Vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con người Việt Nam hiện nay - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN QUANG TUYNH

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ MỐI QUAN
HỆ GIỮA YẾU TỐ SINH HỌC VÀ YẾU TỐ XÃ HỘI TRONG CON
NGƯỜI VÀO VIỆC CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ SỨC KHỎE CHO CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ CNDVBC&CNDVLS

Mã số: 5 01 02

Người hướng dẫn: TS. NGUYỄN HÀM GIÁ

Hà nội - 2004


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................................... 2
3. Mục đích nhiệm vụ của luận văn ................................................................... 5
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .................................................... 5
5. đóng góp của luận văn .................................................................................. 5
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn....................................................... 6
7. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 6
NỘI DUNG ......................................................................................................................... 6


NXB

Nhà xuất bản

TDTT

Thể dục thể thao

KHHGĐ

Kế hoạch hoá gia đình


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện nay đã đưa con người
trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất nguồn lực cơ bản và vô tận. Con
người vừa là chủ thể, vừa là động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội. Nhận
thức rõ vấn đề này trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã đặt vấn đề
con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách kinh tế – xã hội, phát huy nhân
tố con người và vì con người, tạo điều kiện để con người phát triển hài hoà cả về
sức khỏe và trí tuệ, thể chất và tâm hồn. Đường lối phát triển kinh tế – xã hội do
Đảng ta đề xướng hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Đây là biểu hiện rõ rệt nhất về nhận thức của Đảng và nhà nước ta
về vai trò và vị trí của nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Đồng thời thể hiện rõ mục tiêu phát triển con người của Đảng ta trong giai
đoạn hiện nay.
Nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra, những năm qua Đảng và nhà nước ta đã


2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Triết học Mác - Lênin đã khẳng định con người là một bộ phận của thế giới tự
nhiên nhưng là một thực thể mang tính xã hội, một thực thể thống nhất hai mặt
(yếu tố) sinh học và xã hội. Hai mặt này không tách rời nhau, không đối lập nhau
mà thống nhất biện chứng với nhau. Mối quan hệ giữa chúng chi phối quá trình
hình thành, tồn tại và phát triển của con người. Đây là quan điểm hết sức biện
chứng và khoa học về con người. Nó đã tạo cơ sở khoa học cho triết học cũng như
các môn khoa học khác đi sâu vào nghiên cứu vấn đề con người.
Ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều tác phẩm, các bài viết, chuyên mục,
tạp chí bàn về con người ở nhiều khía cạnh khác nhau. Những năm về trước, dưới
góc độ triết học con người thường được bàn đến với tư cách là con người mới xã
hội chủ nghĩa mà ở đó chủ yếu đề cập đến nghĩa vụ của công dân đối với đất nước.


Vấn đề quyền lợi, sự công bằng xã hội cũng được đề cập nhưng còn mang tính tư
biện, ít gắn liền với thực tế. Những nhu cầu tự nhiên, tất yếu của con người chưa
được quan tâm thích đáng. Trong những năm gần đây kể từ đại hội Đảng lần thứ
VI, trong các nghị quyết của các kỳ đại hội, Đảng đã đặt con người vào vị trí trung
tâm của mọi chính sách kinh tế - xã hội thì việc nghiên cứu về con người ngày
càng được chú trọng hơn. Các công trình nghiên cứu con người đã đề cập đến
nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau. Chủ đề thường được chú ý đến trong các
công trình nghiên cứu là nguồn gốc, bản chất con người, nhân tố con người trong
lực lượng sản xuất, quyền con người, mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, yếu
tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người.
Trong đó một số công trình có tính chất lí luận là cơ sở cho sự phát triển con
người trong giai đoạn hiện nay ở nước ta của các tác giả Đặng Hữu Toàn [49,tr9],
Hồ Sĩ Quí [43], Nguyễn Anh Tuấn [53,tr24], Vũ Trọng Dung [13,58], Trần Văn
Toàn [50,tr59], Đặng Xuân Kỳ[29,tr29], Lê Quang Hoan [18], Trần Văn Giàu

cho việc nghiên cứu, phát triển con người.
Một số công trình triết học của các tác giả đã đề cập đến góc độ sức khỏe của
con người: Trần Văn Thụy [48,tr67], Nguyễn Hiền Lương [32], Lê Hồng Khánh
[27]... Trên cơ sở nghiên cứu con người trong chỉnh thể sinh học – xã hội các tác
giả bước đầu đã đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng của
công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.
Như vậy từ trước tới nay ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách có hệ thống về sự ảnh hưởng của mối liên hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố
xã hội đối với quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho con người. Đây là vấn đề
luận văn quan tâm.


3. MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

Mục đích: Luận văn tập trung phân tích quan điểm triết học Mác – Lênin về
con người - thực thể thống nhất giữa cái sinh học và cái xã hội, từ đó, luận giải cơ
sở khoa học và đưa ra một số hướng chủ yếu cho việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
cho con người trong điều kiện của nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ :
- Làm rõ quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người - thực thể thống
nhất giữa cái sinh học và cái xã hội.
- Luận giải mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học, xã hội và quá trình chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe cho con người.
- Nêu ra một số hướng chủ yếu vận dụng mối quan hệ đó để chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe cho con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác – Lênin, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát triển con người.
Đồng thời luận văn cũng tham khảo các tài liệu, các công trình nghiên cứu, các bài

Phần nội dung gồm 2 chương 5 tiết.


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ YẾU TỐ SINH
HỌC VÀ YẾU TỐ XÃ HỘI TRONG CON NGƢỜI
1.1. KHÁI NIỆM YẾU TỐ SINH HỌC VÀ YẾU TỐ XÃ HỘI

Vấn đề con người là vấn đề triết học có ý nghĩa đặc biệt được đề cập nhiều
trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Cả triết học Phương Đông và PhươngTây đều đã
cố gắng tìm hiểu và giải thích con người là gì? Bản tính con người do đâu chi
phối?.. và cũng đã có nhiều cách trả lời khác nhau.
Các nhà triết học cổ đại trong quá trình đi tìm hiểu bản tính con người đã đề
cập đến yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người. Một số nhà triết học
Phương Đông cổ đại cũng đã có những nhận thức khá sâu sắc về những yếu tố tự
nhiên ngự trị trong mỗi con người, qui định bản tính con người. Từ đó, họ đưa ra
một hệ thống các qui phạm đạo đức để tu dưỡng mình và nhằm giáo dục cho xã
hội. Một số trường phái triết học cũng đã đề cập đến mặt sinh học chi phối hành vi
con người như là bản năng (lục dục, thất tình). Theo họ, trong con người luôn diễn
ra sự chế ước lẫn nhau một bên là bản năng với một bên là ý thức con người. Các
nhà triết học Phương Tây cổ đại đã nhất trí rằng cái bản tính con người là yếu tố tự
nhiên, tất yếu, là cái giống nhau, cái bẩm sinh trong mỗi con người. Còn sự khác
nhau giữa con người đó là do môi trường tạo nên. Một số nhà triết học đã có những
tiêu chí để phân biệt giữa con người và con vật, tuy rằng họ chưa chỉ ra bản chất
sinh học và bản chất xã hội ở con người nhưng khi nói về con người các nhà triết
học đã đề cập đến một trong hai yếu tố đó trong tư tưởng triết học của mình.
Aristốt (384 –322 TCN) đã gọi con người là một “động vật chính trị”, có thể ông
đã nhận thấy trong con người có hai nhân tố khởi nguyên: động vật (sinh học) và
chính trị (xã hội). Mặc dù ông không đưa ra khái niệm yếu tố sinh học và yếu tố xã


Vấn đề con người đã được triết học cổ điển Đức nghiên cứu khá phong phú và
sâu sắc. Hêghen trong quá trình đi chứng minh “ý niệm tuyệt đối” là thực tại duy
nhất và bao trùm tất cả, tuy chưa dùng khái niệm con người sinh học –xã hội
nhưng ông đã lí giải khá sâu sắc mối quan hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.
Ông cho rằng con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của
chính bản thân chủ thể ấy, hoạt động của con người ngày càng phát triển bao nhiêu
thì ý thức càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu. Như vậy nếu lược bỏ yếu tố thần
bí trong triết học Hêghen thì tư tưởng nổi bật của ông là: Con người hoàn thiện
chính là nhờ lao động. Song Hêghen đã sai lầm ở chỗ biến con người tự ý thức và
tự ý thức được coi là phương thức tồn tại duy nhất của con người. L. Phoi - ơ - bắc
cũng đã đạt tới phân biệt con người tự nhiên và con người tự ý thức. Theo ông con
người mà trong chừng mực nó là một thực thể hành động một cách không tự chủ
và vô ý thức thì thuộc về thế giới tự nhiên cũng như ánh sáng, không khí, nước,
lửa, đất và cây cối. Trong con người linh hồn và thể xác có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau. Con người suy nghĩ bằng cái đầu, bằng bộ óc của chính mình, mà đầu óc
là tồn tại thực có cảm tính. Ông cũng đã đề cập đến bản tính tự nhiên của con
người và cho bản tính tự nhiên của con người là tồn tại thực. Tuy nhiên, do đã trừu
tượng hoá con người nên ông đã không thấy được tính biện chứng và sự năng động
của yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong quá trình phát triển, hoàn thiện bản thân
con người.
Cùng với sự phát triển của khoa học nói chung, các nhà triết học, xã hội học và
khoa học Phương Tây hiện đại đã đạt được những tiến bộ trong quá trình nghiên
cứu con người. Đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu mặt sinh học và mặt xã hội
trong con người. Song khi đề cập đến khái niệm yếu tố sinh học và yếu tố xã hội,
họ thường gắn nó vào một lĩnh vực nào đó để xem xét. Một số tác

giả đưa ra

định nghĩa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người nhưng còn chưa đúng
hoặc chưa thực sự hoàn chỉnh. Như vậy yếu tố sinh học và yếu tố xã hội đã được


triển nó lên một tầm cao mới. Con người trong triết học Mác – Lênin, là sự thống
nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Cả hai yếu tố này kết hợp chặt chẽ với
nhau, thâm nhập vào nhau, tác động lẫn nhau. Sự tác động lẫn nhau của chúng chi
phối, ảnh hưởng đến mọi quá trình hoạt động sống của mỗi cá thể người cũng như
cộng đồng người và toàn xã hội. Cái vĩ đại của triết học Mác – Lênin khi nghiên
cứu vấn đề này chính là ở chỗ khi khẳng định yếu tố xã hội trong con người thì
cũng đồng thời khẳng định được vai trò quan trọng của yếu tố sinh vật. Điều này
được thể hiện rõ khi Mác khái quát về bản chất con người.: “Phoi ơ bắc hoà tan
bản chất tôn giáo vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là
một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản
chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội”.[33,tr11]
Khẳng định yếu tố sinh vật trong con người với tư cách trong chỉnh thể với yếu
tố xã hội khi triết học Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp nhất, sản
phẩm của sự tiến hoá lâu dài của thế giới sinh vật. Điều này đã được các ngành
khoa học, đặc biệt là khảo cổ học và sinh học chứng minh. Trong đó, phải kể đến
công trình vĩ đại của Đác Uyn với “Thuyết tiến hoá” và “Sự phát sinh loài người
và chọn lọc giới tính”. Trong những công trình này Đác Uyn đã vận dụng những
luận điểm cơ bản của tiến hoá luận mà ông đã trình bày trong “nguồn gốc các
loài”. Nội dung cơ bản của nó là luận giải quan niệm của ông về cội nguồn loài
người. Công trình của Đác Uyn về nguồn gốc loài người là một sự khám phá mới
mẻ của khoa học con người, một trong những sự tiên đoán đáng khâm phục về cái
nôi của loài người. Những tiền đề sinh học cơ bản để vượn biến thành người, theo
Đác Uyn là việc chuyển từ đi bốn chân sang đi bằng hai chân, từ đó giải phóng đôi
tay, tạo ra công cụ để sinh sống và tự bảo vệ. Ông cho rằng ngôn ngữ của con
người cần cho giao tiếp cộng đồng không phải là bản năng bẩm sinh mà là một
hiện tượng tiếp thu trong đời sống, trên cơ sở mối quan hệ giữa qui luật sinh học và
xã hội. Về tác động của chọn lọc tự nhiên mà ông coi nó là động lực tiến hoá làm



người cũng phải tuân theo những qui luật thích ứng với môi trường, qui luật biến
dị, di truyền, tiến hoá của sinh vật… để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên triết học
Mác – Lênin không thừa nhận quan điểm cho rằng cái duy nhất tạo nên bản chất
con người là đặc tính sinh học, là bản năng sinh vật của con người. Con người vốn
là một sinh vật có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật. Song con người lại có sự khác
biệt về chất so với các sinh vật khác. Đó chính là mặt xã hội của con người. Con
người là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá. Bộ óc con người với cấu trúc
tinh vi, vô cùng phức tạp và siêu phàm, cùng với đôi tay được giải phóng là tiền đề
tự nhiên quan trọng của ý thức: “Bộ não lớn xuất hiện đã tạo ra những tiền đề tự
nhiên, quan trọng của ý thức”.[40,tr29] Sự khác biệt lớn nhất giữa con người và
các sinh vật khác chính là nhờ vai trò của lao động. Mác và Ăngghen đã nói về vai
trò của lao động đối với con người: “ Có thể phân biệt con người với súc vật bằng
ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người
bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra tư liệu sinh
hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người qui định. Sản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy con người đã gián tiếp sản xuất
ra chính đời sống vật chất của mình”.[33,tr29] Sự chuyển biến từ vượn thành người
còn được đánh dấu bằng sự nhận xét “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn
con người thì tái sản xuất ra toàn bộ thế giới tự nhiên” [35,tr137] Như vậy triết học
Mác - Lênin đã khẳng định bản tính tự nhiên hay mặt sinh vật của con người chưa
đủ để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc và quá trình hình thành con
người. Một yếu tố hết sức quan trọng có tính chất quyết định sự hình thành con
người đó là yếu tố xã hội. Sự tiến hoá đơn thuần bằng con đường sinh học không
thể xuất hiện con người có ý thức. Sở dĩ óc vượn có thể chuyển thành bộ óc người,
tâm lý động vật có thể chuyển thành ý thức của con người chủ yếu là do nguồn gốc
xã hội hay mặt xã hội của con người mà trực tiếp là lao động và ngôn ngữ.


Theo khảo cổ học con người có ý thức xuất hiện sau khoảng 1,5 đến 2 triệu
năm sau khi tổ tiên con người đã được hình thành về mặt sinh học.[40,tr27] Trong

lao động từ lúc mới phát sinh từ tổ tiên loài vượn thì vẫn còn mang tính bản năng,
nhưng khi ý thức và ngôn ngữ đã xuất hiện và phát triển thì lao động mới trở thành
lao động có tính xã hội.
Như vậy là triết học Mác - Lênin luôn xem xét con người trong một chỉnh thể
thống nhất giữa hai mặt: mặt tự nhiên (sinh vật) và mặt xã hội. Hai mặt này tác
động biện chứng không tách rời nhau, qui định bản chất con người và sự phát triển
của con người. Mặc dù chưa thấy tài liệu nào của Mác, Ăngghen hay Lênin đưa ra
một khái niệm riêng biệt về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người. Tuy
vậy trong quá trình nghiên cứu con người, các ông đã trình bày về hai yếu tố này
một cách hệ thống và sâu sắc. Sau này các nhà triết học theo chủ nghĩa Mác Lênin tiếp tục nghiên cứu tư tưởng của các ông về con người, kết hợp với thành
tựu của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên đã đưa ra một số khái niệm về yếu tố
sinh học và yếu tố xã hội. Các nhà khoa học Liên xô cũ đã đưa ra những khái niệm
khác nhau về hai yếu tố này ở mức độ hoàn thiện khác nhau. Tác giả Vưgốtxki cho
yếu tố sinh học là những quá trình và hiện tượng bị giới hạn hoặc bởi tính di
truyền hoặc là bởi những điều kiện bên trong cơ thể và rốt cuộc có thể qui về các
qui luật sinh học đã biết [57]. Theo ông những yếu tố sinh học là những quá trình
và hiện tượng không nằm ngoài những gì thuộc về cơ thể con người. Điều này còn
khá trừu tượng, chưa thực sự rõ ràng. R.A.Cacxaepxkaia cho rằng yếu tố sinh học
là gồm những yếu tố sinh vật và những yếu tố phi sinh vật. Những yếu tố sinh vật
bao gồm: cấu tạo, yếu tố phát sinh, ăn uống, bệnh tật, nòi. Còn yếu tố phi sinh vật
bao gồm: khí hậu, sự dao động của nhiệt độ và ánh sáng theo mùa, sự phát triển,
vòng quay của trái đất [59]. Vậy là R.A.Cacxaepxkaia đã giới hạn yếu tố sinh học
trong cơ thể con người. Theo tác giả N.P.Đubinin thì yếu tố sinh học của con người


trước tiên phải thuộc về thiên nhiên, là một phần của thiên nhiên. Mặt khác, yếu tố
sinh học của con người phải gắn chặt với đặc tính di truyền, với cấu trúc gen vừa
bao gồm cả đặc tính chung của loài lẫn những đặc tính riêng qui định sự khác nhau
giữa cá thể này với cá thể kia [60,tr81]. Còn theo B.M.Kê đrôp thì yếu tố sinh học
là tư chất thiên nhiên tiềm ẩn trong cá thể như là một tiền đề, còn yếu tố xã hội như

tượng, qui phạm đạo đức v.v… sẽ không bao giờ hình thành được.
Đây là khái niệm hoàn chỉnh và khoa học về yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội
trong con người. Với ý nghĩa đó nó đã trở thành cơ sở quan trọng để triết học và
các khoa học về con người đi vào nghiên cứu những vấn đề có tính vận dụng nhằm
phục vụ cho quá trình phát triển con người. Trong luận văn này chúng tôi cũng đã
dựa trên cơ sở của khái niệm này để nghiên cứu vấn đề đã đặt ra.
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ SINH HỌC VÀ YẾU TỐ XÃ HỘI TRONG CON
NGƢỜI

1.2.1 Một số quan điểm của các nhà triết học và các học giả tƣ sản Phƣơng
Tây
Từ cách nhìn còn phiến diện thiếu khoa học về khái niệm yếu tố sinh học và
yếu tố xã hội trong con người nên họ cũng chưa xác định đúng vai trò, vị trí của
từng yếu tố trong sự hình thành, phát triển con người. Họ chưa thấy được mối quan
hệ biện chứng giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội chi phối quá trình hình thành
và phát triển của con người.
Từ đó dẫn tới tình trạng hoặc là coi mặt sinh học là quyết định hoặc là coi mặt
xã hội là quyết định. Cũng có một số tác giả thừa nhận vai trò của hai yếu tố này
nhưng khi xem xét chúng họ lại tách rời mà không xem xét chúng trong mối quan
hệ biện chứng với nhau. Đó là những quan điểm không đúng về vị trí, vai trò của
yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người. Ở đó xem xét chúng trên cơ sở
cái sinh học không có tính chất xã hội và cái xã hội không có tính chất sinh học.


Bên cạnh các quan điểm của các nhà triết học, khoa học, còn có các quan điểm của
các nhà hoạt động chính trị, xuất phát từ lập trường giai cấp và lợi ích chính trị
khác nhau để phục vụ cho lợi ích của họ. Song tựu chung lại có hai quan điểm cơ
bản nổi bật trong các trào lưu này gần như đối lập nhau: quan điểm duy sinh vật và
quan điểm duy xã hội. Đây là hai thái độ cực đoan trong việc giải quyết vấn đề
tương quan giữa mặt sinh học và mặt xã hội.

qui luật tất yếu sinh học. Như vậy học thuyết Đác Uyn xã hội coi đấu tranh sinh
tồn và chọn lọc tự nhiên là động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội. Học thuyết
này đã có sự ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ ở Phương Tây vào cuối thế kỷ 19 đầu
thế kỳ 20. Một số người tán thành học thuyết này vẫn cho rằng chọn lọc tự nhiên
và đấu tranh sinh tồn còn tiếp tục diễn ra trong xã hội loài người.
Trong chủ nghĩa hiện thực khoa học mà tiêu biểu là nhà di truyền học người
Anh Đarlingtơn, nhà hành vi học người áo K. Lorens và Uynxơn đã đề cao quá
mức dẫn đến tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật [63]. Theo Đarlingtơn ngay cả sự phân
chia xã hội thành giai cấp, sự xuất hiện chủ nghĩa phân biệt chủng tộc… đều được
định trước trong gen của con người [65,tr233]. Còn Uynxơn thì coi sinh học là
phương thức vạn năng để giải thích toàn bộ hiện thực. Ông ta đi vào nghiên cứu
ranh giới giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong con người, nhưng cuối cùng lại đi
đến tuyệt đối hoá mặt sinh học trong con người. Theo ông khả năng của con người
chủ yếu là do tính di truyền quyết định còn vai trò của yếu tố xã hội là rất nhỏ.[64]
K.Lorens trên cơ sở nghiên cứu hành vi của một số loài động vật trong điều kiện tự
nhiên đã thấy rằng, trong những điều kiện nhất định ở phần lớn động vật dường
như có một cơ chế bản năng hiếu chiến và chúng tấn công vào các đại diện khác
của cùng loài. Từ đó ông ta kết luận con người cũng có bản năng hiếu chiến như
con vật, đấu tranh nhằm chống lại đồng loài của mình.[64] Như vậy, theo ông
trong quá trình phát triển của mình con người không phải phụ thuộc chủ yếu vào


yếu tố xã hội mà các hành động của con người là do các cấu trúc gen di truyền từ
tổ tiên loài người qui định.
Thuyết “Phân tâm học” của S. Freud cũng thể hiện quan điểm duy sinh vật. Nó
cực đoan về vai trò yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người. Thực chất
quan niệm của “Phân tâm học” về tương quan giữa mặt sinh học và mặt xã hội là ở
chỗ: nó cho rằng tâm lý con người được quan niệm chẳng quan là sự biến thái của
cái bản năng sinh dục, đam mê tình dục, như là sự phát triển che dấu và thăng hoa
của giới tính. Đối với “Phân tâm học” toàn bộ mặt xã hội trong tâm lý người chẳng

giả cho rằng trong con người chỉ có yếu tố sinh vật chi phối. Một số khác thì lại
khẳng định trong con người luôn tồn tại hai yếu tố sinh vật và xã hội. Ở đó yếu tố
sinh vật lại đóng vai trò chi phối, quyết định yếu tố xã hội cũng như quá trình hình
thành, phát triển con người. Điểm chung của các quan điểm này là đã qui yếu tố xã
hội vào yếu tố sinh học. Họ đã qui bản chất xã hội và qui luật phát triển của con
người vào thuộc tính sinh học và không chú ý hoặc coi trọng đến các đặc trưng
hoàn toàn khác về chất của hình thức vận động xã hội so với hình thức vận động
sinh học của vật chất. Những hiện tượng xã hội bị qui tụ vào một số cá nhân. Một
số cá nhân ấy lại được qui tụ vào một lĩnh vực khoa học cụ thể nào đấy như tâm lý,
hành vi… và những hành vi, những cái tâm lý ấy lại được qui tụ vào yếu tố sinh
học. Như vậy có nghĩa là hiện tượng xã hội được qui định bởi yếu tố di truyền của
con người.
* Quan điểm duy xã hội
Ngược lại với quan điểm duy sinh vật, quan điểm duy xã hội lại đem qui tất cả
các yếu tố sinh học của con người vào yếu tố xã hội. Quan điểm này coi yếu tố
sinh học không có vai trò gì trong đời sống của con người (kể cả sức khỏe và tài
năng), tất cả đều chỉ phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế –xã hội. Họ cho rằng
xã hội hoàn toàn có thể biến con người không thông minh thành tài ba, yếu và kém


phát triển trở thành khỏe mạnh dẫn đến phủ nhận khả năng đặc biệt của con người
mà những khả năng ấy bị chi phối bởi yếu tố sinh học trong mỗi con người. Có thể
nói quan điểm này đã tước bỏ tính hữu cơ, tính tự nhiên của con người. Họ đã mắc
sai lầm khi cho rằng con người và sự phát triển của con người chỉ chịu sự chi phối
của các điều kiện kinh tế – xã hội và văn hoá. Như vậy là họ đã quá nhấn mạnh, đề
cao mặt xã hội của con người mà không thấy được con người là một chỉnh thể sinh
học-xã hội. Thực tế cho thấy rằng những người theo quan điểm này thường bị ảnh
hưởng của một mục đích chính trị nào đó. Đó cũng chính là một trong những
nguyên nhân của những kết luận duy ý chí, thiếu tính khoa học về con người. Triết
học Mác –Lênin ra đời đã khắc phục được những hạn chế này và đưa chúng ta tới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status