Lời cảm ơn
Trong thời gian hoàn thành khoỏ luận tốt nghiệp của mỡnh, em đó nhận
được sự giỳp đỡ nhiệt tỡnh của cỏc thầy giỏo, cụ giỏo trong khoa phỏp luật kinh
tế, cỏc thầy giỏo, cụ giỏo trong trường Đại học Luật Hà Nội, của gia đỡnh và
bạn bố. Đặc biệt là sự quan tõm, chỉ bảo tận tỡnh của cụ giỏo, ThS Vũ Đặng Hải
Yến.
Qua đõy, em xin gửi lời cảm ơn chõn thành và sõu sắc nhất đối với cụ
giỏo, ThS Vũ Đặng Hải Yến và cỏc thầy giỏo, cụ giỏo đó đúng gúp ý kiến cho
khoỏ luận tốt nghiệp của em. Đõy sẽ là một định hướng quan trọng cho em trong
việc hoàn thiện khoỏ luận tốt nghiệp trước mắt và xa hơn nữa là trong việc tiếp
cận và nghiờn cứu khoa học phỏp lý sau này.
Mục lục
1
Lời núi đầu
Ngày nay, doanh nghiệp – bao gồm cả doanh nghiệp cú vốn đầu tư trong
nước và doanh nghiệp cú vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng đúng vai trũ
quan trọng trong nền kinh tế của tất cả cỏc quốc gia trờn thế giới. Điều này xuất
phỏt từ lợi ớch mà cỏc doanh nghiệp khụng những đem lại cho nhà đầu tư mà
cũn đem lại cho nhà nước cũng như toàn xó hội.
Trong bối cảnh Việt Nam đang trờn tiến trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế,
đầu tư trực tiếp nước ngoài cú vai trũ vụ cựng to lớn đối với sự phỏt triển của
đất nước. Nhận thức được điều đú, trong Bỏo cỏo chớnh trị đại hội Đảng lần thứ
IX, Đảng ta đó chủ trương : “Thống nhất khung phỏp lý, chớnh sỏch, điều kiện
kinh doanh ỏp dụng cho cỏc doanh nghiệp trong nước và cỏc doanh nghiệp nước
ngoài”. Thể chế đường lối, chủ trương đú, Luật doanh nghiệp năm 2005 đó được
ban hành, thống nhất điều chỉnh cho cỏc doanh nghiệp nhà nước trước đõy được
con người trờn thế giới. Tầm quan trọng đú thể hiện ở chỗ: doanh nghiệp chớnh
là đơn vị sản xuất hàng hoỏ, dịch vụ đỏp ứng nhu cầu chủ yếu của toàn xó hội.
Cú thể khẳng định, sự hỡnh thành cỏc doanh nghiệp là quy luật tất yếu
khỏch quan của nền kinh tế. Sản xuất hàng hoỏ khi phỏt triển đến một mức độ
nhất định sẽ tất yếu nảy sinh nhu cầu mở rộng kinh doanh. Chớnh nhu cầu về
vốn và nhu cầu chia sẻ rủi ro đó thỳc đẩy cỏc nhà đầu tư liờn kết lại với nhau, tổ
chức theo một cấu trỳc nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh. Nhưng
khụng chỉ là quy luật khỏch quan của nền kinh tế, sự hỡnh thành và phỏt triển
của cỏc doanh nghiệp cũn bị tỏc động bởi yếu tố chủ quan, tuỳ thuộc vào điều
kiện chớnh trị – xó hội khỏc nhau trong từng thời kỳ lịch sử. Trong đú, về khỏi
niệm doanh nghiệp, tương ứng với mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại
cú những cỏch hiểu khụng đồng nhất. Khỏi niệm doanh nghiệp cần được xem
xột từ gúc độ kinh tế – xó hội cũng như từ gúc độ phỏp lý để được hiểu một
cỏch sõu sắc và toàn diện nhất.
Dưới gúc độ kinh tế, doanh nghiệp được hiểu theo nhiều cỏch khỏc nhau.
Trong tiếng Anh, theo từ điển “Black’ law dictionary”, doanh nghiệp –
Enterprise cú nghĩa là hoạt động kinh doanh [trang 531]. Như vậy, cỏch hiểu
này mới chỉ đề cập đến khớa cạnh thương mại của doanh nghiệp chứ chưa thực
sự nhỡn nhận bản chất của doanh nghiệp dưới gúc độ là những thực thể kinh tế –
xó hội độc lập mà ở đú, hoạt động kinh doanh chỉ là chức năng đầu tiờn và chủ
3
yếu. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa doanh nghiệp là một hỡnh thức tổ chức kinh
tế “làm cụng việc kinh doanh” [trang 260 -13]. Theo đú, xột về mặt bản chất,
doanh nghiệp là một loại hỡnh tổ chức nờn mang những đặc điểm chung như
bao gồm nhiều thành viờn, cú một cấu trỳc rừ ràng để cỏc thành viờn thực hiện
phần việc của mỡnh.
Cú thể núi, đặc trưng riờng cú của doanh nghiệp, phõn biệt doanh nghiệp
với cỏc đơn vị khỏc như cơ quan nhà nước, tổ chức xó hội, trường học, bệnh
mà cũn bị chi phối bởi định hướng xõy dựng xó hội chủ nghĩa. Hay núi cỏch
khỏc, cỏc doanh nghiệp ở Việt Nam vừa phải đỏp ứng được yờu cầu tăng trưởng
kinh tế, vừa phải đỏp ứng được những mục tiờu mà xó hội đặt ra cũng như yờu
cầu về phỏt triển bền vững.
Dưới gúc độ phỏp lý, khỏi niệm “Doanh nghiệp” được phỏp luật nhỡn
nhận với những đặc trưng riờng. Theo Luật cụng ty năm 1990 thỡ doanh nghiệp
được định nghĩa như là “một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đớch
chủ yếu là thực hiện cỏc hoạt động kinh doanh”. Khỏi niệm này cú nội hàm khỏ
rộng. Theo đú, tất cả những đơn vị kinh doanh cú hoạt động kinh doanh sẽ được
cụng nhận là doanh nghiệp. Tuy nhiờn, khỏi niệm trong Luật cụng ty năm 1990
chưa thể hiện được những đặc điểm phỏp lý của doanh nghiệp. Đến khi Luật
doanh nghiệp năm 1999 và Luật doanh nghiệp năm 2005 được ban hành, cỏc
nhà làm luật đó đưa ra khỏi niệm doanh nghiệp một cỏch cụ thể và đầy đủ hơn:
“Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế cú tờn riờng, cú tài sản, cú trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng kớ kinh doanh theo quy định của phỏp luật nhằm mục
đớch thực hiện cỏc hoạt động kinh doanh”. Như vậy, theo định nghĩa này, doanh
nghiệp cú những đặc trưng phỏp lý sau đõy:
Thứ nhất, doanh nghiệp là một loại chủ thể phỏp luật. Cú thể núi, việc
phỏp luật cụng nhận hay khụng cụng nhận tư cỏch chủ thể phỏp luật cho tổ
chức, cỏ nhõn cú ý nghĩa vụ cựng to lớn. Đú là cơ sở để tổ chức, cỏ nhõn đú tiến
hành mọi hoạt động nhõn danh mỡnh, đồng thời được phỏp luật bảo vệ quyền và
lợi ớch hợp phỏp. Với ý nghĩa tương tự như vậy, tư cỏch chủ thể phỏp lý độc lập
của doanh nghiệp cho phộp doanh nghiệp cú quyền tự chủ và tự chịu trỏch
nhiệm trong việc tổ chức và hoạt động. Trước đõy, phỏp luật về doanh nghiệp
5
đó cụng nhận tư cỏch chủ thể của doanh nghiệp nhà nước, cụng ty TNHH, cụng
ty cổ phần, cụng ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhõn, doanh nghiệp liờn doanh,
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Sau này, khi thống nhất cỏc loại hỡnh
việc tham gia hay rỳt khỏi hợp tỏc xó và tớnh xó hội, tương trợ cộng đồng rất
cao của xó viờn. Trong cụng ty, những điều kiện ràng buộc giữa cỏc thành viờn
cụng ty TNHH, cụng ty cổ phần, cụng ty hợp danh với nhau và giữa cỏc thành
viờn với cụng ty liờn quan đến việc chuyển nhượng phần vốn gúp hay cổ phần
bao giờ cũng phức tạp hơn so với cỏc trường hợp tương tự trong hợp tỏc xó.
Đồng thời, khụng giống như doanh nghiệp chỉ hoạt động trước hết và chủ yếu
vỡ mục tiờu lợi nhuận, Hợp tỏc xó cũn luụn hướng đến việc phỏt huy sức mạnh
tập thể của từng xó viờn, cựng giỳp nhau thực hiện cú hiệu quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
Mặc dự tồn tại với những lý lẽ khỏ thuyết phục, quan điểm thứ nhất về tư
cỏch doanh nghiệp của hợp tỏc xó cũng khụng được ghi nhận trong luật. Hiện
nay, Luật doanh nghiệp năm 2005 đó thống nhất cỏc loại hỡnh doanh nghiệp,
khụng bao gồm hỡnh thức hợp tỏc xó. Điều này cú nghĩa là hợp tỏc xó sẽ vẫn
hoạt động theo những quy định trong Luật Hợp tỏc xó năm 2003 và khụng phải
là chủ thể của phỏp luật doanh nghiệp, khụng chịu sự điều chỉnh của hệ thống
phỏp luật về doanh nghiệp.
Thứ hai, để được cụng nhận tư cỏch chủ thể phỏp lý, doanh nghiệp phải
được thành lập và đăng kớ kinh doanh theo thủ tục nhất định do phỏp luật quy
định. Đõy là một đặc điểm rất quan trọng bởi lẽ nú thể hiện thỏi độ của nhà
nước đối với cỏc tổ chức kinh tế, xỏc định tổ chức ấy cú đủ hay khụng đủ điều
kiện được cụng nhận (bằng giấy chứng nhận đăng kớ kinh doanh) là một doanh
nghiệp. Dưới gúc độ phỏp lý, cỏc doanh nghiệp buộc phải đăng kớ kinh doanh
trước khi tham gia thị trường bởi lẽ, đõy là hoạt động cú ý nghĩa to lớn khụng
chỉ đối với cỏc doanh nghiệp mà cũn đối với hoạt động quản lý nhà nước và mụi
trường kinh doanh. Đối với cỏc doanh nghiệp, đăng kớ kinh doanh nhằm xỏc
định tư cỏch chủ thể cho doanh nghiệp. Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng
nhận đăng kớ kinh doanh, doanh nghiệp được phộp tiến hành những hoạt động
kinh doanh theo nội dung đó đăng kớ. Hoạt động kinh doanh đú sẽ được phỏp
8
được coi là một doanh nghiệp (được cấp giấy chứng nhận đăng kớ kinh doanh)
mà “khụng hoạt động tại trụ sở đăng kớ trong thời hạn 6 thỏng liờn tục kể từ
ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kớ kinh doanh hoặc chứng nhận thay đổi
trụ sở chớnh” (Khoản d Điều 165 Luật doanh nghiệp năm 2005) thỡ sẽ bị xoỏ
tờn trong sổ đăng kớ kinh doanh. Quy định này thực sự là một cụng cụ hiệu quả
giỳp cho cơ quan quản lý nhà nước dễ dàng nắm bắt thụng tin về doanh nghiệp,
đồng thời trỏnh tỡnh trạng doanh nghiệp chỉ đăng kớ kinh doanh mà trờn thực tế
khụng tiến hành hoạt động hoặc ngừng hoạt động trong một thời gian dài.
Trờn đõy là một số vấn đề lý luận cơ bản về khỏi niệm doanh nghiệp được nhỡn nhận một cỏch tổng quỏt từ phương diện kinh tế – xó hội và phương
diện phỏp lý. Cú thể núi, những đặc trưng được chỉ ra ở trờn sẽ là nền tảng, là cơ
sở khoa học cho phỏp luật về doanh nghiệp được ban hành và hoàn thiện trong
điều kiện Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Khỏi niệm phỏp luật về doanh nghiệp.
Phỏp luật là một chỉnh thể thống nhất, ra đời và phỏt triển gắn liền với sự
xuất hiện của nhà nước và tiến bộ xó hội. Hệ thống phỏp luật cú sự thay đổi về
nội dung, cơ cấu, luụn vận động từ thấp đến cao, ngày càng đa dạng và phong
phỳ. Trong sự vận động của hệ thống phỏp luật núi chung, phỏp luật về doanh
nghiệp, một bộ phận cơ bản của phỏp luật Việt Nam cũng cú những bước phỏt
triển nhất định. Tuy nhiờn, cho đến nay vẫn chưa cú định nghĩa thống nhất về
lĩnh vực phỏp luật này. Về mặt lý luận, cú thể xem xột phỏp luật về doanh
nghiệp dưới hai gúc độ: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, phỏp luật về doanh nghiệp bao gồm những quy phạm
phỏp luật điều chỉnh cỏc quan hệ xó hội phỏt sinh trong quỏ trỡnh tổ chức và
hoạt động của cỏc doanh nghiệp. Những quan hệ xó hội này cú phạm vi rất rộng,
phỏt sinh từ khi nhà đầu tư đăng ký kinh doanh, chớnh thức hoạt động trờn thị
trường cho đến khi doanh nghiệp kết thỳc hoạt động. Những quan hệ đú bao
gồm: quan hệ giữa nhà nước và nhà đầu tư trong quỏ trỡnh đăng kớ kinh doanh;
Trong luận văn này, khỏi niệm phỏp luật về doanh nghiệp được tiếp cận
theo nghĩa hẹp. Việc phõn biệt đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của
phỏp luật về doanh nghiệp theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cú ý nghĩa nhất định
10
trong việc nghiờn cứu về phỏp luật. Tuy nhiờn, sự phõn biệt ấy cũng chỉ cú tớnh
chất tương đối bởi lẽ phỏp luật về doanh nghiệp, dự hiểu theo nghĩa rộng hay
nghĩa hẹp, vẫn luụn bao gồm những bộ phận cú mối liờn hệ chặt chẽ với nhau.
1.2. Khỏi niệm và yờu cầu về tớnh thống nhất của phỏp luật về doanh
nghiệp
1.2.1. Khỏi niệm tớnh thống nhất của phỏp luật về doanh nghiệp:
Về lý thuyết, hệ thống phỏp luật phải luụn cú tớnh thống nhất, đồng bộ,
được sắp xếp theo trỡnh tự hiệu lực. Song trờn thực tế, những quy định phỏp
luật khụng phải lỳc nào cũng đồng nhất, đụi khi vẫn mõu thuẫn, chồng chộo lờn
nhau. Xem xột tớnh thống nhất của phỏp luật về doanh nghiệp của Việt Nam,
trong khoa học phỏp lý thường cú hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng phải ban hành một đạo luật là Luật doanh
nghiệp chung mới cú thể thống nhất được những quy phạm rời rạc, tản mạn quy
định trong rất nhiều văn bản khỏc nhau. Đạo luật đú sẽ cú những quy định
chung cho cỏc loại hỡnh doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước trong Luật
doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Hợp tỏc xó trong Luật Hợp tỏc xó năm 2003,
cỏc loại hỡnh doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp năm 1999, doanh nghiệp
cú vốn đầu tư nước ngoài trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Những
người theo quan điểm này đưa ra căn cứ cho luận điểm của mỡnh là: một bộ luật
chung sẽ tạo được một mụi trường phỏp lý chung để cỏc doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế được đối xử bỡnh đẳng trước phỏp luật.
Quan điểm thứ hai cho rằng khụng nhất thiết phải ban hành một đạo luật
chung mà phải tiến hành rà soỏt lại, sửa đổi, bổ sung sao cho cú sự thống nhất
thực sự về mặt nội dung của cỏc quy phạm phỏp luật về doanh nghiệp. Việc ban
khỏch quan và đũi hỏi này càng cấp thiết hơn khi Việt Nam đang trờn con
đường hướng tới hội nhập toàn cầu. Việc thống nhất phỏp luật là yờu cầu khỏch
quan bởi sự mõu thuẫn, khụng tương thớch của hệ thống phỏp luật sẽ tất yếu
phải bị thay thế bằng những qui phạm mới thớch hợp hơn. Một trong những lợi
ớch lớn nhất cú được từ sự thống nhất của phỏp luật về doanh nghiệp là đảm bảo
được yờu cầu quản lớ nhà nước về doanh nghiệp, một nội dung của quản lý nhà
nước về kinh tế. Quản lớ nhà nước về kinh tế chớnh là sự tỏc động của hệ thống
12
quản lớ hay chủ thể quản lớ - nhà nước lờn hệ thống bị quản lớ hay khỏch thể
quản lớ - nền kinh tế nhằm hướng sự vận hành của nền kinh tế theo mục tiờu đó
đặt ra [trang 15 - 10]. Trong nền kinh tế quan liờu bao cấp, nhà nước thực hiện
việc hoạch định chớnh sỏch đối với cỏc khu vực kinh tế khỏc nhau. Do đú, để
quản lớ cỏc doanh nghiệp, nhà nước đó chia cỏc loại hỡnh doanh nghiệp theo
tiờu chớ sở hữu: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dõn doanh. Song, khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc phõn chia ấy khụng cũn thớch hợp nữa.
Quản lớ nhà nước lỳc này chỉ là việc thực hiện cỏc biện phỏp vĩ mụ, nhà nước
khụng can thiệp vào cỏc hoạt động kinh doanh, trao quyền tự chủ cho cỏc doanh
nghiệp. Do đú, một yờu cầu tất yếu đặt ra là phải bỏ đi những “đặc quyền” của
doanh nghiệp nhà nước, tất cả cỏc loại hỡnh doanh nghiệp phải được thống nhất
điều chỉnh, khụng phõn biệt thành phần sở hữu. Sự thay đổi ấy là tất yếu để cú
được một hệ thống phỏp luật thống nhất, hiệu quả hơn.
Khụng chỉ là yờu cầu khỏch quan, sự thống nhất của phỏp luật về doanh
nghiệp cũn xuất phỏt từ nhu cầu nội tại khi Việt Nam đó là thành viờn của tổ
chức thương mại thế giới WTO. Một trong những yờu cầu tiờn quyết của tổ
chức này với hệ thống phỏp luật của cỏc nước thành viờn là sự thống nhất và
minh bạch. Nếu Việt Nam chưa thống nhất được phỏp luật để đảm bảo tốt hơn
sự bỡnh đẳng giữa cỏc nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài cú nghĩa
là Việt Nam chưa thực hiện được nguyờn tắc “đối xử quốc gia – NT”, nguyờn
nghiệp chớnh là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phỏt triển. Do đú, xột về cả
mặt lý luận lẫn thực tiễn, sự thống nhất phỏp luật về doanh nghiệp cú ý nghĩa vụ
cựng to lớn, biểu hiện cụ thể ở cỏc khớa cạnh sau:
Thứ nhất, phỏp luật về doanh nghiệp đó thể chế đỳng đường lối của Hiến
phỏp 1992: đảm bảo bỡnh đẳng giữa cỏc thành phần kinh tế. (Điều 16, Điều 22).
Về mặt lý luận, Hiến phỏp là văn bản cú hiệu lực cao nhất của nước Cộng hoà
xó hội chủ nghĩa Việt Nam nờn theo quy định, những văn bản luật và dưới luật
khụng phự hợp với quy định của Hiến phỏp sẽ khụng thể cú hiệu lực phỏp luật.
Tuy nhiờn, trờn thực tế ở Việt Nam vẫn tồn tại rất nhiều văn bản phỏp luật chưa
thực sự đảm bảo yờu cầu bỡnh đẳng giữa cỏc loại hỡnh doanh nghiệp thuộc cỏc
thành phần kinh tế khỏc nhau. Thống nhất phỏp luật vỡ thế sẽ tạo điều kiện cho
14
những văn bản phỏp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp phự
hợp hơn với quy định của Hiến phỏp và cú hiệu lực phỏp luật ở cả mặt lý luận
và thực tiễn.
Thứ hai, hệ thống phỏp luật thống nhất về doanh nghiệp sẽ tạo được sự tin
tưởng của cỏc nhà đầu tư nước ngoài đối với chớnh sỏch của nhà nước Việt
Nam. Sự tin tưởng đú xuất phỏt từ tớnh minh bạch, đơn giản trong thủ tục thành
lập doanh nghiệp, đồng thời xuất phỏt từ sự bỡnh đẳng với cỏc nhà đầu tư trong
nước. Thực tế những năm vừa qua cho thấy, số lượng cỏc doanh nghiệp cú vốn
đầu tư nước ngoài tăng 2,42 lần trong 5 năm, từ năm 2000 đến năm 2005 nhưng
tỉ trọng trong tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam đó giảm nhẹ từ 3,61% xuống
cũn 3,42% [Tr 5- 15]. Kết quả này là do phỏp luật đó cú những cải thiện trong
quy định về địa vị phỏp lý của cỏc doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài song
vẫn chưa đỏp ứng được đầy đủ nguyện vọng của tổ chức, cỏ nhõn nước ngoài
muốn đầu tư vào Việt Nam. Do đú, trong bối cảnh hiện nay, khi mà việc thu hỳt
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang là yờu cầu tất yếu để phỏt triển kinh tế, sự
thống nhất phỏp luật về doanh nghiệp cú ý nghĩa rất lớn trong việc tạo điều kiện
tư, trong đú cú vấn đề tổ chức và quản lớ doanh nghiệp của cỏc nhà đầu tư thuộc
cỏc nước ASEAN tại cỏc nước thành viờn của hiệp định. Do đú, Việt Nam cũng
như cỏc nước thành viờn khỏc phải tuõn theo những quy định này. Như vậy,
bằng những ý nghĩa quan trọng núi trờn, việc thống nhất phỏp luật về doanh
nghiệp là phự hợp với xu hướng hội nhập kinh tế trong khu vực và trờn toàn thế
giới.
16
Chương II- Sự thống nhất của phỏp luật về doanh nghiệp ở Việt
Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện sự thống nhất đú.
2.1. Sự thống nhất phỏp luật về doanh nghiệp theo quy định của phỏp
luật Việt Nam.
2.1.1. Sự thống nhất phỏp luật về loại hỡnh doanh nghiệp.
Trong một thời gian dài trước khi cú Luật doanh nghiệp 2005, ở Việt
Nam, cỏc loại hỡnh doanh nghiệp khỏc nhau được điều chỉnh bởi nhiều văn bản
phỏp luật riờng lẻ. Tuy nhiờn, những bước tiến trong việc thống nhất phỏp luật
về doanh nghiệp thỡ vẫn thể hiện rất rừ ràng. Năm 1990, Luật cụng ty của Việt
Nam ra đời, quy định địa vị phỏp lý của cụng ty TNHH, cụng ty cổ phần trong
khi cỏc doanh nghiệp tư nhõn được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp tư nhõn.
Tuy nhiờn, sau gần 10 năm ỏp dụng Luật cụng ty và Luật doanh nghiệp tư nhõn,
thực tiễn đó nảy sinh nhu cầu về một đạo luật mới nhằm đa dạng cỏc loại hỡnh
doanh nghiệp, tạo mụi trường kinh doanh ổn định, cải cỏch cỏc thủ tục hành
chớnh trong đăng ký kinh doanh … Đỏp ứng nhu cầu đú, đến năm 1999, Luật
doanh nghiệp đó ra đời, thống nhất điều chỉnh cả bốn loại hỡnh doanh nghiệp là
cụng ty TNHH, cụng ty cổ phần, cụng ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhõn.
Địa vị phỏp lý của doanh nghiệp nhà nước trước đõy đó từng được quy
định trong một đạo luật riờng, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 và sau đú
là Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003. Thực tế này xuất phỏt từ quan điểm
doanh nghiệp nhà nước và cỏc doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể
là:
Về doanh nghiệp nhà nước, loại hỡnh doanh nghiệp này hiện nay khụng
cũn được điều chỉnh bằng đạo luật riờng biệt như trước đõy. Theo Điều 166
Luật doanh nghiệp năm 2005, cỏc doanh nghiệp nhà nước hiện đang hoạt động
theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành cụng ty
TNHH, cụng ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2005. Lộ trỡnh
chuyển đổi theo quy định này là bốn năm kể từ ngày Luật doanh nghiệp năm
2005 cú hiệu lực thi hành. Cú thể khẳng định, bản chất của việc chuyển đổi
doanh nghiệp nhà nước là chuyển đổi hỡnh thức phỏp lý và quản trị nội bộ của
18
doanh nghiệp, khụng phải là chuyển đổi tớnh chất sở hữu. Doanh nghiệp nhà
nước sẽ được tổ chức lại theo những quy định chung cho cả doanh nghiệp quốc
doanh và ngoài quốc doanh nhưng vốn điều lệ của doanh nghiệp vẫn lấy từ ngõn
sỏch nhà nước và vẫn cú cơ chế người đại diện chủ sở hữu đứng ra điều hành
doanh nghiệp đú. Việc chuyển sang hoạt động theo quy định chung với cỏc
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khỏc cú ý nghĩa to lớn đối với chớnh cỏc
doanh nghiệp nhà nước. Cũng giống như trong quan hệ quốc tế, cỏc quốc gia tự
từ bỏ quyền miễn trừ tư phỏp của mỡnh để dễ dàng hơn trong việc thiết lập cỏc
quan hệ thương mại đối với cỏc đối tỏc khỏc thỡ ở đõy, bằng sự chuyển đổi như
trờn, cỏc doanh nghiệp nhà nước sẽ cú điều kiện thuận lợi hơn khi tiến hành
hoạt động kinh doanh với cỏc bạn hàng, nhất là bạn hàng nước ngoài. Tớnh đến
nay, Việt Nam đó cổ phần hoỏ được hơn 3000 doanh nghiệp và theo quyết định
số 1729/ QĐ – TTg của thủ tướng Chớnh phủ, trong giai đoạn 2007 – 2010 sẽ cú
thờm 71 tập đoàn, Tổng cụng ty được cổ phần hoỏ [20]. Tuy nhiờn, quỏ trỡnh
chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước cũng cú nhiều khỳc mắc do những quy định
phỏp luật chưa thống nhất, hợp lý. Trờn thực tế, theo Nghị định 187/ NĐ – CP
của Bộ tài chớnh về định giỏ doanh nghiệp nhà nước, cú những tài sản lớn như
trờn thực tế, khi đăng kớ lại, doanh nghiệp cũng sẽ gặp khụng ớt khú khăn về
thủ tục hành chớnh. Chớnh phủ đó ban hành Nghị định 101/2006/NĐ - CP,
trong đú doanh nghiệp liờn doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cú từ
hai chủ sở hữu trở lờn đăng kớ chuyển đổi thành cụng ty TNHH hai thành viờn
trở lờn; doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài do một tổ chức hoặc cỏ nhõn nước
ngoài đầu tư chuyển đổi thành cụng ty TNHH một thành viờn; cụng ty cổ phần
cú vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Nghị định 38/2003/NĐ - CP ngày
15/4/2003 của Chớnh phủ được chuyển đổi thành cụng ty cổ phần. Những quy
định về đăng kớ lại đang bộc lộ những hạn chế nhất định mà bất cập nhất là cỏc
nhà làm luật chưa lường trước được những thiệt hại mà doanh nghiệp phải gỏnh
chịu. Theo nghị định 101/2006/NĐ - CP, doanh nghiệp phải tiến hành đầy đủ
cỏc trỡnh tự như khi thành lập mới, bao gồm hàng loạt thủ tục đăng kớ, xin cấp
mẫu dấu, mó số thuế… Do đú, hiện nay chỉ cú một số rất ớt doanh nghiệp
chuyển đổi và đăng kớ đổi giấy chứng nhận đầu tư. Theo ước tớnh của Sở kế
20
hoạch đầu tư Hà Nội, hiện mới cú khoảng 40 trờn tổng số 700 doanh nghiệp cú
vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động trờn địa bàn thành phố đó đăng kớ lại.
Trong khi đú, Nghị định 101/NĐ - CP quy định thời hạn đối với hoạt động này
chỉ cú hai năm kể từ khi Luật doanh nghiệp năm 2005 cú hiệu lực thi hành, tức
là đến hết thỏng 6 năm 2008. Trường hợp sau thời điểm đú doanh nghiệp mới cú
nhu cầu đăng kớ lại chưa được cỏc nhà làm luật dự liệu.
Trờn đõy là những hạn chế của quy định về thống nhất cỏc loại hỡnh
doanh nghiệp. Đứng trước những hạn chế này, một yờu cầu tất yếu đặt ra là nhà
nước cần phải tập trung xem xột, sửa đổi hoặc ban hành mới cỏc quy định phỏp
luật liờn quan để đảm bảo tớnh khả thi của phỏp luật cũng như tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho cỏc loại hỡnh doanh nghiệp.
2.1.2. Thống nhất về quyền thành lập và gúp vốn vào doanh nghiệp
Về mặt lý luận, quyền thành lập doanh nghiệp được xem là nội dung phỏp
doanh nghiệp nhà nước quỏ nhiều cơ quan chủ quản, do đú doanh nghiệp khụng
thể tự chủ và mất đi sự linh hoạt, nờn càng khụng thể phỏt huy vai trũ chủ đạo
của mỡnh.
Đối với quyền thành lập doanh nghiệp liờn doanh, doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định như sau:
Đối với doanh nghiệp liờn doanh, nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư
Việt Nam đỏp ứng điều kiện về chủ thể theo Quy định tại Điều 2 Nghị Định số
24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 và được sửa đổi tại Khoản 2 Điều 1 Nghị Định
số 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 quy định chi tiết một số điều của Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo
Luật doanh nghiệp nhà nước, Hợp tỏc xó được thành lập theo Luật hợp tỏc xó,
tổ chức chớnh trị, tổ chức chớnh trị xó hội, cụng ty TNHH, cụng ty cổ phần,
cụng ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhõn được thành lập theo Luật doanh nghiệp;
cơ sở khỏm chữa bệnh, giỏo dục đào tạo, nghiờn cứu khoa học ở trong nước đỏp
ứng những điều kiện do Chớnh phủ quy định; nhà đầu tư nước ngoài; doanh
nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cơ
quan nhà nước cú thẩm quyền ký kết hợp đồng BOT, BTO và BT.
22
Đối với doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thỡ đối tượng được
quyền thành lập loại doanh nghiệp này chỉ cú thể là nhà đầu tư nước ngoài.
Việc Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam liệt kờ những chủ thể được
phộp thành lập doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài như trờn khụng những
khụng hợp lý về mặt kỹ thuật lập phỏp mà cũn tạo ra sự bất bỡnh đẳng giữa tổ
chức, cỏ nhõn trong nước với cỏc tổ chức, cỏ nhõn nước ngoài, dẫn đến những
cơ hội khụng giống nhau cho cỏc nhà đầu tư thuộc cỏc thành phần kinh tế khỏc
nhau trong việc gia nhập thị trường. Cỏ nhõn, tổ chức nước ngoài chỉ là một bờn
liờn doanh trong doanh nghiệp liờn doanh hay thành lập doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài mà khụng cú nhiều cơ hội lựa chọn những loại hỡnh doanh
doanh nghiệp một cỏch đỳng phỏp luật. Việc hạn chế một số đối tượng thành lập
doanh nghiệp xuất phỏt từ yờu cầu bảo vệ lợi ớch của nhà nước, lợi ớch của xó
hội cũng như lợi ớch của bản thõn cỏc nhà đầu tư. Một cỏch tổng quỏt, quy định
như vậy là phự hợp với thụng lệ quốc tế trong lĩnh vực phỏp luật về doanh
nghiệp.
Một điểm tớch cực khụng thể khụng đề cập đến của việc phỏp luật quy
định quyền thành lập của tổ chức, cỏ nhõn nước ngoài và tổ chức, cỏc nhõn
trong nước cựng một điều luật chớnh là để tạo cơ hội thuận lợi, dễ dàng và bỡnh
đẳng cho hai đối tợng trờn khi thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiờn, để đảm bảo
chủ trương mở cửa theo lộ trỡnh đó cam kết trong cỏc Hiệp định song phương
và đa phương của Việt Nam, cỏc nhà đầu tư nước ngoài vẫn cũn phải chịu một
số hạn chế kinh doanh trong một số ngành nghề nhất định theo danh mục Chớnh
phủ ban hành. Hơn nữa, phỏp luật cũn quy định thờm một số điều kiện so với
điều kiện ỏp dụng đối với cỏc nhà đầu tư trong nước trong một số ngành nghề,
lĩnh vực như: tài chớnh, ngõn hàng, lĩnh vực tỏc động đến sức khoẻ cộng đồng;
văn hoỏ, thụng tin, bỏo chớ, xuất bản, dịch vụ giải trớ, kinh doanh bất động sản;
khảo sỏt, tỡm kiếm, thăm dũ, khai thỏc tài nguyờn thiờn nhiờn, mụi trường sinh
thỏi; phỏt triển sự nghiệp giỏo dục đào tạo và một số lĩnh vực khỏc theo quy
định của phỏp luật.
Bờn cạnh đú, xột về kỹ thuật lập phỏp, trong khi thống nhất về quyền
thành lập và quản lý doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp năm 2005 đó cú những