Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN HOÀI SƠN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA
ĐẦU TƢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
CỦA TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Đức Lợi
Khoa Quản Trị Kinh Doanh; cán bộ và chuyên viên Phòng QLĐT Sau Đại
học - Trƣờng ĐH Kinh tế và QTKD Thái Nguyên đã hƣớng dẫn và giúp đỡ
tôi về các điều kiện trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, lãnh đạo các ban ngành tỉnh
Quảng Ninh đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện luận văn.
Để có đƣợc kiến thức nhƣ ngày hôm nay, cho phép em gửi lời cảm ơn
sâu sắc đến Quý thầy, cô trƣờng Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
thuộc Đại học Thái Nguyên trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những
kiến thức quý báu. Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình.
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2013
Tác giả luận văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của luận văn 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 36
3.1.1. Vị trí địa lý 36
3.1.2. Tài nguyên thiên nhiên 39
3.1.3. Dân số, lao động và mức sống dân cƣ 42
3.1.4. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 43
3.2. Thực trạng đầu tƣ công và tăng trƣởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh 47
3.2.1. Tổng quan tăng trƣởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2012 47
3.2.2. Thực trạng đầu tƣ công của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2012 . 49
3.3. Tác động của đầu tƣ công tới tăng trƣởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh 52
3.3.1. Đo lƣờng hiệu quả của đầu tƣ công đối với nền kinh tế tỉnh
Quảng Ninh 52
3.4. Những thành tựu đạt đƣợc, một số hạn chế và bài học kinh nghiệm 58
3.4.1. Những thành tựu đạt đƣợc 58
3.4.2. Hạn chế 59
3.4.3. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm 60
Chƣơng 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
TỈNH QUẢNG NINH 62
4.1. Quan điểm, phƣơng hƣớng, mục tiêu của tỉnh Quảng Ninh giai
đoạn 2012-2020 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
4.1.1. Quan điểm phát triển 62
4.1.2. Mục tiêu tăng trƣởng kinh tế tới năm 2020 63
4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả và tác động của đầu tƣ công đến tăng
trƣởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh 67
4.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc trong đầu tƣ công 67
4.2.2. Giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tƣ từ khu vực ngoài nhà nƣớc để
Bảng 3.6: So sánh hiệu quả kinh tế nguồn vốn đầu tƣ công cho các ngành
kinh tế tỉnh Quảng Ninh 55
Bảng 3.7: Bảng kết quả hồi quy đánh giá tác động của đầu tƣ công đến tăng
trƣởng kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh 57
Biểu đồ 3.1: Hệ số ICOR của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 - 2012 54
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Đầu tƣ bằng nguồn vốn Nhà nƣớc (chỉ tính phần ngân sách Nhà nƣớc và
trái phiếu Chính phủ) vào các dự án, các chƣơng trình mục tiêu quốc gia thuộc
các lĩnh vực phục vụ công ích, không nhằm mục đích kinh doanh (đầu tƣ công)
có vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết cầu hạ tầng kỹ thuật,
kinh tế và xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nƣớc. Phần vốn này đƣợc
Nhà nƣớc giao cho các Bộ, ngành và các địa phƣơng, các đơn vị thuộc lực
lƣợng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quản lý và sử dụng
theo quy định của pháp luật, trong giai đoạn 2001-2005 khoảng 286 nghìn tỷ
đồng, chiếm trên 23% tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội; trong giai đoạn 2006-2010
ƣớc đạt trên 739 nghìn tỷ đồng, khoảng trên 24% tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội.
Giai đoạn sau năm 2010, dự kiến tỷ trọng phần vốn đầu tƣ này cũng tƣơng tự
nhƣ các giai đoạn trƣớc đó. Nhƣ vậy, tỷ trọng vốn Nhà nƣớc cho đầu tƣ các dự
án công, các Chƣơng trình mục tiêu là rất lớn. Việc quản lý và sử dụng có hiệu
quả phần vốn đầu tƣ này là rất quan trọng và cần thiết.
Đầu tƣ công ở Việt Nam hiện đƣợc hiểu là đầu tƣ từ các nguồn vốn của
nhà nƣớc, bao gồm đầu tƣ phát triển từ NSNN, trái phiếu chính phủ, tín dụng
nhà nƣớc (thông qua ngân hàng phát triển Việt Nam), vốn ODA, đầu tƣ phát
cần phải phát huy tối đa tiềm năng lợi thế, sớm trở thành một tỉnh trọng điểm
trong vùng kinh tế động lực phía Bắc.
Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động của đầu
tƣ công đến tăng trƣởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh”
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích tác động của đầu tƣ công tới tăng trƣởng kinh tế. Trên cơ sở
đó đề tài sẽ gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của đầu tƣ công
tới tăng trƣởng kinh tế.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tƣ công, tăng trƣởng kinh tế và mối
quan hệ giữa đầu tƣ công và tăng trƣởng kinh tế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
- Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tƣ công, tăng trƣởng kinh tế của tỉnh
Quảng Ninh
- Phân tích tác động của đầu tƣ công đến tăng trƣởng kinh tế của tỉnh
Quảng Ninh trong giai đoạn 2008-2012
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tƣ công đối với
tăng trƣởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2013-2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng đầu tƣ công, tăng trƣởng kinh tế và tác động của đầu tƣ
công tới tăng trƣởng kinh tế
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về thực trạng đầu tƣ công và tăng
trƣởng kinh tế. Tìm hiểu tác động của đầu tƣ công tới tăng trƣởng kinh tế
trong thời gian qua, từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả của đầu tƣ công
ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư
Theo ngân hàng thế giới: Đầu tƣ là sự bỏ vốn trong một thời gian dài
vào một lĩnh vực nhất định (nhƣ thăm dò, khai thác, chế biến, sản xuất kinh
doanh, dịch vụ …) và đƣa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp tƣơng lai
trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn và có lợi nhuận cho nhà đầu tƣ
và lợi ích kinh tế xã hội cho đất nƣớc đƣợc đầu tƣ.
Theo luật đầu tư của Việt Nam năm 2005: Đầu tƣ là việc các nhà đầu tƣ
bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến
hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định và các luật pháp liên quan.
Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tƣ chỉ việc gia tăng tƣ bản nhằm tăng
cƣờng năng lực sản xuất tƣơng lai. Do vậy, đầu tƣ còn đƣợc gọi là hình thành
tƣ bản hoặc tích lũy tƣ bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tƣ bản làm tăng năng lực
sản xuất vật chất mới đƣợc tính vào quá trình đầu tƣ. Các hoạt động tăng tƣ
bản khác bị loại trừ (ví dụ trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất
động sản). Việc gia tăng tƣ bản tƣ nhân (tăng thiết bị sản xuất) đƣợc gọi là
đầu tƣ tƣ nhân. Việc gia tăng tƣ bản xã hội đƣợc gọi là đầu tƣ công cộng.
Các hoạt động sử dụng nguồn lực để xây dựng các công trình cơ sở hạ
tầng cho nền kinh tế (nhƣ đƣờng giao thông, hệ thống cấp thoát nƣớc đô thị )
đƣợc gọi là đầu tƣ phát triển. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tƣ
phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tƣ bao gồm tiền vốn,
đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
Nhƣ vậy, đầu tƣ là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời gian
7
nƣớc không nằm trong đầu tƣ công, nhƣ vậy là không hoàn toàn chính xác vì
DNNN có nguồn vốn chủ yếu và quan trọng từ ngân sách nhà nƣớc, do đó
không thể coi đó là đầu tƣ tƣ nhân đƣợc. Hiện nay, khái niệm “đầu tƣ công”
trƣớc khi đƣợc luật hóa thì vẫn đƣợc quan niệm một cách đơn giản nhƣ sau:
Đầu tƣ công bao gồm các khoản đầu tƣ do Chính phủ và các doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế nhà nƣớc thực hiện. Trong quan niệm này, đầu tƣ công
đƣợc xét từ góc độ sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tƣ. Nhƣ vậy đầu tƣ
công là đầu tƣ bằng nguồn vốn nhà nƣớc theo qui định của pháp luật hiện
hành, bao gồm: - Vốn ngân sách nhà nƣớc- Vốn tín dụng do nhà nƣớc bảo
lãnh- Vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc- Vốn đầu tƣ sản xuất của
các DNNN và các vốn khác do nhà nƣớc quản lý. Cách hiểu này là phổ biến,
dể hiểu và đã phản ánh đƣợc đúng bản chất của đầu tƣ công và thể hiện đƣợc
đầu tƣ công là đối tƣợng của chính sách đầu tƣ của nhà nƣớc hiện nay.
1.1.1.3. Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản lƣợng quốc gia trong một
thời kỳ nhất định (thƣờng tính cho một năm). Sự tăng trƣởng đƣợc so sánh theo
các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trƣởng kinh tế, đó là sự gia tăng quy
mô sản lƣợng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ
tăng truởng là hai nội dung chủ yếu trong khái niệm tăng trƣởng kinh tế. Hiện
nay, trên thế giới ngƣời ta thƣờng tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải xã
hội bằng các đại lƣợng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng sản phẩm
quốc nội (GDP).
Tăng trƣởng là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng hàng đầu có liên
quan mật thiết đến việc làm, lạm phát Tuy nhiên tăng trƣởng kinh tế chỉ
nhìn xem xét trên thu nhập tăng thêm thì chƣa đủ, mà tăng trƣởng phải bền
vững, không nên khai thác triệt để mọi nguồn lực để tăng trƣởng sẽ để lại hậu
quả không tốt mà các thế hệ tƣơng lai phải gánh chịu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Nhƣ vậy, ta thấy tăng trƣởng kinh tế chƣa phải là phát triển kinh tế.
Tăng trƣởng kinh tế, mặc dù rất quan trọng, nhƣng mới chỉ là điều kiện cần
của phát triển kinh tế. Điều kiện đủ của phát triển kinh tế là trong quá trình
tăng trƣởng kinh tế phải đảm bảo đƣợc tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục
tiêu và tăng trƣởng kinh tế trƣớc mắt phải đảm bảo tăng trƣởng kinh tế trong
tƣơng lai.
1.1.2. Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội
Nhƣ đã nói ở trên, đầu tƣ công có nghĩa là nhà nƣớc sử dụng nguồn vốn
thuộc sở hữu của mình để tiến hành đầu tƣ nhằm đạt đƣợc các mục tiêu nhất
định. Vậy một câu hỏi đƣợc đặt ra là tại sao nhà nƣớc lại phải dùng đến nguồn
vốn của mình mà không để cho khu vực tƣ nhân thực hiện các chƣơng trình,
dự án đó, có khả năng sẽ đạt hiệu quả cao hơn trong đầu tƣ. Bởi trong thực
tiễn đời sống kinh tế xã hội, có nhiều lĩnh vực, nhiều dự án mà tƣ nhân không
đủ khả năng hoặc đủ khả năng mà không muốn thực hiện. Ví dụ nhƣ các dự
án xây dựng công trình cầu, đƣờng, các công trình công cộng; đầu tƣ phát
triển cho vùng miền núi, dân tộc thiểu số, Bởi đó đều là những dự án phải
bỏ nhiều vốn đầu tƣ ban đầu, thời gian thu hồi vốn lâu, hoặc khả năng thu hồi
đƣợc vốn là không cao. Do đó, việc đầu tƣ của nhà nƣớc để đảm bảo các nhu
cầu tối thiểu của cộng đồng đƣợc đáp ứng, giữ vững ổn định xã hội, tránh tình
trạng bất công bằng, bất bình đẳng trong xã hội. Vai trò của đầu tƣ công đƣợc
thể hiện trên ba khía cạnh quan trọng sau:
- Thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế dựa trên việc đầu tƣ cho các công trình
hạ tầng, cơ sở vật chất - kĩ thuật tối thiểu chung cho xã hội. Đây cũng đồng
thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nƣớc
đầu tƣ và phát triển. Ngoài ra, đầu tƣ công giúp cho có cơ hội đƣợc tập trung
nguồn lực cao, hoặc Trung ƣơng có thể điều tiết đƣợc một cách hợp lý các
kinh phí cho hoạt động đầu tƣ diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng.
Thứ ba là thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: việc thực
hiện đầu tƣ công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
trong lĩnh vực đầu tƣ xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách. Về nguyên tắc,
các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạnh cho hoạt
động quản lý tối ƣu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án đƣợc thuận lợi.
Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất,
bảo đảm định hƣớng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội.
Thứ tƣ là bối cảnh thực tế: các yếu tố kinh tế, xã hội , chính trị, tiến bộ
khoa học công nghệ. đều có ảnh hƣởng đến hoạt động, kết quả đạt đƣợc của
dự án đầu tƣ. Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự
án, hoặc ngƣng không thực hiện dự án nữa do không còn phù hợp.
Thứ năm là công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: sự ủng hộ
hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án.
Các dự án công bị ngƣời dân phản đối, ngăn chặn ngay từ khâu giải tỏa mặt
bằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về sau. Bên cạnh đó, mỗi dự án đƣợc thực hiện
sẽ mang lại lợi ích và bất lợi cho những nhóm đối tƣợng khác nhau và do vậy
cũng sẽ nhận đƣợc sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tƣợng tƣơng ứng.
1.1.4. Các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế
* Nhân tố kinh tế
Có thể tiếp cận chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế trên nhiều giác độ khác
nhau nhƣ: theo nhân tố đầu vào, theo kết quả đầu ra, theo cấu trúc ngành kinh
tế, theo năng lực cạnh tranh, … Trên giác độ các yếu tố đầu vào, một nền kinh
tế đạt đƣợc tăng trƣởng dựa chủ yếu vào ba nhân tố chính: Vốn, lao động và
năng suất các nhân tố tổng hợp.
+ Cơ cấu dân tộc: Trong một quốc gia có thể có rất nhiều dân tộc,
chủng tộc ngƣời cùng chung sống, nhƣng do điều kiện sống khác nhau nên đã
tạo ra sự khác nhau về trình độ phát triển văn hóa, về mức sống, vị trí chính
trị… Khi sự phát triển của tổng thể nền kinh tế có thể đem đến những biến đổi
có lợi cho dân tộc này nhƣng lại bất lợi cho những tộc ngƣời kia. Do vậy, phải
lấy tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi cho tất cả các dân tộc, khắc phục đƣợc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
sự xung đột và mất ổn định chung của cộng đồng. Điều đó sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình tăng trƣởng và phát triển.
+ Cơ cấu tôn giáo: Vấn đề tôn giáo đi liền với vấn đề dân tộc. Mỗi
ngƣời theo một tôn giáo riêng, mỗi tôn giáo có những quan niệm riêng, triết lý
tƣ tƣởng riêng ăn sâu vào cuộc sống của họ từ lâu đời tạo ra những ý thức tâm
lý xã hội của từng dân tộc. Những ý thức tôn giáo thƣờng là cố hữu, ít thay
đổi theo sự phát triển của kinh tế xã hội. Những thiên kiến của tôn giáo nói
chung có ảnh hƣởng tới sự tiến bộ xã hội tùy theo mức độ, song có thể có sự
hòa hợp nhằm góp phần thúc đẩy xã hội phát triển nếu có những chính sách
phù hợp của Chính phủ.
+ Đặc điểm văn hóa xã hội: Nhân tố văn hóa bao trùm nhiều mặt từ các
tri thức phổ thông đến các tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa
học, nghệ thuật, lối sống… Trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là một nhân tố
cơ bản tạo ra cac yếu tố về chất lƣợng của lao động, của kỹ thuật, của trình độ
quản lý kinh tế xã hội. Cho nên việc đầu tƣ cho sự nghiệp phát triển văn hóa
giáo dục đƣợc coi là những đầu tƣ cần thiết nhất và đi trƣớc một bƣớc so với đầu
tƣ sản xuất.
+ Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội: Ngày nay ngƣời ta càng thừa
nhận vai trò của thể chế chính trị xã hội nhƣ là một nhân tố trong quá trình
tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Nhân tố này tác động đến quá trình tăng
trƣởng kinh tế. Hệ số ICOR thay đổi tùy theo thực trạng kinh tế - xã hội trong
từng thời kỳ khác nhau, phụ thuộc vào cơ cấu đầu tƣ và hiệu quả sử dụng các
sản phẩm vật chất và dịch vụ trong nền kinh tế.
Hệ số ICOR thấp chứng tỏ đầu tƣ có hiệu quả cao, hệ số ICOR thấp hơn
có nghĩa là để duy trì cùng một tốc độ tăng trƣởng kinh tế cần một tỉ lệ vốn đầu
tƣ so với tổng sản phẩm trong nƣớc thấp hơn. Tuy nhiên, theo quy luật về lợi tức
biên giảm dần thì khi nền kinh tế càng phát triển (GDP bình quân đầu ngƣời tăng
lên) thì hệ số ICOR sẽ tăng lên, tức là để duy trì cùng một tốc độ tăng trƣởng cần
một tỉ lệ vốn đầu tƣ so với tổng sản phẩm trong nƣớc cao hơn.
ICOR của mỗi nƣớc phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình
độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nƣớc. Ở các nƣớc phát triển,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
ICOR thƣờng lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn đƣợc sử dụng nhiều
để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao. Ở các
nƣớc chậm phát triển, ICOR thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có
thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử dụng công nghệ
kém hiện đại, giá rẻ. Thông thƣờng ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong
công nghiệp, và ICOR luôn có xu hƣớng tăng lên.
- Mô hình tăng trưởng D. Ricardo: Theo Ricardo, nông nghiệp là
ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó ông cho rằng các yếu tố cơ bản của tăng
trƣởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong từng ngành và phù hợp với
một trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ
cố định không thay đổi.
Trong ba yếu tố kể trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất. Đất đai
chính là giới hạn của tăng trƣởng. Vì khi sản xuất nông nghiệp trên những
mảnh đất kém màu mỡ thì giá trị lƣơng thực thực phẩm sẽ tăng lên, mà lƣơng
thực thực phẩm là bộ phận quan trọng nhất để đảm bảo đời sống của gia đình
và bán quá lớn sẽ gây khủng hoảng. Khủng hoảng của chủ nghĩa tƣ bản là
khủng hoảng thừa do cung lớn hơn cầu. Sự tích lũy tƣ bản, sự cạnh tranh chèn
ép trong kinh doanh làm gia tăng giai cấp vô sản. Sau khủng hoảng nền kinh
tế trở nên kiệt quệ. Để thoát khỏi các nhà tƣ bản phải đổi mới trang thiết bị kỹ
thuật tƣ bản cố định và quy mô sản xuất làm cho nền kinh tế phục hồi và phát
triển, quá trình kinh tế phát triển theo chu kỳ.
- Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế: Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ
chuyển biến mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, những thành tựu mới của khoa
học kỹ thuật đã ảnh hƣởng tới tƣ tƣởng của các nhà kinh tế học lúc bấy giờ tạo
nên một trào lƣu mới và đã hình thành nên trƣờng phái kinh tế mới đứng đầu là
Alfred Marshall. Những tƣ tƣởng mới này có những điểm mới so với các nhà
kinh tế học cổ điển nhƣng cũng có những quan điểm thống nhất với họ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
17
Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổ
điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất
định về lao động và vốn, họ cho rằng vốn có thể thay thế đƣợc nhân công,
trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách khác nhau trong việc kết hợp các
yếu tố đầu vào.
Các nhà kinh tế học tân cổ điển cũng đƣa ra khái niệm tăng trƣởng theo
chiều sâu nghĩa là gia tăng vốn trên một đơn vị lao động trong sản xuất, còn
sự gia tăng vốn tƣơng ứng với sự gia tăng về lao động đƣợc gọi là tăng trƣởng
kinh tế theo chiều rộng.
Hơn nữa, các nhà kinh tế học tân cổ điển còn cho rằng tiến bộ kỹ thuật
là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Và họ cố gắng giải thích
nguồn gốc của sự tăng trƣởng thông qua hàm sản xuất. Hàm số này nêu lên
mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu
vào nhƣ: Vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ.