LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước là một bộ phận trong hệ thống tài chính quốc gia, là
khâu tài chính tập trung giữ vai trò chủ đạo với vai trò quan trọng là công cụ điều
tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường,
bình ổn giá cả, chống lạm phát và giải quyết các vấn đề xã hội. Ngân sách nhà
nước gắn liền với chức năng nhiệm vụ của nhà nước, đồng thời là phương tiện
vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện nhiệm vụ của
mình. Để thực hiện được các vai trò đó ngân sách nhà nước phải có các nguồn
vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích hợp.
Đồng thời ngân sách nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường
xuyên, chi cho đầu tư phát triển… Như chúng ta đều biết, thu ngân sách nhà
nước chủ yếu là thu từ thuế, phí, lệ phí. Tuy nhiên, trong điều kiện toàn cầu hóa
hiện nay, năm ngân sách 2007 sẽ chứng kiến việc cắt giảm thuế liên quan tới các
cam kết WTO và tiếp tục cam kết trong khuôn khổ khu vực mậu dịch ASEAN
(AFTA). Vì vậy, cần phải có các đánh giá, các chính sách thu chi và xử lý thâm
hụt ngân sách phù hợp, tạo điều kiện để ngân sách nhà nước thực hiện tốt các vai
trò của nó cũng như thúc đẩy hệ thống tài chính quốc gia phát triển. Chính vì lý
do đó mà nhóm chúng tôi đi sâu nghiên cứu ngân sách nhà nước với đề tài:
“Đánh giá tình hình thực hiện và khả năng thực hiện kế hoạch ngân
sách 9 tháng đầu năm 2007”.
1
I. LÝ LUẬN CHUNG
1. Khái niệm chung và mục tiêu của kế hoạch ngân sách:
1.1 . Ngân sách:
♦
Khái niệm
Ngân sách nhà nước là khoản thu chi trong một năm của quốc gia hoặc
một địa phương được cơ quan lập pháp phê chuẩn.
Đối với quốc gia thì cơ quan lập pháp là quốc hội, với địa phương thì cơ
quan lập pháp là hội đồng nhân dân.
♦
+ Chi hoạt động sự nghiệp: văn hoá, giáo dục, y tế.
+ Chi quốc phòng: Mua sắm, bảo dưỡng các phương tiện kỹ thuật quốc
phòng, trả lương cho quân đội.
+ Chi trợ cấp cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình.
- Chi dự trữ, trả nợ, trả lãi suất các khoản tiền vay và viện trợ cho nước ngoài.
■Cán cân ngân sách:
Cán cân ngân sách = Thu ngân sách - Chi ngân sách.
- Nếu cán cân ngân sách >0 : thặng dư ngân sách.
- Nếu cán cân ngân sách = 0: cân bằng ngân sách.
- Nếu cán cân ngân sách < 0: thâm hụt ngân sách.
Nhân tố ảnh hưởng đến cán cân ngân sách là: tăng trưởng kinh tế.
1.2 Kế hoạch ngân sách Nhà nước:
♦
Khái niệm:
3
Kế hoạch ngân sách là bản tường trình về kế hoạch thu chi của Chính phủ
trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm và các giải pháp, chính
sách nhằm cải thiện các cán cân ngân sách.
♦
Căn cứ lập kế hoạch ngân sách:
- Báo cáo tình hình phát triển xã hội năm kế hoạch (dự báo).
- Báo cáo thực hiện ngân sách năm gốc.
♦
Đặc điểm:
- Tính cân đối:
+ Cân đối ngân sách và kết quả hoạt động kinh tế.
+ Cân đối ngân sách và nhiệm vụ kinh tế xã hội.
+ Cân đối thu và chi ngân sách:
mức độ thâm hụt = (thu ngân sách- chi ngân sách)/GDP.
Nếu bội chi để xây nhà công chức thì không chấp nhận được, còn nếu bội chi
i
/GDP
n(k)
♦Kế hoạch chi ngân sách:
Xác định tổng quy mô, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng chi ngân sách so với
GDP.
Phương pháp xây dựng: dựa vào mục tiêu thâm hụt hoặc thặng dư ngân
sách hàng năm do quốc hội thông qua.
% chi ngân sách = % thu ngân sách + % thâm hụt
Các chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối ngân sách:
- Chỉ tiêu về thâm hụt ròng:
ND = Tổng các khoản chi ngân sách (không tính các khoản nợ đến hạn
phải trả) - tổng các khoản thu ngân sách.
- Tổng thâm hụt: GD = ND + các khoản nợ đến hạn phải trả.
- Tổng số nợ công cộng: TPD
t
= TPD
t-1
+ ND
t
II. KẾ HOẠCH NGÂN SÁCH NĂM 2007
1. Mục tiêu tổng quát của Ngân sách Nhà nước năm 2007:
Góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8,2%; phát triển tiềm
lực tài chính quốc gia tăng về quy mô, hợp lý về cơ cấu và sử dụng có hiệu quả;
tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng nguồn lực đầu tư cho
phát triển con người, trong đó tập trung cho phát triển giáo dục đào tạo, văn hoá,
y tế...; đẩy nhanh hơn lộ trình cải cách tiền lương; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ
trả nợ đến hạn, đảm bảo nguồn kinh phí hỗ trợ các chính sách xã hội của đất
nước, góp phần đẩy nhanh xoá đói, giảm nghèo; đảm bảo quốc phòng, an ninh,
trật tự an toàn xã hội; tăng cường quyền tự chủ ngân sách đi đôi với việc thực
6
trả nợ trong và ngoài nước đến hạn, đảm bảo các cân đối nợ Chính phủ, nợ quốc
gia ở mức an toàn.
+ Bố trí đủ chi quỹ dự trữ tài chính, dự phòng Ngân sách Nhà nước theo
quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
3. Dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2007:
3.1 Dự toán thu cân đối Ngân sách Nhà nước:
* Dự toán thu Ngân sách Nhà nước 2007 là 281,900 tỷ đồng, tăng 7% so ước
thực hiện 2006, nếu loại trừ yếu tố tăng thu từ dầu thô do tăng giá thì đạt tỷ lệ
động viên 22.3% so GDP.
* Về cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước: Tăng dần tỷ trọng thu từ nội lực nền kinh
tế, tăng tính ổn định vững chắc của Ngân sách Nhà nước.
- Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô):
+ 151,800 tỷ đồng, tăng 15.5% so ước thực hiện 2006
(1)
, chiếm
53.8% tổng thu. Trong đó, thu từ thuế và phí (không kể thu tiền sử dụng đất)
tăng 20.1%.
+ Về lĩnh vực thu: khu vực kinh tế quốc doanh là 53,954 tỷ đồng,
tăng 17% so ước thực hiện 2006; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 31,041 tỷ
đồng, tăng 28.2%; khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh 27,667 tỷ
đồng, tăng 26.4%; từ nhà, đất 18,143 tỷ đồng, chỉ bằng 92.1% so ước thực hiện
2006 ...
- Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: thu cân đối từ hoạt động xuất
nhập khẩu, tăng 14.9% so ước thực hiện 2006
(2)
, chiếm 19.7% tổng thu. Số thu
này xây dựng trên cơ sở giảm thuế nhập khẩu để thực hiện các cam kết AFTA,
cam kết song phương, đa phương khác, đặc biệt là cam kết với các nước thành
1(() So sánh đã loại trừ thu XSKT năm 2006
26.8% tổng chi đầu tư toàn xã hội.
(3) So sánh đã loại trừ chi đầu tư phát triển từ nguồn thu XSKT năm 2006
8
- Chi trả nợ, viện trợ: 49,160 tỷ đồng, tăng 20.5% so dự toán 2006, chiếm
13.8% tổng chi, đảm bảo trả đủ các khoản nợ trong và ngoài nước đến hạn.
- Chi phát triển các sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội; đảm
bảo quốc phòng, an ninh; quản lý hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể: 174,550
tỷ đồng, tăng 9.5% so dự toán 2006
(4)
, chiếm 48.8% tổng chi; kể cả dự kiến chi
cải cách tiền lương (24,600 tỷ đồng) là 199,150 tỷ đồng, chiếm 55.7% tổng chi
(dự toán 2006 là 54.6%). Trong đó, bố trí cho các lĩnh vực chủ yếu như sau:
+ Chi lĩnh vực giáo dục - đào tạo - dạy nghề: 66,770 tỷ đồng, tăng
21.8% so dự toán 2006, đạt 20% tổng Ngân sách Nhà nước. Trong đó chi đầu tư
phát triển 11,530 tỷ đồng, chi sự nghiệp 47,280 tỷ đồng, ưu tiên thực hiện các
nhiệm vụ quan trọng (như: củng cố kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu
học; thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở …).
+ Chi lĩnh vực y tế: 22,210 tỷ đồng, tăng 30.8% so dự toán 2006.
Trong đó chi đầu tư phát triển 6,050 tỷ đồng, chi sự nghiệp y tế 14,660 tỷ đồng
tăng 22.6% so dự toán 2006. Đảm bảo kinh phí chi phòng bệnh, khám chữa bệnh
của các cơ sở y tế; điều chỉnh nâng mức bố trí kinh phí khám chữa bệnh cho trẻ
em dưới 6 tuổi từ 90,000 đồng lên 108,000 đồng/trẻ em/năm để đảm bảo khám
chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, nâng mức kinh phí mua thẻ bảo hiểm
cho người nghèo từ 60,000 đồng lên 80,000 đồng/người/năm …
+ Chi lĩnh vực khoa học và công nghệ: 7.150 tỷ đồng tăng 20,8% so
dự toán 2006, đạt 2% tổng chi ngân sách nhà nước. Trong đó chi đầu tư phát
triển 2.730 tỷ đồng, chi sự nghiệp khoa học công nghệ 3.580 tỷ đồng. Tập trung
đầu tư hoàn thiện 5/6 Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (hết 2006 dự kiến
hoàn thành 11/17 Phòng), các khu công nghệ cao, khu công nghiệp phần mềm;
đảm bảo thực hiện các chương trình,dự án khoa học và công nghệ trọng điểm
10
phát triển sản xuất thuộc Chương trình 135; thực hiện phòng chống dịch cúm gia
cầm, lở mồm, long móng gia súc; quản lý và bảo vệ rừng; thực hiện tăng cường
xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư; duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng
quan trọng …).
+ Chi sự nghiệp bảo vệ môi trường: 3,500 tỷ đồng, tăng 20.7% so
dự toán 2006 và chiếm trên 1% tổng chi. Đảm bảo kinh phí triển khai các nhiệm
vụ trọng tâm theo quy định cho hoạt động bảo vệ môi trường.
+ Chi quản lý hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể: 24,800 tỷ
đồng, tăng 14.8% so dự toán 2006. Đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên
của các cơ quan hành chính theo quy định.
- Chi thực hiện chính sách đối với lao động dôi dư: 500 tỷ đồng.
- Chi thực hiện cải cách tiền lương: Tổng nhu cầu kinh phí thực hiện chi
trả tiền lương mới năm 2007 là 27,784 tỷ đồng để thực hiện mức lương tối thiểu
450,000 đồng/người/tháng, điều chỉnh các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với
người có công theo mức sống trung bình xã hội (mức chuẩn) từ 355,000 đồng
lên 460,000 đồng, thực hiện từ 01/01/2007. Trong đó:
- Bố trí từ Ngân sách Nhà nước : 24,600 tỷ đồng
- Dự kiến sử dụng 3,184 tỷ đồng từ nguồn tiết kiệm 10% chi thường
xuyên (trừ lương và các khoản có tính chất lương), 40% số thu của các cơ quan
hành chính, đơn vị sự nghiệp được để lại theo chế độ (riêng lĩnh vực y tế là
35%).
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: 100 tỷ đồng.
- Dự phòng ngân sách: Bố trí 9,040 tỷ đồng, bằng 2.5% tổng chi (trong đó
dự phòng ngân sách địa phương là 4,050 tỷ đồng, bằng 3.2% tổng chi ngân sách
địa phương ; dự phòng ngân sách trung ương 4,990 tỷ đồng, bằng 2.2% tổng chi
ngân sách trung ương), để phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,
thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách phát sinh trong năm, đồng thời
11