Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN NHÂN PHÚC

Nghiên cứu ảnh hƣởng của mức xếp hạng quản trị công ty đối với
hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh –Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN NHÂN PHÚC

Nghiên cứu ảnh hƣởng của mức xếp hạng quản trị công ty đối với
hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 62340102

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Dũng
TS. Đặng Ngọc Đại

Tp. Hồ Chí Minh –Năm 2017



1.1 Đ 10
.3. ặc
1.1 Tì 15
.4. nh
1.1 Tì 15
.4. nh
1.1 Tì 19
.4. nh
1.2 L 20
.
ý
1.3 C 23
.
âu
1.3 C 23
.1. âu
1.3 M 24
.2. ục
1.4 Đ 25
.
ối
1.5 Ph 26
.
ƣ
1.6 Đ 26
.
ón
1.7 C 27
.
ấu

ức
2.4 T 42
.

2.5 Đ 42
.

2.5 P 42
.1. há
2.5 M 43
.1. ức
2.5 T 45
.1. hà
2.5 M 47
.2. ô
2.5 M 52
.3. ô
2.5 T 57
.4. hi
CHƢƠNG
3: THIẾT
3.1 T 60
ha
3.1 T 60
.1. ha
3.1 T 60
.2. ha
3.1 T 61
.3. ha
3.1 T 61

4.3 T 78
.2. hố
4. Ki 80
3.3 ể


4

4.4
.
4.
4.1
4.
4.2
4.
4.3
4.5
.
4.6
.

K 8
ết 2
K 8
ết 2
K 8
ết 6
K 8
ết 7
K 9

5.2 V 1
.1. ai 2
5.2 Đ 1
.2. ối 2
5.2 Đ 1
.3. ối 2
KẾT
LUẬN,
THEO 1
…… 2
…… 6
QUA 1
N
2
TÀI
1
LIỆU 3
PHỤ 1
LỤC 3


5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

H
Đ
B
G
T

O
R
O
R
O
S
G
D
U
B
W
B

I
n
t
O
r
g
a
nR
eR
eR
e
H
o

H

B

W yN
o g


6

DANH MỤC CÁC BẢNG
B

B

B

B

B

B

B

B

B

B

B

B

78
81
83
86

88
89
92
93
94
95
99
10
0


vii

S1
………
0
B
ản
g
4B
ản
g
4B

n

H
ìn
H
ìn
H
ìn
h
4H
ìn
h
4H
ìn
h
4H
ìn
h
4H
ìn
H
ìn
H
ìn
H
ìn

35
50
51
52
63

trọng. Quản trị công ty tốt giảm thiểu khả năng tổn thƣơng trƣớc các khủng hoảng tài
chính, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, và dẫn đến việc
phát triển thị trƣờng vốn. Quản trị công ty yếu kém sẽ làm giảm mức độ tin tƣởng
của các nhà đầu tƣ, và không khuyến khích đầu tƣ từ bên ngoài. Trong vòng vài năm
qua, tầm quan trọng của quản trị công ty đã đƣợc nhấn mạnh, thể hiện ở số lƣợng các
nghiên cứu ngày càng tăng lên. Các nghiên cứu cho thấy các thực tiễn quản trị công
ty tốt dẫn tới tăng trƣởng mạnh đối với giá trị kinh tế gia tăng của các công ty, năng
suất cao hơn và giảm rủi ro tài chính hệ thống cho các quốc gia. Các thị trƣờng mới
nổi mang lại các cơ hội đầu tƣ hấp dẫn, tuy nhiên chúng cũng có nhiều rủi ro tiềm
tàng ở cấp quốc gia và doanh nghiệp. Những rủi ro này đòi hỏi các nhà đầu tƣ phải
hiểu biết rõ hơn tình hình quản trị công ty của các doanh nghiệp ở những thị trƣờng
này.
Ở cấp độ công ty, quản trị công ty có vai trò rất quan trọng:
(1) Thúc đẩy hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh: quản trị công ty tốt
sẽ mang lại một hệ thống giải trình tốt hơn, giảm thiểu rủi ro liên quan đến các vụ
gian lận hoặc các giao dịch nhằm mục đích vụ lợi của các cán bộ quản lý. Nhiều vấn


2

đề có thể sẽ đƣợc phát hiện sớm giúp giải quyết tốt hơn khi có sự kết hợp giữa tinh
thần trách nhiệm cao, quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ. Bằng việc xây dựng quy
định về chế độ lƣơng, thƣởng dựa trên kết quả kinh doanh, quản trị công ty sẽ giúp
cải thiện hiệu quả công việc quản lý của Ban giám đốc. Không những thế, quản trị
công ty tốt còn giúp cải thiện quy trình ra quyết định, các quyết định đƣợc đƣa ra
chính xác, kịp thời hơn khi có đầy đủ thông tin và quá trình liên lạc đƣợc tổ chức
hiệu quả, điều này sẽ giúp hiệu quả của các hoạt động tài chính và kinh doanh của
công ty đƣợc nâng cao một cách đáng kể ở mọi cấp độ. Ngoài ra, quản trị công ty tốt
còn giúp tổ chức thực hiện tốt hơn các quy trình kinh doanh hoạt động của công ty
dẫn đến năng suất cao hơn và chi phí vốn thấp hơn, góp phần nâng cao doanh số và

đƣợc những khoản tín dụng dài hạn. Đối với thị trƣờng mới nổi nhƣ Việt Nam, quản
trị công ty có ảnh hƣởng rất lớn vì hệ thống pháp lý chƣa hoàn thiện nên quyền lợi
của nhà đầu tƣ chƣa đƣợc bảo vệ đúng mức, vì vậy, chỉ cần một sự cải thiện nhỏ
trong vấn đề quản trị mà công ty áp dụng cũng có thể tạo nên một sự khác biệt to lớn
đối với các nhà đầu tƣ và nhờ đó giảm bớt chi phí vốn. Theo báo cáo khảo sát ý kiến
nhà đầu tƣ toàn cầu của Viện nghiên cứu kinh tế McKinsey vào tháng 7 năm 2002,
các nhà đầu tƣ trong diện đƣợc khảo sát sẵn sàng trả giá cao hơn cho cổ phiếu của
các công ty đƣợc quản trị tốt với tỷ lệ Nga là 38%, Trung Quốc 25%, Braxin 24%,
Ba Lan 23%, Mỹ 14% và Đức là 13%.
(4) Nâng cao uy tín của công ty : ngày nay, uy tín của một công ty có ảnh
hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty, vì uy tín góp phần làm nên giá
trị thƣơng hiệu, giá trị thƣơng hiệu là tài sản vô hình của công ty. Những công ty có
hệ thống quản trị công ty tốt sẽ tôn trọng quyền lợi của các cổ đông và các chủ nợ và
đảm bảo tính minh bạch về tài chính, khi đó, những công ty này sẽ dành đƣợc niềm
tin lớn hơn của công chúng và từ đó nâng cao đƣợc giá trị thƣơng hiệu. Niềm tin của
công chúng và giá trị thƣơng hiệu có thể khiến ngƣời ta tin tƣởng hơn vào các sản
phẩm của công ty, và điều này sẽ dẫn đến việc nâng cao doanh số, từ đó dẫn đến việc
gia tăng lợi nhuận, ngoài ra hình ảnh tích cực và uy tín của một công ty đóng vai trò
quan trọng trong việc định giá công ty giúp gia tắng giá trị công ty.
1.1.2. Thực trạng quản trị công ty ở Việt Nam
Quản trị công ty cấp quốc gia
Tháng 6 năm 2006, WB đã thực hiện đánh giá tình hình quản trị công ty ở
Việt Nam. Đánh giá này đƣợc WB thực hiện nhằm đánh giá việc tuân thủ các thông
lệ quản trị công ty so với các quy tắc quản trị công ty của OECD. Bản báo cáo này


4

mô tả các thông lệ hiện hành và đƣa ra các khuyến nghị chính sách trong sáu lĩnh
vực: (i) khuôn khổ quản trị công ty; (ii) quyền của các cổ đông; (iii) đối xử bình


ân
n

ID Qu
Năn
yề
g
n
II. QUYỀN
CỦA CỔ ĐÔNG VÀ

CÁC
CHỨC NĂNG
✓ SỞ HỮUCó
II Cá
A c
các
Các

IIB Qu
quy
yề
ết

Thô
IIC Qu
yề
ng


III Tấ
Việ

t
c
A
cả
bảo
II
Qu

Cấ
I
y
m
B gia
địn
III
Hộ
Tìn

i
h
C
đồ
trạn


5




ng

D bố
IV
Bả
E o
L
IV
F u

á

c


Việ
c
Quy

ền
đƣợ

V. CÔNG
BỐ THÔNG TIN VÀ TÍNH c


MINH BẠCH
Các quy

Tìm
có quy
VI. TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
VIA
Hoạt
VIB
Đối xử
VIC
Áp
VID
Hoàn
VIE
Nhận
VIF
Tạo








Các
trách
nhiệm
Tính

tuân thủ

khổ và tiêu chuẩn cho thị trƣờng chứng khoán không chính thức, nâng cao nhận thức
và đào tạo thành viên HĐQT về quản trị công ty, và khuyến khích thông tin có chất
lƣợng, kịp thời và dễ tiếp cận.
Bản báo cáo cũng cho thấy khuôn khổ về quản trị công ty ở Việt Nam đang ở
trong giai đoạn phát triển ban đầu, các luật và quy định liên quan đang đƣợc xây dựng.
Khu vực doanh nghiệp vẫn còn mang nhiều tính chất phi chính thức, trong đó thị
trƣờng chứng khoán không chính thức đang còn lớn hơn nhiều so với thị trƣờng chính
thức, và nhà nƣớc vẫn duy trì việc nắm giữ một tỷ lệ đáng kể trong các doanh nghiệp
cổ phần hóa. Năng lực và nguồn lực của các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản
lý, cƣỡng chế thực thi và phát triển thị trƣờng còn hạn chế. Một số vấn đề lớn khác
bao gồm: chƣa có sự bảo vệ đầy đủ cho nhà đầu tƣ, chƣa tuân thủ đầy đủ các chuẩn
mực kế toán, và còn hạn chế công bố các thông tin có chất lƣợng.
Quản trị công ty cấp doanh nghiệp
Đánh giá quản trị công ty cấp công ty đƣợc IFC phối hợp với UBCKNN thực
hiện từ năm 2010 đến 2012. Cơ sở của đánh giá thẻ điểm dựa trên nguyên tắc quản
trị công ty của OECD và môi trƣờng quản trị công ty ở Việt Nam.
Những nội dung chính đƣợc sử dụng làm cơ sở đánh giá bằng thẻ điểm về
quản trị công ty là những nội dung đã đƣợc công nhận là có vai trò quan trọng nhất
đối với quản trị công ty trong các Nguyên tắc của OECD:
Quyền cổ đông
Đối xử công bằng với cổ đông
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty
Công bố thông tin và tính minh bạch
Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị.
Bảng đánh giá chọn 100 công ty có mức vốn hóa thị trƣờng lớn nhất đại diện


7

cho các ngành nghề sau: công nghiệp, tài chính, hàng tiêu dùng, vật liệu cơ bản, dầu

Nguồn: IFC-Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty (2010)
Kết quả đánh giá quản trị công ty tại các công ty năm 2009 cho thấy nhìn
chung, các công ty đã cố gắng triển khai các nội dung trong quản trị công ty tốt, tuy
nhiên công tác quản trị công ty ở Việt Nam mới chỉ ở bƣớc sơ khai và cần đƣợc tiếp
tục cải thiện. Các chuyển biến về quản trị công ty tại Việt Nam hiện nay có vẻ nhƣ
đƣợc thực hiện chủ yếu nhờ tăng cƣờng các quy định pháp quy về quản trị công ty
tốt, tức là theo hƣớng tiếp cận “từ trên xuống” hơn là từ tự thân các doanh nghiệp.
Lĩnh vực tuân thủ tốt nhất các thông lệ quản trị công ty quốc tế là lĩnh vực
“Đối xử công bằng với các cổ đông. Lĩnh vực có mức tuân thủ theo thông lệ quốc tế
về quản trị công ty thấp nhất là lĩnh vực “Vai trò của các bên có quyền lợi liên
quan” đạt 29.95%. Kết quả này cho thấy vai trò của các bên có quyền lợi liên quan
là khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam, thậm chí còn mới hơn so với khái niệm về
quản trị công ty. Ngoài ra các công ty niêm yết cũng còn rất yếu kém trong thực hiện
các biện pháp nâng cao ”Trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát” (đạt
35.3%), hay tăng cƣờng ”Tính minh bạch và công bố thông tin” (đạt 39.4%). Tại
Việt Nam, do nền kinh tế mới chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng nên các doanh
nghiệp còn bị động hoặc chƣa quen với việc phải cung cấp thông tin, các doanh
nghiệp chƣa nhận thức đƣợc ý nghĩa và tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin
và tăng cƣờng sự minh bạch. Khi tham gia niêm yết trên TTCK, nhà đầu tƣ chính là
khách hàng của doanh nghiệp, và việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cũng nhƣ


8

minh bạch trong điều hành sẽ tạo đƣợc niềm tin của nhà đầu tƣ và khi đó, ảnh hƣởng
đến quyết định về mua cổ phiếu của doanh nghiệp.
Bảng 1-3: Kết quả đánh giá điểm quản trị công ty năm 2010.
K
ết
Qu

4
1
7

T

8
4
8
8
1
5

Nguồn: IFC-Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty (2011)
Việc đánh giá thẻ điểm quản trị công ty năm 2010 vẫn thực hiện nhƣ lần đánh
giá năm 2010 (cùng nội dung, trọng số và công ty đánh giá). Kết quả đánh giá năm
2011 cho thấy các công ty niêm yết đại chúng vẫn còn yếu kém trong việc thực hiện
các nội dung về trách nhiệm của HĐQT (chỉ đạt mức điểm 36,1%), và minh bạch và
công bố thông tin (đạt mức điểm 43,2%).
Nhìn chung, kết quả khảo sát quản trị công ty tại các công ty cho thấy nhìn
chung các công ty đã có nỗ lực triển khai quản trị công ty tốt. Điểm quản trị công ty
của năm 2010 tăng 0.8% so với năm 2009. Tuy nhiên, với điểm quản trị công ty
trung bình là 44,7%, khi so sánh với thông lệ tốt nhất toàn cầu, kết quả này cho thấy
rằng công tác quản trị công ty ở Việt Nam mới chỉ ở bƣớc sơ khai, chƣa đạt chuẩn
mực thông lệ tốt trên thế giới.
Bảng 1-4: Kết quả đánh giá điểm quản trị công ty năm 2011.
Kế
t
Qu
yền

hiệu quả của các nỗ lực triển khai thực tiễn quản trị công ty tốt đã sụt giả m. Việt
Nam không phải là nƣớc duy nhất ở trong tình trạng này. Ở Châu Á nói chung, Báo
cáo Giám sát QTCT ACGA-CLSA 2012 cũng cho biết có sự suy giảm trong công tác
quản trị công ty. Dù vậy, áp lực và yêu cầu trên phạm vi toàn cầu vẫn là làm sao đẩy
nhanh tốc độ cải cách về quản trị công ty chứ không phải thụt lùi. Năm 2011, thông
qua chƣơng trình Tọa đàm Châu Á, khối OECD đã xây dựng, công bố báo cáo Ƣu
tiên cải cách ở Châu Á: Đƣa quản trị công ty lên tầm cao mới. Trong đó, hai ƣu tiên
chính là “tất cả các nƣớc phải tăng cƣờng nỗ lực giám sát thực thi hiệu quả luật lệ về
quản trị công ty” và “cần nâng cao chất lƣợng, thực hiện công bố thông tin kịp thời,
minh bạch”. Các công ty Việt Nam chƣa chứng tỏ đƣợc đã quan tâm đến các phạm vi
rộng hơn, vƣợt ra ngoài hoạt động kinh doanh đơn thuần. Những vấn đề nhƣ sức
khỏe, an sinh, lợi ích ngƣời lao động còn ít đƣợc quan tâm. Yếu tố môi trƣờng cũng
gần nhƣ không đƣợc tính đến. Yếu tố sống còn để thị trƣờng có chất lƣợng là lòng
tin của nhà đầu tƣ. Lòng tin đƣợc xây dựng dựa trên công khai, minh bạch. Lĩnh vực
minh bạch và công bố thông tin - giảm 3,1% cho dù các quy định chặt chẽ hơn về
công bố thông tin (Thông tƣ 09/2010) đã đƣợc áp dụng từ đầu năm 2010. Kết quả
này cho thấy các cơ quan quản lý, UBCKNN và hai Sở giao dịch chứng khoán phải
tăng cƣờng hơn nữa hoạt động giám sát thực thi để tạo sự thay đổi hành vi của các
công ty. Các công ty đại chúng niêm yết có kết quả rất thấp trên nhiều chỉ tiêu thuộc
về trách nhiệm của HĐQT (35,9% ở lĩnh vực Trách nhiệm của HĐQT).
Từ năm 2012 đến năm 2014, Việt Nam tham gia chƣơng trình đánh giá thẻ
điểm của Asean, tuy nhiên, so với các nƣớc cùng đánh giá là Thái Lan, Philippin,
Malaysia, Singapore, Indonesia thì điểm quản trị công ty của Việt Nam luôn thấp
nhất, chỉ đạt trung bình 35,8 điểm, thấp hơn nhiều so với nƣớc liền kề là Indonesia
với trung bình 51,7 điểm và chƣa bằng một nửa số điểm của Thái Lan, nƣớc có điểm
số cao nhất với trung bình 75,86 điểm. Hầu hết điểm số của từng lĩnh vực đánh giá
đều dƣới trung bình, quyền của cổ đông đạt trung bình 4,6/10, đối xử công bằng với
cổ đông đạt trung bình 7,2/10, trách nhiệm HĐQT đạt trung bình 9/40, vai trò các
bên liên quan đạt 3,3/10 và công bố thông tin và tính minh bạch đạt 11,7/25. Kết quả


o Tƣ nhân hoá để đạt đƣợc hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp và tính hiệu
quả kinh tế.
o Quyền sở hữu đƣợc bảo vệ thông qua thiết lập khuôn khổ thể chế và pháp


11

lý, và những quy định bảo đảm thị trƣờng trong sạch.
Nền kinh tế của Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ sang kinh tế hàng hóa,
có một số đặc điểm nhƣ:
(1) Chấp nhận sự tồn tại bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế,
có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu
chủ, kinh tế tƣ bản tƣ nhân, kinh tế tƣ bản Nhà nƣớc, kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài với nhiều hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tƣ
nhân, sở hữu hỗn hợp.
(2) Cơ chế kinh tế là kinh tế thị trƣờng xã hội , là nền kinh tế thị trƣờ ng nhƣng
có sự quản lý của Nhà nƣớc, nền kinh tế đƣợc vận hành bởi hai “bàn tay”: thị trƣờng
và Nhà nƣớc. Điều này có ƣu điểm là nó phát huy tính tối ƣu trong phân bổ nguồn
lực xã hội để tối đa hóa lợi nhuận thông qua cạnh tranh, mặt khác, sự quản lý của
Nhà nƣớc giúp tránh đƣợc những thất bại của thị trƣờng nhƣ lạm phát, phân hóa giàu
nghèo, khủng hoảng kinh tế...
(3) Định hƣớng xã hội chủ nghĩa: Định hƣớng xã hội chủ nghĩa đƣợc hiểu là
vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nƣớc trong nền kinh tế, vì theo quan điểm
của chủ nghĩa Marx về chủ nghĩa xã hội thì mọi tƣ liệu sản xuất đều thuộc sở hữu
toàn dân và Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa là Nhà nƣớc đại diện cho nhân dân.
(4) Nền kinh tế chuyển từ khép kín, đóng cửa, sang mở cửa, hội nhập với thế


12


đƣợc phép chuyển đổi thành các công ty cổ phần và phát hành cổ phiếu
Mỗi ngành có luật và quy định riêng: các công ty phải tuân thủ cả Luật doanh
nghiệp lẫn các bộ luật và các quy định khác điều chỉnh ngành nghề và các hoạt động
cụ thể của công ty. Một công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm chịu
sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật Kinh doanh bảo hiểm. Một ngân hàng
chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng. Ngoài hai
bộ luật này, nếu doanh nghiệp đã niêm yết thì còn chịu sự điều chỉnh của Luật
Chứng khoán. v.v. Việc phải chịu sự điều chỉnh của đồng thời nhiều luật và quy định
sẽ dẫn đến sự chồng chéo và mâu thuẫn. Mặc dù Điều 3 của Luật Doanh nghiệp quy
định một cách rõ ràng rằng “Trƣờng hợp đặc thù liên quan đến việc thành lập, tổ
chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp đƣợc quy định tại Luật khác thì áp dụng
theo quy định của Luật đó”. Nhƣng trong thực tế, có nhiều trƣờng hợp không thể
phân định một cách rõ ràng, các bộ luật cũng nhƣ các quy định chồng chéo dẫn đến


sự mập mờ, khó hiểu và nhầm lẫn, từ đó dẫn đến khó khăn cho các công ty khi áp
dụng, đồng thời tạo ra nguy cơ về sự thiếu nhất quán trong quá trình thực thi các bộ
luật này từ phía các cơ quan quản lý nhà nƣớc.
Khuôn khổ pháp lý về quản trị công ty đƣợc quy định trong Luật Doanh
nghiệp 2005 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006, và đƣợc thay thế bằng Luật
Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2015, Luật
Chứng khoán ban hành năm 2006. Trong giai đoạn này, Việt Nam đang phải đối mặt
với những thách thức lớn trong việc thực thi luật, tăng cƣờng các thể chế quản lý,
cƣỡng chế thực thi cũng nhƣ đẩy mạnh hoạt động quản trị công ty tốt. Khuôn khổ
quản trị công ty chịu ảnh hƣởng từ những đặc điểm lịch sử, văn hóa và khuôn khổ
pháp lý riêng của từng quốc gia. Vì vậy, với Việt Nam, khuôn khổ quản trị công ty
cũng có những đặc điểm riêng. Một nền kinh tế trải qua thời kỳ tập trung bao cấp với
nòng cốt là doanh nghiệp nhà nƣớc nên khuôn khổ quản trị công ty của Việt Nam
ảnh hƣởng khá nhiều bởi đặc trƣng sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tập trung, và có một số
đặc điểm sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status