BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỐ CHÍ MINH
TỐNG THỊ LỘC
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỐ CHÍ MINH
TỐNG THỊ LỘC
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở SÁU NƯỚC ASEAN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu ................................................................... 2
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 2
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................... 2
1.4.
Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 2
1.5.
Ý nghĩa thực tiễn .............................................................................................. 3
1.6.
Kết cấu của đề tài ............................................................................................. 3
Chương 2: Tổng quan lý thuyết ............................................................................... 4
2.1.
Một số mô hình tăng trưởng kinh tế................................................................. 4
2.1.1. Mô hình tăng trưởng ngoại sinh ........................................................................ 4
2.1.2. Mô hình tăng trưởng nội sinh ............................................................................ 6
2.2.
Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế..................................... 9
2.2.1. Cơ sở lý thuyết kinh tế về chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ............... 9
2.2.2. Một số mô hình lý thuyết về chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ......... 10
2.2.2.1. Mô hình của Robert Barro (1990) ................................................................. 10
Kết luận .......................................................................................................... 54
5.2.
Hàm ý chính sách ........................................................................................... 55
5.3.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo ......................................................... 58
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
: Ngân hàng phát triển châu á
FDI
: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM
: Mô hình hiệu ứng cố định
FGLS
: Feasible Generalized Least Squares
: Chỉ số phát triển thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Kỳ vọng dấu các biến trong phương trình tăng trưởng
Bảng 4.1. Mô tả dữ liệu
Bảng 4.2. Mô tả các biến và phân tích thống kê
Bảng 4.3. Kiểm tra tính dừng của biến GDPGR
Bảng 4.4. Kiểm tra tính dừng của biến GI
Bảng 4.5. Kiểm tra tính dừng của biến PI
Bảng 4.6. Kiểm tra tính dừng của biến PGR
Bảng 4.7. Kiểm tra tính dừng của biến TOP
Bảng 4.8. Kiểm tra tính dừng sau khi lấy sai phân của biến GI
Bảng 4.9. Kiểm tra tính dừng sau khi lấy sai phân của biến PI
Bảng 4.10. Kiểm tra tính dừng sau khi lấy sai phân của biến TOP
Bảng 4.11. Tương quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.12. Kiểm tra đa cộng tuyến bằng nhân tử phóng đại phương sai VIF (Variance
inflation factors)
Bảng 4.13. Hồi quy mô hình bằng phương pháp Fixed – Effects (FEM)
Bảng 4.14. Hồi quy mô hình bằng phương pháp Random – Effects (REM)
Bảng 4.15. Xử lý hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan bằng phương
pháp FGLS
Bảng 4.16. Bảng tổng hợp ước lượng mô hình bằng các phương pháp FEM, REM và
FGLS
Bảng 4.17. Hồi quy theo phương pháp FEM đối với số liệu tốc độ tăng trưởng dưới mức
trung bình
nghiên cứu trong việc tìm hiểu mối liên hệ giữa chính sách tài khóa và tăng trưởng.
Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế là một thực tế, đồng thời mang tính nguyên
lý đã được thừa nhận rộng rãi. Chính phủ có thể dùng chính sách tài khóa để can thiệp
vào nền kinh tế dưới hình thức thu chi ngân sách nhà nước. Keynes đã đánh giá cao
hệ thống thuế khóa và công trái của chính phủ, nhờ chúng mà bổ sung thu nhập cho
ngân sách. Các khoản chi của chính phủ cũng có tác dụng điều tiết nền kinh tế như
các khoản thu. Theo Keynes, nhà nước cần thực hiện các biện pháp tăng cầu có hiệu
quả, kích thích tiêu dùng sản xuất. Nhà nước dùng ngân sách để tiến hành các đơn
đặt hàng, trợ cấp về tài chính, đảm bảo lợi nhuận ổn định cho tư nhân. Đồng thời, nhà
nước phải có chương trình đầu tư với quy mô lớn (Keynes, 1936). Một số nhà kinh
tế học khác cũng ủng hộ cho việc chi tiêu chính phủ để cung cấp các hàng hóa dịch
vụ công. Các hàng hóa dịch vụ này thường có hiệu quả vốn đầu tư thấp, vốn lớn, thời
gian thu hồi vốn dài nhưng nó lại rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế, xã hội.
Sự ra đời của lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã giúp chúng ta hiểu rõ tầm ảnh hưởng
quan trọng của chính sách tài khóa tới tăng trưởng kinh tế dài hạn trong nền kinh tế
và tác động của chi tiêu chính phủ tới tăng trưởng cũng đóng một vai trò then chốt.
Trên thế giới có rất nhiều mô hình đề cập tới vấn đề này chẳng hạn như Barro (1990)
nói về tác động của chi tiêu chính phủ nói chung tới tăng trưởng hay mô hình
Devarajan và cộng sự (1996) đã xem xét tác động của các thành phần chi tiêu chính
phủ tới tăng trưởng kinh tế….
Mặc dù hiện nay, thế giới đang đối mặt với rất nhiều thách thức về tốc độ tăng
trưởng kinh tế chậm, thế nhưng các nước trong khu vực ASEAN vẫn duy trì một tốc
độ tăng trưởng kinh tế ổn định.
2
Vì vậy, khi đề cập tới yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, chúng ta không thể
bỏ qua chính sách tài khóa. Chính sách tài khóa đóng một vai trò quan trọng trong sự
phát triển của nền kinh tế. Và việc đánh giá các tác động của những công cụ chính
số liệu thống kê.
•
Thời gian nghiên cứu từ năm 1989 – 2013.
3
1.4.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Với
phương pháp này, trên cơ sở xây dựng dữ liệu, đề tài kiểm định tác động của chi tiêu
công tới tăng trưởng kinh tế. Theo đó, bài xây dựng mô hình và chọn biến dựa vào
các nghiên cứu trước, tiếp theo, tác giả sử dụng hai phương pháp ước lượng là mô
hình tác động cố định, FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên, REM để hồi quy mô
hình đã xây dựng. Cùng với việc thực hiện một số kiểm định cần thiết, tác giả sẽ chọn
ra phương pháp hợp lý nhất trong hai phương pháp đã đưa ra. Ngoài ra, tác giả khắc
phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan trong mô hình (nếu có)
bằng phương pháp FGLS.
1.5.
•
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách nắm bắt được tác
động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại khu vực ASEAN. Từ kết quả
này, họ có thêm cơ sở để đưa ra những điều chỉnh về mức độ chi tiêu công nhằm
tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong tương lai cũng như tăng cường
-
Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế
-
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1.
Một số mô hình tăng trưởng kinh tế
2.1.1. Mô hình tăng trưởng ngoại sinh
Mô hình tăng trưởng đơn giản và nổi tiếng nhất được ứng dụng rộng rãi đó là
mô hình Harrod – Domar đưa ra phổ biến vào những năm 1940.
Mô hình Harrod - Domar giả định một hàm sản xuất có hệ số cố định, giúp đơn giản
hóa mô hình, nhưng đưa ra một sự kết hợp cứng nhắc giữa vốn và lao động để sản
xuất một mức sản lượng bất kì. Trong mô hình này, tăng trưởng có mối quan hệ trực
tiếp với tiết kiệm theo một hệ số bằng nghịch đảo của tỷ số vốn tăng thêm trên sản
lượng (ICOR).
Mô hình Harrod - Domar chú trọng vào vai trò của tiết kiệm, nhưng đồng thời lại chú
trọng thái quá vào tầm quan trọng của nó bằng cách ngụ ý rằng tiết kiệm (và đầu tư)
là điều kiện đủ để tăng trưởng bền vững, trong khi thực ra thì không đủ. Đồng thời mô
hình cũng không trực tiếp đề cập đến thay đổi năng suất. Ngoài ra, giả định của mô
hình về ICOR cố định làm cho mô hình trở nên kém chính xác hơn theo thời gian khi
cơ cấu sản xuất tiến hóa và sản lượng biên của vốn thay đổi.
Mô hình Solow cải thiện một số nhược điểm của mô hình Harrod - Domar và
đã trở thành mô hình tăng trưởng có ảnh hưởng nhiều nhất trong các nền kinh tế.
năng tăng trưởng khác nhau. Cuối cùng, mô hình Solow xem các yếu tố sau đây là đã
6
được cho trước: tỷ lệ tiết kiệm, tăng trưởng cung lao động, trình độ kỹ năng của lực
lượng lao động và tỷ lệ thay đổi công nghệ. Những giả định này giúp đơn giản hóa mô
hình, nhưng cũng chính vì thế mà ta không hiểu được nhiều về các yếu tố cơ bản xác
định những thông số này và chúng thay đổi như thế nào trong quá trình phát triển.
Hiện nay, các lý thuyết tăng trưởng thường chủ yếu dựa vào mô hình này để
mở rộng các biến liên quan đến tăng trưởng kinh tế.
2.1.2. Mô hình tăng trưởng nội sinh
Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã thúc đẩy nhiều hướng
nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với thực tế của các nước đang phát triển
và đã đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh. Gọi là mô hình tăng
trưởng nội sinh bởi vì các mô hình tăng trưởng mới này cố gắng nội hóa sự tăng
trưởng, nghĩa là giải thích tăng trưởng bên trong một mô hình của nền kinh tế.
Mô hình tăng trưởng nội sinh ra đời với các tác giả điển hình như Romer và
Lucas. Các mô hình này nội sinh hóa các yếu tố góp phần vào tăng trưởng dài hạn.
Mô hình này nhấn mạnh các yếu tố như là “tác động lan tỏa” nhờ đó mà các quyết
định đầu tư của các doanh nghiệp về vốn hay nghiên cứu phát triển, hoặc đầu tư của
các cá nhân về nguồn vốn nhân lực có thể đưa đến những ảnh hưởng có lợi cho nền
kinh tế.
Các mô hình tích lũy kiến thức tuy đã có đóng góp nhất định trong việc giải thích
nguồn gốc tăng trưởng từ tiến bộ công nghệ nội sinh, nhưng với giả định công nghệ
không có tính cạnh tranh - tức mọi quốc gia đều có thể tiếp cận công nghệ mới, các
mô hình này không thể giải thích được sự chênh lệch về thu nhập giữa các nước. Bởi
vậy, để giải thích sự chênh lệch về thu nhập này, chúng ta thường nhấn mạnh đến các
mô hình về vốn con người.
Vậy nghiên cứu vốn con người có ý nghĩa gì đối với tăng trưởng? Mặc dù các mô
hình tăng trưởng nội sinh nói chung, và các mô hình về vốn con người nói riêng, còn
nhiều hạn chế.
8
Thứ nhất, về mặt thực tiễn, các nghiên cứu tính toán tăng trưởng đã cho thấy:
mô hình vốn con người đã đánh giá quá cao vai trò của vốn con người, theo nghĩa có
sự chệnh lệch về mức thu nhập giữa các quốc gia mà không thể giải thích bằng vốn
vật chất hay vốn con người, và rằng đầu tư vào giáo dục không đủ để thúc đẩy tăng
trưởng ở các nước nghèo.
Thứ hai, một số đề xuất chính sách của các mô hình về vốn con người còn
mang tính trực quan. Hai nghiên cứu sau đây đã cho thấy cần thận trọng với các kết
luận này.
Zhang (1996) lập luận rằng mặc dù việc chính phủ trợ cấp cho giáo dục tư nhân sẽ
kích thích tăng trưởng, nhưng việc khu vực công cộng cung ứng dịch vụ giáo dục trực
tiếp trên thực tế có thể làm giảm tăng trưởng (cho dù nó làm giảm bất bình đẳng thu
nhập). Điều này có thể xảy ra nếu giáo dục công cộng được tài trợ thông qua một loạt
thuế gây méo mó. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, ngoại ứng tích cực tạo
ra từ trình độ giáo dục cao hơn có thể đủ bù đắp lại khoản mất mát do sự can thiệp
của chính phủ, để phúc lợi ròng vẫn tăng lên.
Upadhyay (1994) chứng minh rằng trợ cấp của chính phủ có thể tạo ra quá nhiều giáo
dục. Đó là trợ cấp làm tăng cầu về giáo dục trình độ cao, đổi lại là sự giảm sút đầu tư
vào vốn vật chất và dẫn đến sự thay thế không hiệu quả giữa lao động có trình độ cao
và lao động chân tay trong dài hạn. Có thể xảy ra một nghịch lý là trong dài hạn, tăng
trưởng có thể bị giới hạn do thiếu lao động thô sơ, đồng thời những người lao động
có trình độ lại bị thất nghiệp.
Thứ ba, các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn phụ thuộc vào một số giả định
tân cổ điển truyền thống mà không phù hợp với các nền kinh tế đang phát triển. Chẳng
hạn, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về
Trong thập niên 70, các nhà kinh tế theo trường phái Keynes vẫn tin rằng
chi tiêu chính phủ - đặc biệt là các khoản chi tiêu thông qua vay nợ - có thể thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế nhờ làm tăng sức mua (tổng cầu) của nền kinh tế. Các chính
trị gia thường ưa thích lý thuyết của Keynes bởi vì nó cho họ những lý do hợp lý
để chi tiêu. Một số nhà nghiên cứu đã ước lượng được mối quan hệ tỷ lệ thuận
giữa chi tiêu chính phủ và mức sản lượng của nền kinh tế, tuy nhiên, các phương
pháp ước lượng của họ thường mắc nhiều sai lầm. Những phương pháp ước
lượng phức tạp hơn đã chỉ ra rằng, chi tiêu chính phủ không thể thúc đẩy tăng
10
trưởng. Lý thuyết của trường phái Keynes đã bỏ qua sự thật là chính phủ không thể
bơm sức mua vào nền kinh tế trước khi làm giảm nó ra thông qua thuế và vay nợ.
Lý thuyết của Keynes đã gặp thách thức lớn khi nền kinh tế thế giới rơi vào suy
thoái trong những năm 1970, và khi có sự bùng nổ kinh tế nhờ cắt giảm thuế kết
hợp với thắt chặt chi tiêu trong những năm 1980. Ngày nay, mặc dù lý thuyết của
Keynes về chi tiêu chính phủ không còn được các nhà kinh tế trọng dụng nhưng nó
vẫn được các chính trị gia và các nhà báo thường xuyên nhắc đến như là động lực
để thúc đẩy tăng trưởng.
2.2.2. Một số mô hình lý thuyết về chi tiêu chính phủ và tăng trưởng
Trong phần này tác giả xin giới thiệu tóm tắt một số mô hình tăng trưởng được sử
dụng phổ biến bởi các nhà kinh tế trên thế giới khi xem xét mối quan hệ giữa chi tiêu
chính phủ và tăng trưởng kinh tế.
2.2.2.1. Mô hình của Robert Barro (1990)
Trước Barro (1990) cũng đã có nhiều nghiên cứu về chi tiêu chính phủ, tuy
nhiên vai trò của chi tiêu chính phủ và thuế đối với tăng trưởng kinh tế chỉ được xem
xét một cách có hệ thống dựa trên các hành vi tối đa hoá lợi ích của các tác nhân trong
nền kinh tế kể từ khi xuất hiện bài báo “Government Spending in a Simple Model of
Khu vực chính phủ: Do mô hình không nhằm phân tích tác động của các loại thuế
suất khác nhau đến tăng trưởng kinh tế nên để đơn giản, Barro (1990) giả định rằng
chính phủ tài trợ cho chi tiêu của mình nhờ áp dụng một mức thuế suất cố định τ .
Điều này hàm ý chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng. Do vậy ta có:
𝜏 Ly = G,
0 < τ
2.2.2.2. Mô hình của Devarajan và cộng sự (1996)
Devarajan và cộng sự (1996) đã dựa trên mô hình của Barro (1990) và một số
kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác để xây dựng mô hình nghiên cứu vai trò của
các thành phần chi tiêu nào là không hiệu quả và sự chuyển dịch giữa các thành phần
chi tiêu có tác động như thế nào đối với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Mô hình
của Devarajan và cộng sự (1996) có thể tóm tắt như sau:
Khu vực sản xuất: Hàm tổng sản xuất có dạng CES với sản lượng phụ thuộc vào
lượng tư bản của khu vực tư nhân, k và hai thành phần chi tiêu khác nhau của chính
13
phủ, g1 và g2. Mỗi loại chi tiêu được giả định là có tác động khác nhau đến tổng sản
lượng của nền kinh tế. Cụ thể hàm sản xuất được viết dưới dạng sau:
−𝜁 −1/𝜁
−𝜁
y = f (k, g1, g2) = [𝛼𝑘 −𝜁 + 𝛽𝑔1 + 𝛾𝑔2 ]
,
(2.1)
Trong đó:
𝛼 ≥ 0, 𝛽 ≥ 0, 𝛾 ≥ 0, 𝛼 + 𝛽 + 𝛾 = 1, 𝜁 ≥ −1.
Khu vực chính phủ: Tương tự như trong Barro (1990), các tác giả giả định rằng chính
phủ tài trợ cho chi tiêu của mình nhờ áp dụng một mức thuế suất cố định 𝜏. Điều này
cũng hàm ý chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng. Do vậy,
𝑐 1−𝜎 −1
1−𝜎
và vấn đề của hộ gia đình này là tối đa hoá
∞
𝑈 = ∫0 𝑒 −𝜌𝑡 𝑢(𝑐) 𝑑𝑡
(2.5)
14
với ràng buộc:
𝑘 ∙ = (1 − 𝜏 )𝑦 − 𝑐
(2.6)
trong đó ρ là hệ số chiết khấu theo thời gian. Phương trình (2.6) hàm ý đầu tư của khu
vực tư nhân bằng với phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi đã tiêu dùng.
Giải mô hình
Thiết lập Hamilton và giải mô hình chúng ta có thể biểu diễn tốc độ tăng trưởng kinh
tế theo phương trình sau:
𝛾=
𝑐∙
𝑐
Do 𝜍 ≥ −1 phương trình này hàm ý
𝜕𝛾
𝜕𝜙
>0
nếu
𝜙
1−𝜙
𝛽 1/(1+𝜍)
tập trung của chính sách tài khoá và tăng trưởng kinh tế. Trước đó, nhiều nhà kinh tế
đã đưa ra nhiều lập luận ủng hộ sự phân quyền trong việc thực thi chính sách tài khoá.
Họ cho rằng: (i) sự phân quyền sẽ làm tăng tính hiệu quả của các khoản chi bởi vì các
chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn so với chính quyền trung ương; (ii) chính
quyền địa phương có thể cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng thiết thực hơn đối
với nhu cầu của cộng đồng địa phương, do họ nắm bắt được các đặc tính khác biệt về
mặt địa lý, con người… Davoodi và Zou (1998) giả định rằng chi tiêu chính phủ có
16
thể được phân thành ba cấp: trung ương, bang, và địa phương. Mức độ phân cấp trong
việc thực thi chính sách tài khoá được xác định theo tỷ phần chi tại các cấp địa phương
so với tổng chi tiêu chính phủ. Ví dụ mức độ phân cấp sẽ tăng nếu chi tiêu cấp địa
phương và chi tiêu cấp bang tăng một cách tương đối so với chi ở cấp trung ương.
Giống như trong Barro (1990), Davoodi và Zou (1998) sử dụng hàm sản xuất với hai
đầu vào là tư bản tư nhân và chi tiêu chính phủ. Chi tiêu chính phủ được chia thành
ba cấp: trung ương, bang, và địa phương. Nếu kí hiệu k là lượng tư bản tư nhân, g là
tổng chi tiêu chính phủ, f là chi ở cấp chính quyền trung ương, s là chi ở cấp chính
quyền bang, và l là chi ở cấp chính quyền địa phương (tất cả các biến đều được đo
lường dưới dạng bình quân đầu người), mô hình của họ có thể được tóm tắt qua một
số phương trình sau:
Hàm sản xuất Cobb-Douglas:
𝑦 = 𝑘 𝛼 𝑓𝛽 𝑠 𝛾 𝑙𝜔 ,
(3.1)
trong đó y là sản lượng bình quân đầu người, 0 < α, β, γ, ω < 1 và α+β+γ+ω=1.
Chi tiêu chính phủ: