ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
________________________________
NGUYỄN VĂN HỒNG
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH
THƢƠNG MẠI TỰ DO ĐỐI VỚI HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________________
NGUYỄN VĂN HỒNG
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH
THƢƠNG MẠI TỰ DO ĐỐI VỚI HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Minh
1.4.4 Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) ..................35
1.4.5 Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN - Australia, New Zealand
(AANZFTA)...............................................................................................................38
1.4.6 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG) .............................40
1.4.7 Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) ...............................42
1.4.8 Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Chile (VCFTA) ..............................44
Chƣơng 2: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC FTA ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM......................................................................46
2.1 Tác động của FTA đến tăng trưởng kinh tế .......................................................46
2.2 Tác động của FTA đến chính sách và hoạt động thương mại ............................52
2.2.1 Những thay đổi trong chính sách thương mại của Việt Nam dưới tác động của
các FTA và hội nhập kinh tế quốc tế ........................................................................52
1
2.2.2 Tác động của FTA đến hoạt động xuất, nhập khẩu ........................................57
2.2.3 Tác động của FTA đến thương mại nội địa.....................................................72
2.3 Tác động của FTA đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ...........................................73
2.3.1 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các cam kết trong FTA .....73
2.3.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam dưới tác động của FTA và hội
nhập kinh tế quốc tế..................................................................................................79
Chƣơng 3: TRIỂN VỌNG, THÁCH THỨC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI
VIỆC THAM GIA CÁC FTA CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI ....82
3.1 Triển vọng, thách thức trong việc tham gia các FTA của Việt Nam trong những
năm tới ......................................................................................................................82
3.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế ......................................................................82
3.1.2 Lợi ích Việt Nam đạt được trong tham gia các FTA .......................................84
3.1.3 Những khó khăn và hạn chế của Việt Nam trong tham gia các FTA ..............86
3.2 Một số giải pháp đối với viê ̣c tham gia các FTA của Viê ̣t Nam trong thời gian
tới ..............................................................................................................................88
AHTN
Asean Harmonised Tariff Nomenclature
Danh mục biểu thuế quan hài hòa ASEAN
AIFTA
ASEAN-India Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ
AJCEP
ASEAN - Japan Comprehension Economic Partnership
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản
AKFTA
ASEAN - Korea Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATIGA
Asean Trade in Goods Agreement
Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN
CMEA
Council for Mutual Economic Assistance
Hội đồng tương trợ kinh tế
EHP
Early Harvest Programme
Chương trình thu hoạch sớm
3
EPA
Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác kinh tế
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA
Free Trade Agreement
Danh mục loại trừ
IMF
International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
LAFTA
Latin American Free Trade Association
Hiệp hội thương mại tự do Mỹ La-tinh
MERCOSUR
Mercado Común del Sur
Khối thị trường chung Nam Mỹ
MFN
Most Favoured Nation
Đãi ngộ tối huệ quốc
NAFTA
North America Free Trade Agreement
Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NT
Normal Track
Vietnam - Japan Economic Partnership Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tên bảng biểu
Số trang
Bảng 1.1: Số lượng FTA trên thế giới giai đoạn 1955 – 2011
15
Bảng 1.2: Số lượng FTA theo giai đoạn và khu vực
20
37
Bảng 1.11: Bảng phân tán số dòng thuế xoá bỏ thuế quan theo ngành của
Việt Nam theo Hiệp định AJCEP
38
Bảng 1.12: Cam kết thuế nhập khẩu (%) của Việt Nam đối với các mặt
hàng nhập khẩu chính
Bảng 1.13: Thuế suất trung bình (%) của Việt Nam trong Hiệp định
AITIG
Bảng 1.14: Thuế suất trung bình (%) của Việt Nam trong Hiệp định
VJEPA
Bảng 2.1: Tăng trưởng khu vực công nghiệp - xây dựng theo ngành, giai
đoạn 2002-2011
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng của từng ngành trong 2 giai đoạn 20012005 và 2006-2010
Bảng 2.3: Diễn biến kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và cán cân
thương mại giai đoạn 2004 – 2014
Bảng 2.4: Tăng trưởng xuất khẩu sang một số nước, vùng, lãnh thổ chủ
yếu
Bảng 2.5: Trị giá xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam với một số đối tác
giai đoạn 2008 – 2012
40
41
43
51
52
59
70
Bảng 2.12: 10 đối tác có vốn FDI lớn nhất vào Việt Nam đến năm 2014
81
Bảng 3.1: Tiếp cận chiến lược FTA đa cấp độ của Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020
95
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Kể từ sau khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời vào năm 1995, quá
trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới phát triển bùng nổ với nhiều biểu hiện mới về
quy mô, mức độ và phạm vi địa lí. Trong đó, xu hướng hình thành các hiệp định thương
mại tự do (FTA) trong khuôn khổ hệ thống thương mại thế giới trở thành một đặc điểm
nổi bật của quan hệ kinh tế quốc tế trong nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ XX và những
năm đầu của thế kỷ XXI. Đặc biệt, sự trì trệ và bế tắc của vòng đàm phán Doha đã biến
FTA trở thành một trào lưu trên thế giới nói chung và ở khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương nói riêng do các nước đã bị giảm đáng kể lòng tin vào một hệ thống thương mại
đa phương có tính chất toàn cầu. Các FTA dù mang tính chất liên khu vực, khu vực hay
song phương đều dần được coi là công cụ chính sách kinh tế đối ngoại chủ đạo của các
quốc gia nhằm tạo ra cơ chế để điều chỉnh và đối phó với sức ép cạnh tranh ngày càng
khốc liệt trong môi trường toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, những tiến triển về FTA trong hơn một
thập kỷ qua hầu như đều xoay quanh các nước ASEAN, đặc biệt là các nước Mỹ, Nhật
Mặc dù ngay từ năm 1992, Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) đã được
thành lập, nhưng xu hướng hình thành FTA tại khu vực Đông Á chỉ thực sự rõ nét và
phát triển nhanh chóng kể từ năm 1999 tới nay. Chính vì vậy, phải từ năm 2000 trở lại
đây, ở Việt Nam mới xuất hiện các bài viết, hội thảo và đề tài nghiên cứu cấp Bộ đầu
tiên chuyên về chủ đề xu hướng hình thành FTA trên thế giới cũng như tại khu vực
Đông Á. Trong đó, có thể kể đến các cuốn sách như “Hướng tới Cộng đồng Kinh tế
Đông Á” do GS.TS Đỗ Hoài Nam và PGS.TSKH Võ Đại Lược đồng chủ biên, “Đối
sách của các nước Đông Á trước việc hình thành các khu vực mậu dịch tự do (FTA) từ
cuối những năm 90” do PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh chủ biên, hay Đề tài nghiên cứu cấp
Bộ “Xu hướng các FTA trên thế giới: Hệ lụy, tác động và kiến nghị chính sách cho
Việt Nam” do Vụ Tổng hợp kinh tế, Bộ Ngoại giao chủ trì năm 2005. Về cơ bản, việc
hình thành các FTA trên thế giới và tại Đông Á đã được đề cập đến trong các công
trình nghiên cứu kể trên, tuy nhiên những phân tích về sự sự tác động của xu hướng
phát triển và thực tiễn sôi động của FTA tại Đông Á đến Việt Nam vẫn chưa được khai
thác nhiều.
Năm 2010, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn sách “Hướng tới
chiến lược FTA của Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á” của TS. Bùi
Trường Giang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. Cuốn sách được xem như
một công trình nghiên cứu mới nhất đề cập một cách tổng thể đến cơ sở lý thuyết và
các trường phái lý luận khác nhau về hội nhập kinh tế khu vực cũng như phân tích các
9
phương thức liên kết kinh tế tại khu vực Đông Á, trong đó tiêu biểu là phương thức ký
kết các hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, nội dung của cuốn sách cũng không đặt
trọng tâm đi sâu vào phân tích tác động ngày càng mạnh của các FTA đến các lĩnh vực
kinh tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Năm 2012, Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu Âu
(MUTRAP) do Liên minh Châu Âu tài trợ đã được thành lập với mục tiêu hỗ trợ Việt
Nam hội nhập sâu hơn vào hệ thống thương mại toàn cầu, ASEAN và hợp tác tiểu
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, khái quát xu hướng phát triển FTA trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực
Đông Á và quá trình tham gia các FTA của Việt Nam từ trước cho đến nay. Phân tích
các các cam kết của Việt Nam trong các FTA đã tham gia cho đến năm 2014.
Thứ hai, phân tích và đánh giá bước đầu về những tác động của các FTA đối với
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thể hiện trên các lĩnh vực tăng trưởng kinh tế,
hoạt động thương mại và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ ba, phân tích bối cảnh, triển vọng và thách thức của Việt Nam trong quá
trình tham gia các FTA trong những năm tới. Từ đó, đề tài bước đầu đưa ra một số giải
pháp đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung và quá trình
tham gia các FTA của Việt Nam nói riêng trong những năm tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung vào phân tích xu thế FTA trên thế
giới đồng thời tìm hiểu, đánh giá tác động của các FTA mà Việt Nam đã tham gia
trong những năm gần đây.
Về giới hạn không gian, luận văn đề cập đến xu hướng hình thành các FTA trên
phạm vi liên khu vực, khu vực và song phương cũng như các FTA mà Việt Nam đã
tham gia hoặc đang trong tiến trình đàm phán hiện nay.
Về giới hạn thời gian, do tập trung chủ yếu vào đánh giá tác động của việc tham
gia các FTA của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế nên đề tài sẽ giới hạn thời
gian nghiên cứu từ nửa cuối thập niên 90 cho tới năm 2014.
Về mặt nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu vào các xu hướng, đặc điểm của
FTA nói chung và các FTA mà Việt Nam tham gia nói riêng. Trên cơ sở đó, đánh giá
những tác động chủ yếu của quá trình Việt Nam tham gia các FTA ở 03 khía cạnh
chính là tăng trưởng kinh tế vĩ mô, hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài. Từ đó,
tác giả đưa ra một số định hướng, giải pháp cơ bản trong việc đàm phán tham gia các
FTA của nước ta nói riêng và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác kinh tế quốc tế.
Ngoài ra, đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn về một trong những xu hướng của quan
hệ kinh tế quốc tế hiện nay, cũng như tác động của nó đến quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
12
8. Bố cục và cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn này được chia
thành 03 chương với các nội dung cơ bản như sau:
- Chương 1: Luận văn nêu khái quát xu hướng phát triển của FTA trên thế giới,
trong đó nhấn mạnh đến đặc điểm của các FTA tại khu vực Đông Á và quá trình hội
tham gia các FTA của Việt Nam. Đồng thời, trong chương này, luận văn cũng đi vào
phân tích các cam kết của Việt Nam trong các FTA đã được nước ta ký kết cho đến
trước năm 2014.
- Chương 2: Luận văn đi sâu vào phân tích tác động của các cam kết FTA đến
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trên 03 lĩnh vực gồm: tăng trưởng kinh
tế vĩ mô, hoạt động thương mại và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Chương 3: Trên cơ sở phân tích bối cảnh, lợi ích và cả những thách thức của
Việt Nam khi tham gia các FTA trong bối cảnh khu vực và quốc tế hiện nay, luận văn
bước đầu đưa ra một số giải pháp đối với quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện FTA
của nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế những năm tới.
13
Chƣơng 1: XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN FTA VÀ QUÁ TRÌNH THAM GIA CÁC
FTA CỦA VIỆT NAM
Các liên kết kinh tế khu vực đang tồn tại một cách khách quan bên cạnh hệ thống
thương mại đa phương của WTO. Trước đó, chủ nghĩa khu vực thường mang hình thái
khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area) nhưng kể từ thập niên 1990, hình thái FTA
Trong số 199 FTA đang có hiệu lực, chỉ có 16 FTA được hình thành trước năm 1990,
con số này đã tăng lên 51 FTA vào thập niên 90 của thế kỷ XX và 120 FTA chỉ trong
thập niên đầu của thế kỷ XXI.
Bảng 1.1: Số lƣợng FTA trên thế giới giai đoạn 1955 – 2011
Nguồn: JETRO (2011), “2011 JETRO White Paper on International Trade and Foreign
Direct Investment”, Bảng II-7, tr.56.
Trong những năm gần đây, 02 xu hướng phát triển FTA xuất hiện ngày nhiều là
FTA liên khu vực và FTA giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới. Trong khi FTA giữa
các nền kinh tế nhỏ đang chiếm phần lớn, thì FTA giữa các nền kinh tế lớn có vai trò
quan trọng trên thế giới đã trở thành một xu hướng được nhiều nước quan tâm.
1.1.1 Xu hướng FTA tại các nước châu Âu
Trong nửa cuối thế kỷ XX, châu Âu được coi là khu vực tập trung nhiều nhất các
thỏa thuận thương mại khu vực, trong đó các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) là
nhóm nước tích cực ký kết và triển khai các FTA song phương và khu vực nhất.
Trước khi mở rộng với 28 thành viên như hiện nay, EU-15 đã đàm phán và ký
kết tổng cộng 111 hiệp định song phương và khu vực về thương mại với các nước trên
15
thế giới. Sau khi EU kết nạp thêm 10 nước thành viên vào tháng 5/2004, số lượng các
Hiệp định Thương mại Tự do trong EU đã giảm mạnh do việc kết nạp 10 thành viên
mới đã tự động “vô hiệu hóa” 65 FTA giữa các nước thành viên mới với 15 nước thành
viên cũ và giữa các nước thành viên mới với bên thứ ba trước khi kết nạp. Tuy nhiên,
không gian thị trường chung châu Âu mở rộng hiện nay đã gồm 28 nước thành viên với
hơn 500 triệu dân và chiếm khoảng 20% giá trị thương mại toàn cầu. Các hiệp định
thương mại tự do trong khuôn khổ EU giờ đây trở thành một bộ phận quan trọng của
quá trình tăng cường nhất thể hóa châu Âu về mặt chính trị và kinh tế, đồng thời có xu
hướng tích hợp thành các FTA có quy mô rộng lớn hơn.
Ở khu vực Trung và Đông Âu, sau sự tan rã của Liên bang Xô-viết, quá trình
các FTA còn hiệu lực với 20 nước trên thế giới. Đáng chú ý nhất hiện nay là khuôn khổ
Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Mỹ đang rất quan tâm xúc tiến tham gia
đàm phán.
Tại khu vực Trung và Nam Mỹ, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, các nước
Mỹ La-tinh đã thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Mỹ La-tinh (LAFTA). Không nằm
ngoài xu hướng thành lập FTA hiện nay, các nước khu vực Trung và Nam Mỹ cũng hết
sức tích cực với các thỏa thuận thương mại song phương và nội khối nhằm đạt mục tiêu
cao nhất là một liên minh thuế quan đầy đủ. Trong đó, những ví dụ sinh động nhất có
thể kể đến là Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR-1991), Cộng đồng Andean
(CAN-1969), Khối thị trường chung Trung Mỹ (CACM-1960) và Cộng đồng Caribe
(CARICOM-1973). Xét trên bình diện toàn châu lục, xu hướng hình thành FTA ở châu
Mỹ đang được triển khai theo hướng thành lập một Khu vực thương mại tự do toàn
châu Mỹ (FTAA) với 34 nước thành viên, tạo ra sự kết nối giữa NAFTA với
MERCOSUR, Cộng đồng Andean, CACM và CARICOM. Kế hoạch này đã được khởi
xướng tại Hội nghị Thượng đỉnh các nước châu Mỹ tại Miami – Mỹ (1994), nhưng mục
tiêu hoàn tất đàm phán vào năm 2005 đã không thực hiện được.
1.1.3 Xu hướng FTA tại khu vực Trung Đông và châu Phi
Tại khu vực Trung Đông, ngoài các hiệp định giữa Tổ chức Hợp tác Vùng Vịnh
(GCC), Nhóm các nước Địa Trung Hải với EU và Mỹ thì Jordan và Morocco là hai
quốc gia tích cực nhất trong việc xúc tiến thành lập FTA song phương với các nước
ngoài khu vực. Hiện nay, cả hai quốc gia này đều có FTA song phương với EU và Mỹ.
Bên cạnh đó, năm 1997, Khu vực Thương mại Tự do Đại Arab (GAFTA) chính thức
được tuyên bố thành lập và đến nay đã có sự tham gia của 17 nước trong khu vực.
Các quốc gia châu Phi từ lâu cũng tiến hành ký kết nhiều thỏa thuận và hiệp định
tăng cường liên kết kinh tế châu lục như Liên minh Thuế quan Nam Châu Phi (SACU),
Liên minh Tài chính và Tiền tệ Trung Phi (CEMAC), Cộng đồng Kinh tế Tây Phi
17
(ECOWAS), Hiệp định Thị trường chung Đông và Nam Phi (COMESA), Cộng đồng
thương lượng để thúc đẩ y xây dựng FTA . Đặc biệt, Nhật Bản tỏ ra tích cực trong hoạt
18
động này sau khi T rung Quốc đưa ra đề án lập FTA với
10 nước ASEAN vào tháng
11/2001. Trung Quố c và ASEAN đã đi vào giao đoạn thương lượng từ
năm 2003 với
mục tiêu thực hiện FTA giữa Trung Quố c với 6 nước thành viên cũ của ASEAN vào
năm 2010 và với 4 nước thành viên mới vào năm 2015. Nhiều mặt hàng, chủ yếu là
nông, lâm, thuỷ sản, được giảm thuế trước khi FTA chính thức thực hiện (gọi là chương
trình Thu hoạch sớm - Early Harvest).
Mặt khác, vào tháng 10/2003 tại Bali, lãnh đạo Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn
Quốc đã ra tuyên ngôn chung nhằm hướng tới việc lập FTA gồm 3 nước Đông Bắc Á
này. Ngoài ra, một số nhóm nghiên cứu đã được lập ra để tìm kiếm khả năng lập FTA
song phương giữa Nhật Bản và một số nước ASEAN như Thái Lan, Malaysia và
Philippines.
Nhìn chung, những tiến triển về FTA tại Đông Á cho đến nay có đặc tính là xoay
quanh các nước ASEAN. Đặc biệt, Nhật Bản và Trung Quốc đã thay nhau đưa ra đề án
FTA song phương giữa ASEAN với mình do đó tại khu vực này đang từng bước hình
thành các thể chế ASEAN+1. Trung Quốc, với chiến lược tăng cường ảnh hưởng tại
Đông Nam Á và tìm sự liên kết với khu vực này để phát triển các tỉnh phía Tây Nam
(Vân Nam, Quảng Tây,...), đã đưa ra một đề án FTA dễ thực hiện và rất có tính thuyết
phục đối với ASEAN. Chẳng hạn, chương trình Thu hoạch sớm đánh đúng vào lợi ích
đang nhắm tới của Thái Lan, Philippines và Indonesia là những nước đang muốn đẩy
nhanh xuất khẩu các mặt hàng nông , lâm, thuỷ sản . Còn các nước thành viên mới của
2010-6/2011
Tổng:
Châu Nga/CIS Trung Đông Châu
Âu
/Châu Phi
Mỹ
1
1
1
1
4
3
8
5
5
28
1
5
17
4
2
2
2
5
6
33
9
18
52
20
34
68
4
3
12
40
68
199
Nguồn: JETRO (2011), “2011 JETRO White Paper on International Trade and Foreign
Direct Investment”, Bảng II-8, tr.56.
Trong xu hướng tự do hóa thương mại 20 năm đầu của thế kỷ XXI ở Đông Á,
ASEAN một mặt tiếp tục thắt chặt quan hệ hợp tác với nhau hơn nữa, và mặt khác phát
triển liên kết với các nền kinh tế lớn ở Đông Bắc Á, trước hết là thể chế ASEAN+1 (với
từng nước Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc ), sau đó tiến dần đến thể chế
ASEAN+3. Trong bối cảnh đó, quá trình hình thành và phát triển các FTA tại khu vực
Đông Á đang có những chuyển biến nhanh chóng với những đặc điểm chính sau:
Các FTA tại Đông Á xuất hiện trong bối cảnh mức độ hội nhập kinh tế tự nhiên
trong khu vực đã khá cao
Đông Á, khu vực bao gồm các thành viên của ASEAN+3, là khu vực kinh tế
thương mại năng động nhất thế giới trong suốt ba thập kỷ qua (1980 - 2010) tạo thành
tiền đề vững chắc cho các bước hội nhập chính thức sâu hơn giữa các nước trong khu
vực. Tính đến năm 2003, thương mại nội khối của khu vực Đông Á-15 (gồm
ASEAN+3, Hồng Kông và Đài Loan) đã đạt mức 54%, cao hơn hẳn mức 24% của
Âu
APEC (điều chỉnh theo tái xuất)
APEC
TPP
1980 1990 1995 2000 2005 2006 2007 2008
-
-
-
41.9
44.1
43.2
43.1 44.2
33.2
28.9
15.9
14.9
33.0
28.6
17.0
15.8
15.1
23.4
35.1
30.9
15.8
16.5
21.7
36.2
32.0
17.3
20.7
27.4
43.7
40.4
21.7
22.3
26.4
44.9
41.9
23.8
23.9 23.9 23.9
26.0 25.4 25.6
47.7 46.9 46.6
44.1 43.1 42.5
25.0 25.1 25.2
64.6
65.1 63.9
57.5
7.6
67.5
8.5
71.6
8.9
71.4
72.3
7.2
68.2
69.3
6.9
67.1
68.3
7.1
65.8 64.1
67.0 65.2
7.0 7.1
Chú thích: Tỉ trọng thương mại nội khối được tính theo công thức: Xi/Xii x 100, trong đó Xi là
kinh tế trong khu vực.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thắng và Bùi Trường Giang (2005), những
thay đổi trong cơ cấu dòng vốn FDI nội khối cho thấy một loạt các mạng lưới sản xuất
khu vực (RPN) đang định hình, song về cơ bản liệu các mạng lưới sản xuất có bổ sung
lẫn nhau và tạo tiền đề cho một môi trường đầu tư Đông Á hài hòa hơn. Tuy nhiên, hoạt
động thương mại đầu tư năng động trong khu vực do các lực lượng thị trường (khu vực
doanh nghiệp) mang lại trong mấy thập kỷ qua chưa đủ sức vượt qua các rào cản phi
thuế quan, môi trường điều tiết khác biệt của từng quốc gia đang ngày càng bị “biến
dạng” bởi hàng loạt các Hiệp định (bảo hộ) đầu tư song phương (BIT). Thực tế này đã
tạo ra đòi hỏi khách quan cho chính phủ các quốc gia Đông Á cần phải xem xét nghiêm
túc các biện pháp hài hòa hóa môi trường đầu tư và điều tiết thị trường trong khu vực
thông qua quá trình hình thành các FTA với nhau.
22
Các hình thức FTA đã và đang được các nước Đông Á triển khai rất đa dạng,
nhiều cấp độ, nhiều kênh và có sự trùng lặp lẫn nhau.
Ở Đông Á đang hình thành cả các FTA Bắc - Nam như FTA song phương của
Nhật Bản với ASEAN và một số thành viên của ASEAN lẫn các FTA Nam - Nam như
FTA Trung Quốc - ASEAN. Khu vực cũng chứng kiến sự đa dạng về tên gọi chính thức
hiệp định và nội dung đàm phán như Trung Quốc thì ký kết cả Hiệp định Khung (FA)
lẫn Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), Nhật Bản thì dùng tên gọi Hiệp định đối tác
Kinh tế (EPA) hoặc Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA), còn Hàn Quốc thì
dùng cả tên FTA lẫn Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện (CECA). Sự khác
nhau về khái niệm, tên gọi của các FTA tại Đông Á cũng phản ánh sự đa dạng trong
cách tiếp cận nội dung các hiệp định này, theo đó các FTA/EPA hay FTA/CEC mà
Nhật Bản và Hàn Quốc (các FTA Bắc - Nam) thúc đẩy thường có nội dung và phạm vi
cam kết toàn diện, đưa vào nhiều thực tiễn và thông lệ thương mại mới, trong khi các
FTA mà Trung Quốc hay ASEAN thúc đẩy thì rất linh hoạt theo đối tác, có FTA toàn