Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN VĂN HƢNG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ CÔNG

ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CỦA
TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 - 34 - 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG THỊ THU


đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Công ty liên doanh
công nghiệp kẽm Việt Thái nơi tôi đang công tác, Cục thống kê tỉnh Thái
Nguyên, Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên và các đồng nghiệp, bạn
học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tham khảo và thu thập số liệu để hoàn thành
luận văn này.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn của mình, tuy
nhiên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được
sự đóng góp quý báu của Thầy cô giáo và các bạn.
Thái Nguyên ngày 18 tháng 5 năm 2012
Học viên thực hiện luận văn Nguyễn Văn Hƣng iii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của luận văn 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của Luận văn 3
5. Bố cục của luận văn 3

3.2.4. Một số vấn đề đặt ra đối với đầu tư công và tăng trưởng kinh tế của
tỉnh Thái Nguyên 57
Chƣơng 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ CÔNG ĐẾN TĂNG
TRƢỞNG KINH TẾ CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN 65
4.1. Quan điểm, phương hướng, mục tiêu đầu tư công của tỉnh Thái Nguyên 65
4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả và tác động đầu tư công của tỉnh
Thái Nguyên 67
4.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong đầu tư công 67
4.2.2. Giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước để
giảm áp lực tài chính cho khu vực công, tạo cơ hội đầu tư hiệu quả
cho khu vực công 72
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 78
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
XDCB : Xây dựng cơ bản
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GNP : Tổng sản phẩm quốc dân
ICOR : Hệ số đầu tư tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của các Quốc gia nói chung và
Việt Nam nói riêng, trong đó đầu tư công đóng một vai trò quan trọng đối với
tăng trưởng kinh tế ở các nước trên thế giới cũng như Việt Nam. Các nghiên
cứu Quốc tế và trong Nước cho thấy đầu tư công hiệu quả dẫn đến tăng
trưởng và phát triển kinh tế bền vững và đồng đều hơn. Do vậy, việc nghiên
cứu tác động đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của địa phương giúp các
nhà quản lý và hoạch định chính sách tham khảo để nâng cao hiệu quả trong
quá trình đầu tư.
Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm kinh tế xã hội của các tỉnh trung du
miền núi phía Bắc, chiếm vai trò quan trọng trong đóng góp vào tăng trưởng
kinh tế của khu vực và cả Nước, với vị trí tương đối thuận lợi nằm giáp thủ đô
Hà Nội, là cửa ngõ nối liền Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, cái
nôi của ngành công nghiệp luyện kim đầu tiên của nước Việt Nam với nhiều
nguồn tài nguyên khoáng sản, đồng thời là trung tâm giáo dục lớn thứ ba của
cả nước. Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế của tỉnh đã có sự tiến
triển vượt bậc, kết quả của công cuộc đổi mới đã nâng cao thu nhập, chất
lượng cuộc sống của người dân được cải thiện đáng kể, thu nhập bình quân
đầu người năm 2010 đạt 17,52 triệu đồng, nhưng vẫn thấp hơn so với bình
quân chung của cả nước (22,79 triệu đồng); tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo (theo
chuẩn nghèo mới) là 31,2%, chiếm 1/3 số hộ toàn tỉnh. Với tiềm năng và lợi
thế sẵn có cho thấy sự phát triển của tỉnh hiện nay vẫn chưa tương xứng.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng
trưởng kinh tế, Luận văn cố gắng thực hiện các phân tích về đóng góp của đầu
tư công của tỉnh Thái Nguyên đối với sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh.
Từ đó rút ra được mối quan hệ rõ nét, làm cơ sở đề xuất những giải pháp giúp 2
cho việc đầu tư công (đầu tư của Nhà nước) ngày càng đóng góp nhiều hơn
nữa cho sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên.

3
Tác động của hoạt động đầu tư đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên;
và (4) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư công và tác
động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên.
Không gian nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh
Thái Nguyên.
Thời gian nghiên cứu của luận văn được sử dụng số liệu lấy từ năm
2001 đến năm 2010.
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của Luận văn
Căn cứ vào cơ sở lý luận về đầu tư và tăng trưởng kinh tế cùng những
nghiên cứu của các tác giả đi trước,
Luận văn
thông qua quá trình phân tích và
kiểm chứng bằng số liệu thực tế để đánh giá được tác động đầu tư công đến tăng
trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là theo hướng tích cực hay tiêu cực.
Góp phần đánh giá đúng tác động đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị để thực hiện đầu tư công có hiệu quả
hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh cao và bền vững trong dài hạn.
Là tài liệu giúp cho các nhà hoạch định chính sách của tỉnh xây dựng
kế hoạch quản lý và sử dụng đầu tư công.
Đánh giá tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế nhằm đưa
ra chính sách tốt hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
5. Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 chương chính, bao gồm:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của đầu tư công đến
tăng trưởng kinh tế.
Chƣơng 2: Phương phá p nghiên cứ u
Chƣơng 3: Phân tích thực trạng đầu tư công và tác động của đầu tư
công đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên.

phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm tiền vốn,
đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ 5
Như vậy, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời
gian nhất định ở hiện tại để thu được lợi nhuận kinh tế và lợi ích xã hội trong
tương lai.
1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm đầu tư công
* Khái niệm đầu tư công
Đầu tư công là việc Nhà nước chi ra một lượng vốn nhất định để mua
sắm tài sản công, phát triển hạ tầng, chi cho văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói
giảm nghèo. Nhà nước thường giao cho một tổ chức hoặc thành lập ban quản
lý dự án để quản lý nguồn vốn này.
* Đặc điểm đầu tư công
- Lượng vốn bỏ ra lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài.
Hàng hóa công là loại hàng hoá không có tính cạnh tranh trong tiêu
dùng. Tính phi cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện cùng một lúc có hơn một
người tận hưởng những lợi ích từ hàng hoá công, và chi phí đáp ứng nhu cầu
đòi hỏi các đối tượng tiêu dùng tăng thêm này là bằng không. Phần lớn hàng
hoá công do Chính phủ cung cấp và ngoài ra còn có thể huy động sự tham gia
của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hoá công của xã hội.
Hàng hoá công có tính tiêu dùng chung, khi hàng hoá công được cung
cấp thì không thể loại trừ hoặc rất tốn kém để loại trừ một người nào đó tiêu
dùng hàng hoá mà không chịu trả tiền cho hành động tiêu dùng của
mình.

Tại sao Chính phủ phải cung cấp hàng hoá công? Nguyên nhân là có sự
thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hoá công, tính không hiệu
quả do khu vực tư cung cấp hàng hoá công và làm giảm phúc lợi xã hội. Sự

sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện nên Nhà nước phải tăng cường quy
mô đầu tư từ ngân sách Nhà nước để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hoá. Đi
đôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng để đáp ứng
với nhu cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục 7
tiêu kinh tế xã hội… Quy mô chi đầu tư công của Nhà nước sẽ giảm dần theo
mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hoá và mức độ phát triển của
khu vực kinh tế tư nhân. Khi đó chi đầu tư phát triển của Nhà nước chủ yếu
tập trung vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các
khoản chi cho vay chỉ định, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội
sẽ được cắt giảm.
- Chi đầu tư công phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu
quả vốn đầu tư.
Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên sẽ
dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ
tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư. Sự
gắn kết giữa hai nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan,
không tính đến hiệu quả khai thác.
Nội dung chi đầu tư công gồm bốn lĩnh vực: Chi xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ
vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực
hiện tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; chi dự trữ Nhà nước. Trong đó,
chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng (hay còn gọi là chi đầu tư xây dựng cơ
bản) là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức
không hoàn trả. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của Nhà nước
hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các
ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các
công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng.

1.1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công
- Năng lực của cơ quan Nhà nước: Năng lực quản lý được xem là yếu
tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án. Để dự án đạt được
hiệu quả cao nhất đòi hỏi các cơ quan quản lý đầu tư và thực hiện đầu tư có sự 9
hiểu biết, trình độ, năng lực để lựa chọn được dự án tốt nhất, xây dựng dự án
với nguồn kinh phí tiết kiệm và mức độ tác động đến kinh tế - xã hội cao nhất,
đảm bảo nguồn nhân lực để thực hiện dự án đầu tư.
- Kinh phí: Kinh phí hoạt động đầu tư công chủ yếu là những hoạt động
đầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí cần được quan tâm
chặt chẽ. Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu từ ngân sách Nhà nước. Do
nguồn ngân sách phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau nên việc
bảo đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là rất quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư.
- Thủ tục hành chính và các quy định của pháp luật: Thực hiện đầu tư
công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực
đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách. Về nguyên tắc, các thủ tục hành
chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạch cho hoạt động quản lý tối ưu,
tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi. Các quy định pháp luật
cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt
động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội một
cách cao nhất.
- Bối cảnh thực tế: Các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tiến bộ khoa
học công nghệ đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án
đầu tư. Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc
ngưng không thực hiện dự án do không còn phù hợp với tình hình thực tế.
- Công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: Sự ủng hộ hay phản
đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án. Các dự án

tổng sản lượng quốc gia sẽ có quan hệ phụ thuộc vào các nguồn lực đầu vào
của quốc gia. Một sự thay đổi tổng sản lượng quốc gia khi có sự thay đổi các
nguồn lực đầu vào. 11
Các lý thuyết tăng trưởng ra đời phân tích nguồn gốc của tăng trưởng
với nhiều quan điểm khác nhau, mỗi lý thuyết đầu có sự khám phá mới,
nhưng trên căn bản vẫn là phân tích mối quan hệ đầu ra với đầu vào.
Hầu hết các nhà kinh tế học thống nhất các yếu tố đầu vào cơ bản
của nền kinh tế, bao gồm: Vốn sản xuất là yếu tố tham gia trực tiếp vào
quá trình sản xuất để tạo ra tổng sản lượng quốc gia; Lao động là yếu tố
sản xuất đặc biệt có ảnh hưởng quan trọng đến gia tăng sản lượng quốc
gia; Đất đai nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên khác là tư liệu sản xuất
góp phần làm gia tăng sản lượng quốc gia; Công nghệ là đầu vào quan
trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng
sản lượng quốc gia.
Ngoài các yếu tố trên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào những
yếu tố phi kinh tế khác như: Thể chế kinh tế chính trị, đặc điểm về văn hoá
- xã hội
1.1.2.2. Vai trò của tăng trưởng kinh tế
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một Quốc gia thường được đánh giá theo
những dấu hiệu chủ yếu như: Ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội. Trong
đó, tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính
trị, xã hội.
Trước hết tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng sự tăng lên về số
lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng
trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng
kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con
đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng.

tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ
20 - 30 năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi
trường sinh thái. 13
1.1.2.3. Các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế
* Nhân tố kinh tế
Có thể tiếp cận chất lượng tăng trưởng kinh tế trên nhiều giác độ khác
nhau như: theo nhân tố đầu vào, theo kết quả đầu ra, theo cấu trúc ngành kinh
tế, theo năng lực cạnh tranh, … Trên giác độ các yếu tố đầu vào, một nền kinh
tế đạt được tăng trưởng dựa chủ yếu vào ba nhân tố chính: Vốn, lao động và
năng suất các nhân tố tổng hợp.
Vốn hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo
ra, tích lũy lại và những yếu tố tự nhiên… được sử dụng vào quá trình sản
xuất. Nói một cách khái quát, vốn là toàn bộ tài sản được sử dụng vào quá
trình sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra đầu ra. Nó
bao gồm: Máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tai, các cơ sở hạ
tầng kỹ thuật.
Lao động là yếu tố đầu vào đặc biệt, lượng lao động không chỉ đơn
thuần là số lượng (đầu người hay thời gian lao động) mà còn bao gồm chất
lượng của lao động. Đó là con người với trình độ tri thức và những kỹ năng,
kinh nghiệm lao động sản xuất nhất định.
Năng suất các nhân tố tổng hợp là các nhân tố tạo ra sự tăng trưởng
ngoài hai yếu tố vốn và lao động, nó phản ánh sự gia tăng chất lượng lao
động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ chức sản xuất. Năng suất
các nhân tố tổng hợp cũng phản ánh tiến bộ của khoa học công nghệ và hiệu
quả sử dụng vốn, lao động.
* Nhân tố phi kinh tế
Bao gồm các nhân tố: cơ cấu dân tộc, cơ cấu tôn giáo, đặc điểm văn

học, nghệ thuật, lối sống… Trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là một nhân tố
cơ bản tạo ra cac yếu tố về chất lượng của lao động, của kỹ thuật, của trình độ
quản lý kinh tế xã hội. Cho nên việc đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hóa 15
giáo dục được coi là những đầu tư cần thiết nhất và đi trước một bước so với
đầu tư sản xuất.
- Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội: Ngày nay người ta càng thừa
nhận vai trò của thể chế chính trị xã hội như là một nhân tố trong quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nhân tố này tác động đến quá trình tăng
trưởng và phát triển của một quốc gia theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp
lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư. Thể chế thể hiện thông qua các
dự kiến mục tiêu phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ
thống luật pháp, các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực
hiện. Chính vì vậy, một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo
điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những
điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược
lại một thể chế không phù hợp sẽ gây ra những cản trở, mất ổn định, thậm chí
đi đến phá vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy
thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra những xung đột chính trị xã hội.
Sự phối kết hợp các nhân tố kinh tế và phi kinh tế có ý nghĩa quan trọng
trong việc hoạch định và thực thi chiến lược tăng trưởng kinh tế của mỗi nước.
1.1.2.4. Mối quan hệ của tăng trưởng và phát triển kinh tế
Như trên đã đề cập, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc
GNP, hoặc thu nhập bình quân đầu người theo thời gian. Tăng trưởng kinh tế
thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của sự phát triển nói
chung. Nhưng phát triển kinh tế không phải là mục đích tự thân và cũng
không thể vô hạn. Nó phải phục vụ, thúc đẩy để đạt được các mục tiêu chung

ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó ông cho rằng các yếu tố cơ bản của tăng
trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong từng ngành và phù hợp với
một trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ
cố định không thay đổi. 17
Trong ba yếu tố kể trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất. Đất đai
chính là giới hạn của tăng trưởng. Vì khi sản xuất nông nghiệp trên những
mảnh đất kém màu mỡ thì giá trị lương thực thực phẩm sẽ tăng lên, mà lương
thực thực phẩm là bộ phận quan trọng nhất để đảm bảo đời sống của gia đình
công nhân, do đó tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng tăng theo tương
ứng, lợi nhuận của các nhà tư bản có xu hướng giảm. Nếu cứ tiếp tục như vậy
cho tới khi lợi nhuận hạ thấp không bù đắp được rủi ro trong kinh doanh làm
cho nền kinh tế trở nên bế tắc, địa tô ở mức cao, tiền lương ở mức tối thiểu,
lợi nhuận gần mức không, tích lũy tư bản và gia tăng dân số dừng lại. Theo
Ricardo, để giải quyết tình trạng này chỉ có thể bằng cách xuất khẩu hàng
công nghiệp để mua lương thực rẻ hơn từ nước ngoài, hoặc phát triển công
nghiệp để tác động vào nông nghiệp.
- Mô hình của K. Mark về tăng trưởng kinh tế: Theo Mark, các yếu tố
tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ
kỹ thuật. Mark đặc biệt quan tâm đến vai trò của người lao động trong việc
sản xuất ra giá trị thặng dư.
Mark cho rằng lao động là một loại hàng hóa đặc biệt được các nhà tư
bản mua bán trên thị trường và tiêu thụ trong quá trình sản xuất. Hàng hóa sức
lao động có thể tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. Mục đích của các nhà tư
bản là tăng giá trị thặng dư cho nên họ tìm cách tăng thời gian làm việc và
giảm tiền công của công nhân hoặc nâng cao năng suất bằng tiến bộ khoa học
kỹ thuật.
Để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì nhà tư bản phải cần

sự gia tăng vốn tương ứng với sự gia tăng về lao động được gọi là tăng trưởng
kinh tế theo chiều rộng.

Trích đoạn Thực trạng tăng trưởng kinh tế Thực trạng đầu tư công Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong đầu tư công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status