BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ THÀNH TRUNG
CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
VÀ ĐỘ TRỄ CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
KIỂM TOÁN NĂM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
Chuyên ngành
: Tài chính – Ngân hàng
Mã số chuyên ngành : 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGÔ VI TRỌNG
TP. Hồ Chí Minh, Năm 2015
TÓM TẮT
Luận văn được thực hiện nhằm nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa các đặc
điểm về quản trị công ty có thể tác động đến độ trễ của công bố thông tin báo cáo
tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân bằng gồm 650 quan
sát của 130 công ty trong khoảng thời gian 5 năm giai đoạn 2010 – 2014. Trong bài
.................................................................................................................iii
Danh mục hình và đồ thị ...................................................................................................vii
Danh mục bảng ...............................................................................................................viii
Danh mục từ viết tắt ........................................................................................................... ix
CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU ......................................................................................... 1
1.1.
Lý do chọn đề tài nghiên cứu .............................................................................. 1
1.2.
Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu .......................................................................... 3
1.3.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 4
1.4.
Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 4
1.5.
Kết cấu luận văn .................................................................................................. 5
CHƯƠNG 2:
2.3.3.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) ........................... 12
2.4.
Nghiên cứu trước về các đặc điểm của quản trị công ty tác động đến độ trễ của
công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm ......................................... 13
2.5.
Xây dựng giả thuyết .......................................................................................... 15
2.5.1.
Quyền sở hữu tập trung ..................................................................................... 15
2.5.2.
Sở hữu cổ phần của tổ chức .............................................................................. 19
2.5.3.
Sở hữu cổ phần của nước ngoài ........................................................................ 19
iv
2.5.4.
3.1.1.
Độ trễ báo cáo .................................................................................................... 27
3.1.2.
Quyền sở hữu tập trung ..................................................................................... 27
3.1.3.
Sở hữu cổ phần của tổ chức ............................................................................... 28
3.1.4.
Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ....................................................... 28
3.1.5.
Quy mô hội đồng quản trị .................................................................................. 28
3.1.6.
Hội đồng quản trị độc lập .................................................................................. 28
3.1.7.
Tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc ................. 29
3.1.8.
4.3.
Kết quả hồi quy ................................................................................................ 41
4.3.1.
Độ trễ tạm thời .................................................................................................. 41
4.3.2.
Độ trễ báo cáo ................................................................................................... 44
4.4.
Phân tích kết quả hồi quy .................................................................................. 47
4.4.1.
Quyền sở hữu tập trung .................................................................................... 48
4.4.2.
Sở hữu cổ phần của tổ chức .............................................................................. 48
v
4.4.3.
Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ...................................................... 48
Đặc điểm của nghiên cứu ................................................................................. 53
5.2.
Các kết luận quan trọng ..................................................................................... 53
5.3.
Đóng góp của đề tài ........................................................................................... 53
5.4.
Hạn chế của nghiên cứu ..................................................................................... 56
5.5.
Gợi ý hướng nghiên cứu mới ............................................................................. 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 58
PHỤ LỤC
................................................................................................................ 64
Phụ lục 1: Danh sách 130 công ty niêm yết trong mẫu nghiên cứu ................................... 64
Phụ lục 2: Kết quả hồi quy ước lượng theo Pooled OLS và các kiểm định lựa chọn mô
hình hồi quy ước lượng tác động lên độ trễ tạm thời ....................................... 69
Phụ lục 3: Kết quả hồi quy ước lượng các đặc điểm về quản trị công ty tác động lên độ
trễ tạm thời sử dụng mô hình hồi quy FEM ...................................................... 73
Phụ lục 4: Kết quả hồi quy ước lượng theo Pooled OLS và các kiểm định lựa chọn mô
Bảng 4:
Kết quả kiểm tra hiện tượng tự đa cộng tuyến ............................................. 40
Bảng 5:
Các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy tác động lên độ trễ tạm thời ........ 41
Bảng 6:
Kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định lên độ trễ tạm thời ............. 42
Bảng 7:
Các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy tác động lên độ trễ báo cáo ......... 44
Bảng 8:
Kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định lên độ trễ báo cáo .............. 45
Bảng 9:
Tóm lược kỳ vọng dấu và kết quả trong mô hình hồi quy ước lượng ........... 47
viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
: Thành phố Hồ Chí Minh
ix
CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu:
Báo cáo tài chính (BCTC) là công cụ cung cấp những thông tin về tình hình sức
khoẻ tài chính, các thay đổi cũng như kết quả hoạt động tài chính của một công ty
qua một giai đoạn nhất định. Thông tin này được sử dụng bởi những người bên
ngoài như các cổ đông, các chủ nợ, các nhà đầu tư tiềm năng, cơ quan quản lý, và
công chúng nói chung (Spiceland và công sự, 2013). Theo đó, kịp thời được xác
định là một trong những đặc điểm của các thông tin trong BCTC. Dogan và cộng sự
(2007) cho thấy rằng người sử dụng thông tin tài chính muốn tiếp cận thông tin một
cách kịp thời để đưa ra quyết định. Thời gian của thông tin cũng quan trọng như
chính các nội dung trong đó cho người sử dụng thông tin tài chính, sự hữu ích của
BCTC bị suy yếu nếu không được thực hiện thông tin sẵn có cho người sử dụng
trong một thời hạn hợp lý sau ngày báo cáo. Công bố thông tin (CBTT) chậm trễ có
khả năng làm tăng sự không chắc chắn liên quan đến các quyết định được thực hiện
dựa trên các thông tin trong các BCTC (Ashton và cộng sự, 1987). Do đó, công bố
thông tin báo cáo tài chính kịp thời sẽ góp phần tăng cường các quá trình ra quyết
định và đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm sự bất đối xứng thông tin trên
thị trường vốn (Owusu-Ansah và Leventis, 2006). Các vấn đề của báo cáo kịp thời
cũng ảnh hưởng đến các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách khi họ cần
phải đóng một vai trò trong việc bảo đảm sự chậm trễ BCTC ngắn hơn. Đối với các
thị trường vốn mới nổi, việc tìm ra những yếu tố quyết định báo cáo kịp thời sẽ tăng
cường sự điều chỉnh trong việc xây dựng các chính sách mới để nâng cao hiệu quả
không phân biệt rõ vai trò, chức năng của chủ sở hữu với người điều hành. Chính
điều này đã tạo ra rào cản cho các công ty khi tiếp cận vốn trên thị trường chứng
khoán cũng như vốn từ các ngân hàng thương mại. Để nâng cao nhận thức về quản
trị công ty, trước hết cần đề cao tính độc lập của các thành viên, các vai trò của
HĐQT, của tổng giám đốc (TGĐ) cũng như đề cao tính minh bạch và công khai
thông tin kịp thời. Đồng thời, các công ty Việt Nam cũng cần chú trọng vai trò của
ban giám sát, đặc biệt là giám sát độc lập. Bùi Xuân Tùng (2014) cho rằng nền kinh
tế Việt Nam vẫn đang còn chuyển đổi nhiều, xét về lịch sử, hầu hết các công ty
niêm yết có nguồn gốc từ công ty có vốn sở hữu nhà nước hoặc tư nhân. Do đó,
nhiều lãnh đạo cấp cao của các công ty đại chúng tương đối mới này không quen
với khái niệm về công bố và minh bạch thông tin để hướng tới một cộng đồng lớn
Trang 2
hơn. Theo Bùi Xuân Tùng (2014), quản trị công ty tốt là quan trọng đối với hoạt
động tối ưu của công ty, thị trường vốn và nền kinh tế nói chung. Một BCTC tốt sẽ
giúp cải thiện kinh doanh và quản lý hoạt động, xây dựng lòng tin và uy tín của
công ty, khi nhà đầu tư tin BCTC đúng sự thật và công bằng với họ, họ sẽ cảm thấy
tự tin hơn để đầu tư. Với rủi ro thấp hơn, nhà đầu tư sẽ chấp nhận lợi nhuận thấp
hơn, do đó công ty ít tốn kém hơn để vay vốn. Đó là một lợi ích quan trọng đối với
công ty đang tìm cách huy động vốn để cung cấp BCTC đáp ứng yêu cầu kiểm toán.
Để đánh giá mức độ tác động là như thế nào hiện vẫn đang còn là ẩn số trong việc
đưa ra giải pháp tăng cường quản trị, qua đó từng bước rút ngắn độ trễ của công bố
thông tin báo cáo hàng năm. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài “Các đặc điểm
về quản trị công ty và độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán năm tại các công ty niêm
yết (CTNY) ở Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM” được lựa chọn để
nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sẽ góp phần cung cấp thêm thông tin
cho các thành viên thị trường cũng như cơ quan quản lý trong việc tìm kiếm tài liệu
tham khảo hữu ích về tác động của các đặc điểm về quản trị công ty lên độ trễ của
công bố thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm.
có tính đại diện cao hơn. Ngoài ra mẫu nghiên cứu cũng loại bỏ các tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực tài chính như: ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ
đầu tư và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài FDI ra khỏi mẫu nghiên cứu vì các
công ty hoạt động trong những lĩnh vực trên có các đặc thù riêng. Việc không loại
bỏ các công ty niêm yết này sẽ làm cho kết quả nghiên cứu bị sai lệch, không có
tính thuyết phục cao.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thực nghiệm thực hiện các phân tích thống kê mô tả, đánh giá và phân
tích ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình. Trong bài luận văn sử
dụng các phương pháp ước lượng mô hình hồi quy dữ liệu bảng cân bằng bao gồm:
mô hình hồi quy thông thường – Pooled OLS, mô hình hồi quy tác động cố định –
FEM, mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên – REM. Theo nghiên cứu của Gujiarati
(2003), mô hình FEM và REM sẽ được chú trọng hơn bởi việc sử dụng phương
pháp ước lượng theo mô hình FEM và REM có thể sẽ khắc phục được những nhược
điểm như phương sai sai số thay đổi và tự tương quan của sai số tốt hơn so với mô
Trang 4
hình hồi quy Pooled OLS. Tuy nhiên, để quyết định xem mô hình ước lượng nào
phù hợp nhất, tác giả sẽ tiến hành các kiểm định để lựa chọn cũng như khắc phục
những sai lệch trong mô hình đã lựa chọn.
1.5. Kết cấu luận văn:
Luận văn được chia làm 5 chương, mỗi chương được trình bày theo bố cục chặt chẽ
và xuyên suốt như sau:
Chương 1:
Giới thiệu. Trong phần này, tác giả trình bày những nét tổng quát về
nghiên cứu thông qua các mục: lý do chọn đề tài nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu
cứu được đưa ra và trình bày tóm tắt kết quả đạt được nhằm trả lời cho câu hỏi
nghiên cứu. Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra những đóng góp trong
Trang 5
việc nâng cao chất lượng thông tin công bố của các công ty. Bên cạnh đó, kết quả
nghiên cứu cũng chỉ ra những mặt hạn chế và gợi mở hướng nghiên cứu mới tiếp
theo.
Kết luận chương 1
Chương này trình bày những giới thiệu chung về nền tảng lý thuyết cũng như thực
tế làm cơ sở hình thành luận văn, xác định vấn đề, câu hỏi nghiên cứu trong việc
tìm mối quan hệ giữa các đặc điểm về quản trị công ty tác động đến độ trễ công bố
thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm tại các công ty niêm yết ở Sở giao dịch
Chứng khoán Tp. HCM. Từ đó, luận văn xác định mục tiêu, đối tượng, các phương
pháp nghiên cứu (PPNC) cụ thể áp dụng trong bài. Nội dung chi tiết về cở sở lý
luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày ở các chương
tiếp theo của luận văn.
Trang 6
CHƯƠNG 2:
CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ ĐỘ TRỄ
CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KIỂM TOÁN NĂM.
Chương 2 trình bày các đặc điểm về quản trị công ty, công bố thông tin và độ trễ
công bố thông tin cũng như cung cấp lý thuyết nền của nghiên cứu. Dựa trên cơ sở
lý luận, kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu trước, qua so sánh, đánh giá và
đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty
một cách có hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách
tốt hơn.
Có một số nguyên tắc cơ bản được quốc tế công nhận là có khả năng quản trị công
ty trong đó bao gồm các quyền của cổ đông, đối xử công bằng của các cổ đông, vai
trò của các cổ đông, công khai, minh bạch và trách nhiệm của HĐQT (Ige, 2008;
Ayininuola, 2009; Appah và Appiah, 2011). Quyền và đối xử công bằng của các cổ
đông: Tổ chức phải tôn trọng quyền của cổ đông để thực hiện các quyền đó. Họ sẽ
giúp cổ đông thực hiện quyền của họ bằng cách giao tiếp hiệu quả thông tin, đó là
điều dễ hiểu, dễ tiếp cận và khuyến khích các cổ đông tham gia vào các cuộc họp
chung. Quyền lợi của các bên liên quan khác: công ty nên nhận ra rằng họ có luật
pháp và các nghĩa vụ đối với tất cả các bên liên quan hợp pháp. Công khai và minh
bạch: Các công ty nên tiết lộ thông tin kịp thời và chính xác về tất cả các vấn đề liên
quan đến công ty. Vai trò và trách nhiệm của HĐQT: hội đồng quản trị cần một loạt
các kỹ năng và sự hiểu biết để có thể đối mặt với các vấn đề kinh doanh khác nhau
và có khả năng xem xét cũng như thay đổi trước những thách thức trong việc thực
hiện quản trị có hiệu quả (Appah và Appiah, 2010).
2.2. Công bố thông tin và độ trễ của CBTT BCTC kiểm toán:
2.2.1.
Công bố thông tin:
Trên thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, công bố
thông tin có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà đầu tư. Theo đó, CBTT được biết là
phương tiện truyền thông quan trọng giúp các nhà quản lý thông tin về tình hình
hoạt động của công ty và hoạt động quản trị công ty cho các nhà đầu tư bên ngoài.
Theo Standard & Poor’s (2002), CBTT là thành phần cơ bản trong quản trị công ty
giúp cho các bên liên quan và các nhà đầu tư quan tâm biết được cách thức công ty
đang hoạt động. CBTT đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thông tin bất cân
xứng giữa cổ đông nội bộ (nhà quản lý và người liên quan) và các cổ đông và nhà
nộp hồ sơ (Mẫu 10 – K) từ 90 ngày xuống còn 60 ngày để nâng cao hiệu quả. Còn
tại Điều 36 của Luật Chứng khoán Đài Loan yêu cầu CTNY phải công bố báo cáo
hàng năm trong vòng 4 tháng sau khi kết thúc năm. Cuối năm 2004, Liên minh
Châu Âu công bố bộ nguyên tắc minh bạch trong Chỉ thị số 2004/109/EG, theo đó
một trong những hướng dẫn chỉ ra rằng các thành viên cá nhân của Liên minh Châu
Âu chịu trách nhiệm thực hiện công bố báo cáo tài chính năm đúng thời hạn, cụ thể
là 4 tháng sau khi kết thúc năm tài chính (Aubert, 2009; Hout, 2012).
Trang 9
Tại Việt Nam, theo Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010, thời gian công bố
thông tin báo cáo tài chính kiểm toán năm là 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài
chính, đến Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012, thời gian công bố thông tin
báo cáo tài chính kiểm toán năm rút ngắn còn 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài
chính. Như vậy, các báo cáo tài chính kiểm toán từ năm 2010 đến 2011 được xem là
công bố trễ nếu công bố sau 100 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính và các BCTC
kiểm toán từ năm 2012 đến 2014 được xem là công bố trễ nếu công bố sau 90 ngày
kể từ khi kết thúc năm tài chính.
Phương pháp đo lường cơ bản nhất của tính kịp thời là độ trễ báo cáo, lần đầu tiên
được xem xét bởi Dyer và McHugh (1975). Độ trễ báo cáo chỉ đơn giản là số ngày
kể từ khi kết thúc năm tài chính đến thời điểm báo cáo được công bố. Cách tính độ
trễ báo cáo này cũng được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu, chẳng hạn như nghiên
cứu Chambers và Penman (1984); Sengupta (2004); Aubert (2009). Hout (2012) đã
thực hiện nghiên cứu độ trễ báo cáo tại 03 nước Bỉ, Đức, Hà Lan trong năm 2010
với mẫu nghiên cứu là 402 công ty đã tính toán độ trễ báo cáo bằng số ngày công bố
BCTC kiểm toán chia cho số ngày tối đa được phép công bố theo định. Mouna và
Anis (2013) thực hiện nghiên cứu tác động của cơ cấu sở hữu đến độ trễ CBTT
BCTC kiểm toán với mẫu nghiên cứu là các công ty niêm yết, không xem xét đến
các công ty tài chính liên quan ở SGDCK Tunisia đã chia độ trễ theo 2 khoảng thời
gian: Khoảng thời gian tạm thời được định nghĩa là số ngày kể từ ngày tổ chức kiểm
nhiên đối với các CTNY có số lượng cổ đông rất lớn, việc tiếp cận trực tiếp các
thông tin về công ty là điều không thể thực hiện vì các chi phí đại diện và một số
nhân số khác. Vì vậy, Healy và Palepu (2001) cho rằng, ngoài tăng cường quản trị
công ty, BCTC phải được xem xét bởi một bên thứ ba là công ty kiểm toán (CTKT)
độc lập để giải quyết xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và nhà đầu tư.
Lý thuyết đại diện thiết lập một cấu trúc hội đồng quản trị nhằm đảm bảo cho quá
trình thực hiện công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời, qua đó giảm thiểu thông
tin bất cân xứng giữa cổ đông nội bộ (nhà quản lý và người liên quan), các cổ đông
và nhà đầu tư quan tâm bên ngoài.
2.3.2.
Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory):
Lý thuyết chi phí sở hữu được xem là một trong những hạn chế về công bố thông
tin. Theo Verrecchia (1983), các thông tin tốt được các công ty chủ động công bố
sớm, tuy nhiên các thông tin xấu gây bất lợi cho công ty thì bị công bố chậm hoặc
không công bố. Chi phí sở hữu (proprietary costs) là chi phí tổn hại công ty gặp
phải nếu công bố thông tin xấu.
Trang 11
Các thông tin rủi ro trên BCTC có thể truyền tải thông tin chiến lược mà đối thủ
cạnh tranh sử dụng hoặc ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của công ty. Nếu công ty
công bố luôn cả nội dung các thông tin rủi ro cũng như các công cụ để kiểm soát
những rủi ro này, công ty có thể phải gánh chịu chi phí sở hữu. Vì vậy, các nhà
quản lý công ty thường cân nhắc chiến lược công bố thông tin sao cho vừa tối ưu
được lợi ích vừa tiết kiệm được chi phí vì chấp nhận tiết lộ thông tin. Lý thuyết chi
phí sở hữu là một phương thức hữu hiệu để nhận biết về quản trị công ty trong việc
công bố thông tin báo cáo tài chính kịp thời.
Carslaw và Kaplan (1991) thực hiện nghiên cứu ở New Zealand, kiểm tra tác động
của 9 biến lên độ trễ BCTC kiểm toán năm sử dụng dữ liệu từ 245 và 246 CTNY
trong năm 1987 và 1988 tương ứng. Kết quả cho thấy tổng tài sản và lợi nhuận ròng
là có ý nghĩa thống kê trong cả hai năm, trong khi ngành nghề kinh doanh, các
khoản mục bất thường, sở hữu công ty và đòn bẩy là có ý nghĩa cho một năm. Jaggi
và Tsui (1999) thực hiện nghiên cứu kiểm tra tác động của đặc điểm công ty cụ thể
đến độ trễ kiểm toán ở Hồng Kông bằng cách kết hợp tình hình tài chính của công
ty, kiểm soát quyền sở hữu và công nghệ công ty kiểm toán. Nguồn dữ liệu thu thập
từ 393 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông trong khoảng thời
gian ba năm, kể từ năm 1991 đến năm 1993. Kết quả của họ cho thấy rằng quy mô
công ty, tình hình tài chính của công ty, phương pháp tiếp cận kiểm toán (mức độ
cấu trúc), mức độ đa dạng hóa, và ý kiến kiểm toán là những biến giải thích cho sự
chậm trễ đáng kể báo cáo kiểm toán tại Hồng Kông. Bushman và cộng sự (2003)
dựa vào những kết quả phân tích các nhân tố đã chia thành 2 loại đặc điểm từ các
biến đo lường môi trường thông tin công ty mà họ thu thập được khi thực hiện
nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các đặc điểm thuộc về tài chính chủ
yếu có liên quan đến kinh tế chính trị trong khi đặc điểm thuộc về quản trị lại có
liên quan đến hệ thống luật pháp.
Một nghiên cứu liên quan đến hiệu quả của ban kiểm soát trong việc tăng cường hệ
thống báo cáo tài chính của Bédard và Gendron (2010) chỉ ra rằng mối liên hệ giữa
kích thước ban kiểm soát, tính độc lập, năng lực và các cuộc họp với chất lượng của
báo cáo tài chính tại các công ty Mỹ thì tốt hơn so với các quốc gia khác. Dựa trên
đánh giá, các tác giả cho thấy rằng các đặc tính của ban kiểm soát có ảnh hưởng lớn
nhất (69% ), tiếp theo là độc lập (57%), năng lực (51%), số lượng các cuộc họp
(30%) và kích thước (22%). Họ cũng kết luận rằng hiệu quả hoạt động của ban
kiểm soát có thể khác nhau với các yếu tố môi trường công ty như mức độ tập trung
quyền sở hữu, mức độ thực thi và tiếp xúc với các vụ kiện, và cho dù có áp dụng
các phương pháp quản trị tốt nhất của Mỹ liên quan đến ban kiểm soát thì cũng có
Trang 13
nhiều tiêu chí phân loại khác nhau. Kết quả thực nghiệm đã chỉ ra rằng độ trễ của
CBTT báo cáo kiểm toán năm chịu tác động bởi các đặc điểm về quản trị công ty.
Trang 14
2.5. Xây dựng giả thuyết:
Tùy theo hướng tiếp cận mà các tác giả lựa chọn cho mình một tập hợp các nhân tố
khi xem xét tác động của các đặc điểm về quản trị công ty ảnh hưởng đến độ trễ của
CBTT BCTC kiểm toán năm. Trong luận văn nghiên cứu này, tác giả xem xét tác
động của các đặc điểm về quản trị công ty ảnh hưởng đến độ trễ của công bố thông
tin báo cáo tài chính kiểm toán năm dựa trên cơ sở nghiên cứu của Bushman và
cộng sự (2003), Hout (2012), Lim (2012) và 2 nghiên cứu gần đây của Mouna và
Anis (2013), Appah và Emeh (2013).
2.5.1.
Quyền sở hữu tập trung:
Cấu trúc sở hữu có thể được phân thành 2 loại gồm cấu trúc sở hữu là tập trung và
phân tán. Trong cấu trúc sở hữu phân tán thì có nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu
một số cổ phần công ty, quyền kiểm soát hoạt động công ty do ban giám đốc nắm
giữ. Trong môi trường mà một số lượng lớn cổ phần được phân tán rộng rãi cho các
cổ đông, những xung đột về lợi ích giữa các cổ đông và nhà quản lý có thể sẽ dẫn
đến những vấn đề đại diện trong công ty (Berle và Means, 1932; Jensen và
Meckling, 1976). Khi cổ phần bị phân tán, do chi phí cao và tốn kém sẽ khiến cho
việc giám sát và gây áp lực lên nhà quản lý của các cổ đông gặp nhiều khó khăn.
Một khi quyền sở hữu và quyền điều hành có sự tách biệt sẽ tạo ra thông tin không
cân xứng, vì vậy mà người điều hành (đại diện) có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông
tin nên dễ dàng hành động tư lợi cho họ hơn là hành động vì người chủ sở hữu và
các cổ đông (Demsetz , 1983).
Một trong những cách để khắc phục vấn đề đại diện này là tăng quyền sở hữu tập
Theo Hawley và William (1997), tổ chức đầu tư phải tuân thủ các quy tắc cũng như
các quy định do trách nhiệm ủy thác từ các nhà đầu tư của họ. Tổ chức đầu tư
thường có quy mô lớn, họ có kinh nghiệm, có các nguồn lực cũng như chuyên môn
để phân tích các thông tin tài chính và khả năng gây áp lực lên các công ty để hoạt
động vì lợi ích của các cổ đông thông qua các phương tiện truyền thông (Wu,
2004). Guercio và cộng sự (2008) nhận thấy khi các tổ chức đầu tư không hài lòng
với hoạt động quản lý và quản trị công ty của công ty sẽ thực hiện thoái vốn với một
số lượng đáng kể. Chính sức mạnh thị trường đáng kể này, tầm ảnh hưởng cũng như
khả năng nhận biết về công ty, khả năng phân tích và ước tính luồng tiền trong
tương lai của công ty giúp cho các nhà đầu tư tổ chức nắm lợi thế trong việc giám
sát các hoạt động của công ty so với các nhà đầu tư khác.
Mitra và Cready (2005) dựa trên một mẫu nghiên cứu của 136 công ty thuộc nhóm
chỉ số S&P 500 và 237 công ty không thuộc nhóm chỉ số này trong khoảng thời
gian tám năm giai đoạn 1991 – 1998. Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp các bằng
chứng cho thấy rằng hoạt động giám sát của các tổ chức đầu tư giúp cho việc ngăn
ngừa cũng như can thiệp và giảm thiểu các hành vi cơ hội đến từ nhà quản lý, do đó
Trang 16
nâng cao chất lượng quản trị trong quá trình báo cáo tài chính. Tác động tích cực
của sở hữu tổ chức trong công ty lên tính kịp thời BCTC cũng đã được kiểm chứng
trước đó trong một nghiên cứu của Elgazzar (1998). Bushee và Noe (2000) còn cho
rằng chính việc CBTT chất lượng đã giúp cho công ty thu hút các nhà đầu tư, trong
đó có cả các nhà đầu tư chuyên nghiệp và chính sự hiện diện của các nhà đầu tư tổ
chức này với kinh nghiệm của mình khuyến khích công ty tăng chất lượng thông tin
công bố. Cũng có nghiên cứu như của Mouna và Anis (2013) không thu được kết
quả có ý nghĩa thống kê mặc dù thực tế tồn tại mối liên hệ này. Các công ty ngày
nay tại Việt Nam được sự quan tâm khá nhiều từ giới đầu tư, trong đó có cả các nhà
đầu tư chuyên nghiệp. Đặc biệt là đối với các công ty niêm yết trên thị trường