành động pháp lý (Altman và Hotchkiss, 2005).
Gilson và cộng sự (1990) và Altman và Hotchkiss (2005) tách khái niệm “vỡ nợ”
ra làm 2 phạm trù riêng: “vỡ nợ thanh toán” do không thể trả nợ gốc và lãi đến hạn, và
“vỡ nợ kỹ thuật” do vi phạm các điều khoản hợp đồng tín dụng của công ty.
Ngoài ra, có sự nhầm lẫn phổ biến giữa “mất thanh khoản” và “vỡ nợ”. Cần có sự
phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm này. Theo đó, để phân biệt giữa “vỡ nợ” (default)
và “mất thanh khoản” (insolvency), cần tham chiếu đến thời điểm đáo hạn (date of
maturity) của nợ. Một công ty có thể ở trong tình trạng “mất thanh khoản” trong một
khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ đến thời điểm nợ đáo hạn, công ty mới đƣợc xem
là “vỡ nợ”, và khi đối mặt với với sự kiện này, công ty sẽ cố gắng tái thƣơng thảo hợp
đồng tín dụng và tái cấu trúc nợ (đảo nợ) trƣớc khi tình trạng “phá sản” (bankruptcy)
bắt đầu.
Phá sản (bankruptcy): Cũng là khái niệm tài chính liên quan đến kiệt quệ tài
chính. “Phá sản” là việc công ty đệ trình đơn xin phá sản chính thức đến tòa án và đƣợc
tòa án phê duyệt cho phép phá sản. Diễn biến sau đó sẽ theo 2 hƣớng: công ty bán
tài sản để trả nợ (thanh lý tài sản) hoặc nổ lực thực hiện một chƣơng trình tái cấu
11
trúc (Altman và Hotchkiss, 2005).
Trong các nghiên cứu thực tiễn, “phá sản” (bankruptcy), “thất bại tài chính”
(financial failure), “vỡ nợ” (default) và “kiệt quệ tài chính” (financial distress) đƣợc sử
dụng thay thế nhau. Việc sử dụng “thất bại tài chính” hay “kiệt quệ tài chính” để cung
cấp tính linh động trong phƣơng diện nghiên cứu. “Kiệt quệ tài chính” là một định
nghĩa linh động hơn so với “phá sản” và giúp nghiên cứu gia tăng kích cỡ mẫu; ngƣợc
lại, “phá sản” là một hình thái đặc biệt của “kiệt quệ tài chính”, “phá sản” tập trung
vào các nghiên cứu giảm kích cỡ mẫu. Việc sử dụng “kiệt quệ tài chính” cung cấp
hoặc đã được tòa án chấp nhận phá sản. Nghiên cứu này cũng sẽ dựa trên quan điểm
của Aktan (2011) để xác định một công ty là kiệt quệ tài chính khi lựa chọn mẫu
nghiên cứu.
2.1.2. Các dấu hiệu để nhận biết kiệt quệ tài chính
Các công ty với sức khỏe tài chính kém và có nhiều vấn đề về nợ vay thì có thể dễ
dàng lâm vào kiệt quệ tài chính, và hơn thế, một số sẽ phá sản (bankruptcy) khi khủng
hoảng kinh tế xảy ra. Tuy nhiên, ngay cả trong những nền kinh tế ổn định, có lợi
nhuận tốt, việc quản lý không phù hợp với xu hƣớng hiện tại thì cũng có thể xảy ra kiệt
quệ tài chính. Bất ngờ hơn, đôi khi, ngay cả khi áp dụng các phƣơng pháp quản lý
khoa học1, cũng không thể giúp công ty loại bỏ khả năng phá sản (bankruptcy). Perold
(1999) nhấn mạnh rằng một công ty phòng ngừa bằng chứng khoán phái sinh thì cũng
có thể phá sản, ngay cả khi đƣợc quản trị bởi một nhà khoa học đoạt giải Nobel. Thực
tế, để loại bỏ khả năng sụp đổ trong hệ thống tài chính, FED đã phải chuyển một số
lƣợng lớn tiền cho các công ty này.
Quá trình kiệt quệ tài chính thƣờng kéo dài và thay đổi liên tục, có thể bắt đầu với
một sự kiện nghiêm trọng trong thời gian ngắn hoặc các sự kiện kéo dài liên tục hoặc
một sự kiện lặp đi lặp lại trong thời gian dài, làm tình hình tài chính của công ty giảm
xuống ngƣỡng chấp nhận. Các doanh nghiệp kiệt quệ tài chính sẽ trải qua các giai
đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn có đặc điểm khác nhau, đóng góp một cách khác nhau
đến thất bại của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điểm bắt đầu hay các điểm trung gian giữa
các giai đoạn kiệt quệ tài chính, và các đặc điểm ở từng giai đoạn là không dễ để xác
định. Các giai đoạn sau là hệ quả của giai đoạn trƣớc và các giai đoạn trƣớc là một
1
Quản lý khoa học (còn đƣợc gọi là Chủ nghĩa Taylor) là lý thuyết quản lý dựa trên quá trình phân tích và tổng hợp các
quy trình công việc nhằm nâng cao năng suất lao động (hợp lý hóa lao động); những nội dung cơ bản nhất của lý
thuyết, bao gồm ý tƣởng về phân tích, tổng hợp, lập luận, cũng nhƣ về tinh thần lao động của nhân công, vẫn có vai trò
quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp cũng nhƣ phƣơng pháp quản lý ngày nay. “Frederick Winslow Taylor
(1911), Principles of Scientific Management, New York and London, Harper & brothers”.
Đối với công ty: Kiệt quệ tài chính gây ra các chi phí trực tiếp và gián tiếp cho
công ty. Chi phí trực tiếp bao gồm các chi phí pháp lý, chi phí kiểm toán, chi phí thuê
các chuyên gia có kinh nghiệm để tƣ vấn và để bán tài sản trả nợ. Chi phí gián tiếp bao
gồm việc công ty bị tổn thất do mất thị phần, giá trị thị trƣờng giảm, các nhà quản trị
14
cấp cao nghỉ việc. Dựa theo nghiên cứu của Branch (2002), chi phí trực tiếp chiếm
khoảng 4,45% - 6,35% giá trị thị trƣờng của công ty, còn chi phí gián tiếp chiếm 5% 10% giá trị thị trƣờng của công ty.
Đối với ngành: Kiệt quệ tài chính giúp loại bỏ các công ty hoạt động kém hiệu
quả ra khỏi ngành, làm gia tăng các vụ mua bán và sáp nhập, giúp cho ngành hoạt
động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khi thông tin về một công ty trong ngành bị kiệt quệ tài
chính và phá sản, điều này có thể gây ảnh hƣởng tiêu cực đến các công ty còn lại trong
ngành vì ngƣời tiêu dùng trở nên mất niềm tin đối với các sản phẩm của ngành. Trong
nghiên cứu của Kanas (2004) về ngành ngân hàng ở các nƣớc Anh, Mỹ, Tây Ban Nha
và Thụy Sĩ, ông phát hiện ra rằng khi một ngân hàng ở Anh và Tây Ban Nha bị kiệt
quệ và phá sản, các ngân hàng còn lại sẽ bị ảnh hƣởng tiêu cực theo, và các ảnh hƣởng
tiêu cực này có thể lan rộng sang các quốc gia khác. Một ví dụ thực tế khác, năm 2008,
đã xảy ra vụ sữa nhiễm melamine của tập đoàn Tam Lộc (Trung Quốc) và làm cho tập
đoàn này phá sản. Tuy nhiên, điều này đã ảnh hƣởng tiêu cực đến các công ty cùng
ngành vì ngƣời tiêu dùng Trung Quốc mất niềm tin hoàn toàn với các sản phẩm sữa
nội, và sau đó, hàng loạt công ty sản xuất sữa ở Trung Quốc liên tiếp đi đến phá sản.
Đối với nền kinh tế quốc gia: Kiệt quệ tài chính và phá sản khiến cho tỷ lệ
thất nghiệp gia tăng, sản lƣợng sản phẩm và số lƣợng dịch vụ đƣợc cung cấp giảm, thu
nhập của ngƣời dân giảm. Tuy nhiên, kiệt quệ tài chính cũng có tác động tích cực, đó
là làm cho các nhà đầu tƣ di chuyển dòng vốn đầu tƣ từ nơi kém hiệu quả sang nơi
hiệu quả hơn.
Như vậy, kiệt quệ tài chính có thể gây ra cả ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực. Tuy
nhiên, đứng trên vị thế của một công ty thì kiệt quệ mang nặng tính tiêu cực. Với việc