Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về huy động tiền gửi của tổ chức tín dụng hiện hành - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Vốn kinh doanh của các tổ chức tín dụng chủ yếu là từ nguồn vốn huy
động. Vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng trong
các nghiệp vụ kinh doanh của tổ chức tín dụng. Huy động tiền gửi của tổ chức
tín dụng cũng là một trong những hoạt động như vậy. Nghiên cứu vấn đề “Đánh
giá tình hình thực hiện pháp luật về huy động tiền gửi của tổ chức tín dụng hiện
hành” sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu hơn về vấn đề này.
NỘI DUNG
I. Huy động vốn bằng nhận tiền gửi
1. Khái niệm nhận tiền gửi.
Khoản 13 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định
“Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng
chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo
nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa
thuận”
Như vậy, trên phương diện pháp lý thì “quan hệ tiền gửi” là quan hệ kinh
tế phát sinh giữa một bên là tổ chức, cá nhân gửi tiền với bên kia là tổ chức được
phép nhận tiền gửi. Xét về bản chất, quan hệ tiền gửi là một quan hệ hợp đồng
vay nợ, bởi vì :
- Quan hệ này được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự do thoả
thuận giữa các chủ thể.
- Có sự chuyển giao một lượng tiền nhất định từ người gửi tiền sang tổ
chức nhận tiền gửi để tổ chức này quản lý, sử dụng. Sau đó, tổ chức nhận tiền
gửi có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người gửi tiền cả gốc và lãi (nếu có) khi đến
hạn hoặc khi người gửi tiền có yêu cầu.
- Quan hệ gửi tiền phát sinh trên cơ sở có sự tín nhiệm giữa các bên.
Tuy quan hệ gửi tiền là quan hệ vay nợ nhưng nó có những đặc điểm
riêng giúp ta phân biệt với các quan hệ vay nợ thông thường khác. Đó là:
Thứ nhất, về chủ thể: Quan hệ gửi tiền bao gồm hai loại chủ thể là người
gửi tiền và tổ chức tín dụng.

thanh toán, chuyển tiền... Người gửi tiền có thể hướng tới một, hai hoặc cả ba
mục đích trên. Tuy nhiên, mục đích của họ được thể hiện rõ nhất thông qua hình
thức gửi tiền hay loại tiền gửi mà họ lựa chọn. Ví dụ: Một người gửi tiền không
kỳ hạn tại ngân hàng dưới hình thức thẻ tín dụng thì mục đích mà họ hướng tới
là sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng; nếu họ gửi dưới hình thức tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn thì mục đích của họ là hưởng lãi suất...
Trong các hình thức huy động vốn của TCTD, hình thức huy động vốn
bằng nhận tiền gửi là hình thức chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn
huy động của mỗi TCTD. Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi là một hình
thức huy động vốn đặc trưng riêng có của các TCTD và các tổ chức khác được
Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng, bởi vì:
Thứ nhất, đây là một nghiệp vụ ngân hàng đặc trưng, chỉ những TCTD và
tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng mới được tiến
hành. Các loại hình doanh nghiệp khác không được phép huy động vốn bằng
hình thức nhận tiền gửi trong khi họ vẫn có thể phát hành giấy tờ có giá hay vay
vốn từ các TCTD.
Thứ hai, việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi có thể tiến hành một cách
thường xuyên, liên tục với mọi khách hàng, không bị giới hạn về số lượng hay
địa giới hành chính... Trong khi đó các hình thức huy động vốn khác của các
TCTD chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện nhất định và được
tiến hành một cách không thường xuyên như huy động vốn thông qua việc phát
hành giấy tờ có giá hoặc vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước.
Thứ ba, thủ tục của việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi giữa TCTD và
khách hàng được thực hiện nhanh chóng, đơn giản, không nhất thiết phải thông
qua quá trình thương lượng hay kiểm tra, thẩm định, đánh giá. Bất kỳ ai có nhu
cầu đều có thể tới TCTD mà mình lựa chọn để gửi tiền, lựa chọn hình thức gửi
tiền phù hợp với mục đích của mình.
Thứ tư, huy động vốn bằng nhận tiền gửi là cơ sở để các TCTD cung ứng
các dịch vụ khác cho khách hàng như dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ
2

tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thoả thuận. Tuy nhiên, trên thực tế để thu hút
khách hàng gửi loại tiền gửi này, các TCTD có thể cho phép khách hàng đuợc
rút tiền trước thời hạn (nếu số tiền rút ra lớn thì phải có sự thông báo trước cho
TCTD một vài ngày) trong trường hợp này người gửi tiền chỉ được hưởng mức
lãi suất thấp. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang tính ổn định, nên
các TCTD thường chú trọng áp dụng các biện pháp kích thích để huy động loại
tiền gửi này bằng việc đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng. Đối với mỗi loại kỳ hạn, TCTD áp dụng một mức lãi suất tương
ứng trên nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao.
+ Tiền gửi tiết kiệm: là loại tiền gửi chỉ dành cho cá nhân, nó là khoản
tiền để dành của các cá nhân chứ không phải để thanh toán, nó được ký gửi vào
các TCTD nhằm quản lý cất giữ hộ hoặc để hưởng lãi theo định kỳ.
Pháp luật hiện hành quy định “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá
nhân được gửi vào tài khoản tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được

3


hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.(1)
Tiền gửi tiết kiệm có hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn.

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi
tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần thông báo trước vào bất kỳ một
ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, tiền gửi tiết
kiệm không kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) ở chỗ:
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện
giao dịch thanh toán bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả
cho người khác, trừ trường hợp tài khoản tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam

động vốn bằng nhận tiền gửi không kỳ hạn thì không thể sử dụng toàn bộ số vốn
này để cho vay trung và dài hạn mà chỉ sử dụng theo một tỷ lệ nhất định do
(

4


Ngân hàng Nhà nước quy định, hoặc căn cứ vào loại tiền gửi để xác định mức
dự trữ bắt buộc, duy trì khả năng thanh toán...
- Đối với người gửi tiền
Việc đa dạng hoá các loại tiền gửi với những đặc trưng riêng của mỗi loại
tiền gửi sẽ giúp cho người gửi tiền có thể lựa chọn hình thức gửi tiền thích hợp
tuỳ thuộc vào mục đích gửi tiền của mình. Ví dụ: Tiền gửi không kỳ hạn có thể
rút bất cứ lúc nào, tạo cho người gửi tiền sử dụng số tiền gửi một cách linh hoạt
hơn nhưng lại không được hưởng lãi hoặc lãi suất rất thấp. Do đó khi tham gia
quan hệ tiền gửi dưới hình thức này khách hàng thường tới sử dụng những dịch
vụ mà tổ chức nhận tiền gửi cung cấp, đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền linh hoạt
của mình. Tiền gửi có kỳ hạn thì phải tuân thủ theo kỳ hạn gửi tiền nhưng lại có
mức lãi suất cao hơn....
- Đối với nhà nước
Do tính chất của từng loại tiền gửi khác nhau, mức độ rủi ro về bảo đảm
khả năng thanh toán là khác nhau, đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế quản lý một
cách thích hợp nhằm kiểm soát có hiệu quả hoạt động ngân hàng, hạn chế được
các rủi ro trong hoạt động ngân hàng; bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan
hệ tiền gửi cũng như sự an toàn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng; bảo đảm sự ổn
định tiền tệ quốc gia và ổn định phát triển kinh tế. Do đó, việc phân chia thành
các loại tiền gửi khác nhau giúp cho Nhà nước có chính sách quản lý thích hợp
đối với hoạt động huy động vốn vủa các TCTD.
II. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn bằng
nhận tiền gửi của các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam.

Nhìn chung các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành quy định về
hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các TCTD là tương đối đầy đủ
và chặt chẽ, cụ thể hoá được các nội dung như: Các loại tiền gửi mà TCTD được
phép huy động; giới hạn quyền được nhận các loại tiền gửi đối với từng loại
hình TCTD; quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tiền gửi; quy
định trách nhiệm của TCTD khi huy động vốn bằng nhận tiền gửi; quy định về
quản lý Nhà nước đối với hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi; cùng các
nội dung có liên quan khác...Về cơ bản Nhà nước đã thiết lập được một hành
lang pháp lý tương đối đầy đủ và thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho
TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật, tạo ra
môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các TCTD trong tiến trình hội nhập. Đồng
thời pháp luật cũng hướng tới quyền lợi của mọi người dân, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu gửi tiền và sử dụng các dịch vụ ngân hàng, lựa chọn hình thức gửi tiền phù
hợp với mục đích và yêu cầu của họ, tạo niềm tin cho người gửi tiền; tạo ra cơ
sở pháp lý cho Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình đối
với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu kể trên, các quy phạm pháp luật điều
chỉnh hoạt động huy động vốn của các TCTD vẫn còn tồn tại một số hạn chế
sau:
Thứ nhất, các quy phạm pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi
của các TCTD còn nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Trong khi
đó, mỗi văn bản pháp luật này được ban hành nhằm điều chỉnh một mảng hoặc
một lĩnh vực riêng nào đó nhưng ít nhiều có liên quan đến huy động vốn bằng
nhận tiền gửi. Vì thế, những quy định về tiền gửi không được quan tâm một
cách đúng mức, còn sơ sài, không có tính hệ thống, thiếu ổn định, thậm chí còn
có sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật khác nhau. Chẳng hạn, một số quy
định trong văn bản pháp luật điều chỉnh dịch vụ thanh toán; văn bản pháp luật
quy định về tổ chức và hoạt động của từng loại TCTD... Điều này dẫn đến pháp
luật khó thực thi đối với TCTD và đối với người gửi tiền, gây ra sự khó khăn
trong công tác quản lý của các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, kiểm soát

huy động được một lượng vốn tương đối lớn để cung ứng cho nền kinh tế. Điều
đó được thể hiện rõ qua kết quả huy động vốn của các TCTD ở hầu hết các địa
phương trong cả nước mà tiêu biểu nhất là các TCTD trên địa bàn Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, đây là hai trung tâm kinh tế lớn nhất, có số
lượng TCTD hoạt động trên cùng một địa bàn nhiều nhất trong cả nước.
• Kết quả huy động vốn của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn Hà Nội
Hà Nội là nơi đặt trụ sở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng
trung ương) và của các ngân hàng lớn nhất của Việt Nam như: Ngân hàng Công
Thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng
phát triển Việt Nam. Hầu hết các TCTD Việt Nam đã thiết lập cơ sở giao dịch
dưới các hình thức trụ sở chính, sở giao dịch, chi nhánh tại Hà Nội. Tính đến hết
tháng 12 năm 2006, trên địa bàn Hà Nội có 151 cơ sở giao dịch (thống kê cấp
chi nhánh) của các TCTD thuộc các loại hình và thành phần kinh tế khác nhau
thực hiện kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ ngân hàng. Hiện nay mạng lưới
các TCTD đang tiếp tục được mở rộng cả về số lượng và quy mô hoạt động.
Tốc độ tăng trưởng tổng nguồn vốn huy động bình quân của các TCTD
trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001- 2005 đạt trên 23%/ năm. Đây là yếu tố quan
trọng đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội và phát triển hoạt động ngân hàng trên
địa bàn. Tính đến cuối năm 2006, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD Hà
Nội đạt 231.799 tỷ đồng, tăng 32% so với cuối năm 2005, mức tăng trưởng có
nhất về vốn huy động trong 5 năm gần đây, chiếm khoảng 30% vốn huy động
của cả nước. Tốc độ dư nợ bình quân trong giai đoạn 2001- 2005 đạt trên
7


22%/năm. Tính đến cuối năm 2006, tổng dư nợ cho vay của các TCTD Hà Nội
đạt 116.244 tỷ đồng, tăng 26,4% so với năm 2005. Hoạt động của ngành ngân
hàng tại Hà Nội đạt được kết quả tích cực, bảo đảm an toàn và hiệu quả, góp
phần hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và mục tiêu,

một số thành tựu quan trọng nhưng trên thực tế khi tiến hành hoạt động huy
động vốn, các TCTD vẫn gặp không ít những hạn chế, khó khăn cần phải khắc
phục. Cụ thể:
Một là: Hình thức huy động và kỳ hạn huy động vốn vẫn còn đơn điệu,
nghèo nàn, mang tính truyền thống. Về cơ bản các TCTD vẫn sử dụng các hình
thức huy động vốn truyền thống thông qua nhận tiền gửi hoặc phát hành giấy tờ
có giá là chủ yếu. Trong khi đó những hình thức mới, linh hoạt và phù hợp với
xu thế hội nhập ngày nay lại chưa được áp dụng một cách đồng loạt như: tiết
kiệm xây dựng nhà ở, hình thức gửi tiền tiết kiệm ở một nơi rút ra ở nhiều nơi,
8


tiếu kiệm dự thưởng... Thêm vào đó kỳ hạn huy động vốn kém phong phú, chưa
thực sự năng động nên chưa thực sự hấp dẫn người gửi tiền.
Hai là: Cấu trúc nguồn vốn chưa phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn. Tỷ
trọng nguồn vốn trung, dài hạn thực tế thấp hơn dư nợ trung dài hạn nên các
TCTD còn dè dặt trong việc cho vay đối với các dự án lớn, có nguy cơ rủi ro cao
như: các dự án đầu tư cho bất động sản, dự án xây dựng các công trình giao
thông vận tải... Các hình thức huy động vốn dài hạn khác như phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu ngân hàng vẫn chưa thực sự hấp dẫn khách hàng do vậy ít được
các TCTD áp dụng.
Ba là: Hoạt động huy động vốn của TCTD phải cạnh tranh gay gắt với
nhiều kênh huy động vốn khác trong kinh tế như: thị trường chứng khoán, tiết
kiệm bưu điện, quỹ đầu tư... làm giảm nguồn vốn có thể huy động được. Mặt
khác, ngay giữa các TCTD cũng có sự cạnh tranh gay gắt với nhau trong huy
động vốn dấn đến tình trạng đẩy lãi suất tiền gửi lên quá cao trong khi không
thiếu vốn ngắn hạn. Điều này làm giảm hiệu quả kinh doanh của các TCTD.
Bốn là: Huy động vốn đôi khi chưa gắn với sử dụng vốn một cách có hiệu
quả. Thể hiện qua việc cho vay đối với các dự án thiếu tính khả thi trong thời
gian trước đây như: Các dự án đầu tư bất động sản, tập trung là dự án xây dựng

2.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên và một số giải pháp khắc phục
• Nhân tố tích cực
Nhân tố tích cực là những nguyên nhân đem lại những thành quả mà các
TCTD đã đạt được trong lĩnh vực huy động vốn. Chúng bao gồm các yếu tố
khách quan và yếu tố chủ quan có tác động tích cực đến quá trình huy động vốn
của các TCTD. Có thể kể đến:
Thứ nhất là, hệ thống pháp luật về huy động vốn tương đối thông thoáng,
tạo điều kiện cho các TCTD thực hiện hoạt động này khá hiệu quả.
Thứ hai là, người dân có thu nhập ngày càng cải thiện. Nhiều gia đình,
nhiều người có điều kiện tích luỹ, nguồn tiết kiệm bằng tiền lớn hơn. Thực tế
này không chỉ thấy qua kênh tiền gửi ngân hàng, mà còn thấy một lượng vốn
không nhỏ của người dân đầu tư mua chứng khoán, mua cổ phiếu trên thị trường
tập trung OTC, mua cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, mua
bảo hiểm nhân thọ... Nhưng kênh ngân hàng vẫn là nơi thu hút vốn trong dân
lớn nhất.
Thứ ba là, trong các kênh để dành và tiết kiệm: mua vàng, cất trữ ngoại tệ
trong nhà và gửi Đồng Việt Nam tại ngân hàng thì kênh đầu tư vào tiền gửi ngân
hàng là sự lựa chọn tối ưu và minh bạch hơn cả. Bởi đầu tư vào vàng quá nhiều
rủi ro, biến động giá thất thường. Mua ngoại tệ cất trữ trong nhà rõ ràng không
sinh lời cao vì tỷ giá USD/VNĐ ít biến động. Mặt khác, nếu như trước đây thị
trường bất động sản là lĩnh vực thu hút tiền gửi lớn trong dân cư, thì hiện nay số
người đầu cơ nhà, đất chờ tăng giá kiếm lời giảm rõ rệt, số vốn tích luỹ này
được chuyển qua kênh tiền gửi ngân hàng.
Thứ tư là, sau hơn hai mươi năm đổi mới đất nước, gần mười tám năm đổi
mới hoạt động ngân hàng, hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự thay đổi mạnh
mẽ cả về quy mô, chất lượng và phong cách phục vụ. Người dân thực sự có lòng
tin khi gửi tiền vào ngân hàng, thay cho để dành dưới nhiều hình thức khác nhau
tại nhà hay trong dân cư.
Thứ năm là, dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích phát triển mạnh mẽ
đặc biệt là dịch vụ thẻ, dịch vụ tài khoản cá nhân. Đến nay số lượng thẻ do các

nhà nước; tiết kiệm bưu điện; chứng khoán; bảo hiểm nhân thọ... cũng là một
thách thức không nhỏ đối với hoạt động huy động vốn của các TCTD.
- Môi trường kinh tế, môi trường đầu tư chưa ổn định, chưa có một cơ
chế để kiềm chế lạm phát, giá cả hàng hoá ngày một tăng làm cho đồng tiền mất
giá, người dân thiếu tin tưởng vào ngân hàng.
Ngoài ra còn phải kể đến một số nguyên nhân chủ quan từ chính các
TCTD như: chưa quan tâm một cách thoả đáng đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ;
hoạt động quản trị và điều hành huy động vốn, kinh doanh vốn chưa theo hướng
ngân hàng kinh doanh hiện đại. Sự phối hợp giữa bộ phận quản lý, các phòng
nghiệp vụ còn chưa đồng bộ, nhịp nhàng gây phiền hà, mất thời gian cho khách
hàng. Hệ thống thông tin chưa thực sự có hiệu quả, bao gồm cả thu thập và xử lý
thông tin về huy động vốn, về cân đối và kinh doanh vốn...
Những nguyên nhân cơ bản trên đây đã dẫn đến những khó khăn trong
hoạt động huy động vốn của các TCTD Việt Nam.
KẾT LUẬN
Hiện nay, huy động tiền gửi của tổ chức tín dụng đã có nhiều văn bản
pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên tình hình thực hiện pháp luật về huy động tiền
gửi của tổ chức tín dụng hiện hành vẫn còn nhiều vướng mắc. Chính vì vậy,
trong thời gian tới cần hoàn thiện hơn nữa pháp luật hiện hành để tình hình thực
hiện pháp luật về huy động tiền gửi của tổ chức tín dụng dễ dàng đi vào cuộc
sống ngày càng sôi động.

11


12


13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status