MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………..
B.NỘI DUNG…………………………………………………………………………..
I.Những vấn đề pháp lý khi xét xử các cá nhân bị coi là tội phạm quốc tế tại Tòa
án hình sự quốc tế ICC……………………………………………………………......
1.Khái quát chung về các Tòa án xét xử tội phạm quốc tế……………………………...
1.1 Trách nhiệm hình sự của cá nhân đối với tội phạm quốc tế………………………...
1.2 Sự hình thành và hoạt động của các Tòa án xét xử tội phạm quốc tế trước khi có
sự ra đời của ICC…………………………………………………………………..........
2. Sự hình thành và tổ chức hoạt động của Tòa án hình sự quốc tế ICC……………….
2.1 Đặc điểm của Tòa án hình sự quốc tế ICC………………………………………….
2.2 Cơ cấu tổ chức của ICC……………………………………………………………..
2.3 Nguyên tắc hoạt động của ICC……………………………………………………...
2.4 Thẩm quyền tài phán của ICC………………………………………………………
2.5 Trình tự, thủ tục xét xử và thông qua phán quyết của ICC…………………………
2.6 Vai trò, ý nghĩa của ICC trong thực tiễn đời sống quốc tế…………………………
II. Thực tiễn xét xử các cá nhân bị coi là tội phạm quốc tế tại Tòa án hình sự
quốc tế ICC……………………………………………………………………….........
1.Vụ thứ nhất – Tội phạm quốc tế ở Bắc – Uganđa…………………………………….
2.Vụ thứ hai – Tội phạm quốc tế ở Cộng hòa dân chủ Cônggô………………………...
3.Vụ thứ ba – Tội phạm quốc tế ở Trung Phi…………………………………………...
4.Vụ thứ tư – Tội phạm quốc tế ở Xuđăng……………………………………………...
5.Vụ thứ năm – Tội phạm quốc tế ở Kênia……………………………………………..
C.KẾT LUẬN……………………………………………………………………….....
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………......
2
2
2
2
2
phòng chống tội phạm quốc tế thì vấn đề tổ chức và hoạt động của một Tòa án hình sự để xét xử
tội phạm quốc tế ngày càng trở nên cần thiết đối với các quốc gia. Do đó, vào năm 1998, Quy chế
Rome được kí kết thành lập Tòa án hình sự quốc tế (ICC) để xét xử những cá nhân phạm các tội
ác nghiêm trọng nhất đối với cộng đồng quốc tế. Lần đầu tiên trong lịch sử, một Tòa án hình sự
quốc tế thường trực được các quốc gia thành lập bằng một điều ước quốc tế - Quy chế Rome –
với vai trò bổ sung cho hệ thống tư pháp quốc gia. Theo quy chế này, Tòa án hình sự quốc tế có
thẩm quyền xét xử các tội phạm diệt chủng, tội phạm chống loài người, tội phạm chiến tranh và
tội phạm xâm lược. Bài tiểu luận dưới đây em xin đi sâu Phân tích các vấn đề pháp lý và thực
tiễn xét xử các cá nhân bị coi là tội phạm quốc tế tại một thiết chế tài phán quốc tế cụ thể
trong phạm vi bài tiểu luận này em lựa chọn thiết chế tài phán là Tòa án hình sự quốc tế (ICC).
B. NỘI DUNG
I. Những vấn đề pháp lý khi xét xử các cá nhân bị coi là tội phạm quốc tế tại Tòa án
hình sự quốc tế ICC
1. Khái quát chung về các Tòa án xét xử tội phạm quốc tế
1.1. Trách nhiệm hình sự quốc tế của cá nhân đối với tội phạm quốc tế
Tội phạm quốc tế là loại tội phạm bị truy cứu trách nhiệm dựa trên cơ sở luật quốc tế và xét
xử tại Tòa án quốc tế được thành lập theo quy định luật quốc tế.
Khi nghiên cứu về các Tòa án xét xử tội phạm quốc tế không thể không đề cập tới vấn đề
trách nhiệm hình sự quốc tế. Bởi đây chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng nên các thiết chế Tòa
án để xét xử các cá nhân đối với hành vi tội ác quốc tế. Trách nhiệm hình sự quốc tế của cá nhân
đối với hành vi tội ác quốc tế là một chế định mới và quan trọng của luật hình sự quốc tế hiện đại.
xuất phát điểm của chế định này chính là tư tưởng về tính chất tội phạm của chiến tranh xâm
lược.
Căn cứ vào các quy định hiện hành của Luật quốc tế, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự
quốc tế của các cá nhân bằng các phương thức sau:
- Các quốc gia kí kết các điều ước quốc tế thành lập Tòa án hình sự quốc tế như: Tòa án quân sự
Nuremberg, Tokyo và hiện nay có Tòa án hình sự quốc tế tại Lahaye.
- Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đưa ra các nghị quyết thành lập Tòa án quốc tế truy tố, xét xử
các trường hợp cụ thể vi phạm luật nhân đạo quốc tế như Nghị quyết 808 năm 1993 và Nghị
2.1 Đặc điểm của Tòa án hình sự quốc tế ICC
Thứ nhất, ICC là một Tòa hình sự. Tòa sẽ xét xử trực tiếp những tội phạm hình sự căn cứ
theo những quy định của Quy chế. Do vậy, khác với Tòa án công lý quốc tế có chức năng giải
quyết tranh chấp giữa các quốc gia là chủ yếu.
Thứ hai, thể hiện tính chất thường trực của một Tòa án hình sự quốc tế. Đây là thiết chế tư
pháp hình sự có tính chất thường trực (Điều 1) chỉ có thẩm quyền xét xử đối với những tội phạm
xảy ra vào thời điểm sau khi quy chế Rome có hiệu lực, tức là thẩm quyền của ICC không có
hiệu lực hồi tố.
Thứ ba, ICC là một thiết chế Tòa án độc lập với các tòa án hình sự trong nước. Thẩm quyền
xét xử của Tòa là sự bổ trợ đối với thẩm quyền xét xử của các Tòa án trong nước.
Thứ tư, Tòa là một thiết chế độc lập với Liên hợp quốc và là một pháp nhân của Luật quốc tế.
Tòa án do các quốc gia độc lập có chủ quyền thỏa thuận thành lập nên với mục đích ngăn ngừa và
trừng trị những hành vi nguy hiểm nhất xâm phạm đến cộng đồng quốc tế nói chung. Tòa được
hình thành trên cơ sở Điều ước quốc tế là Quy chế Rome 1998.
Thứ năm, đối tượng chịu sự xét xử của Tòa là các cá nhân. Đặc điểm này giúp phân biệt với
Tòa án công lý quốc tế ở chỗ Tòa án công lý quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các chủ
thể của Luật quốc tế mà thôi. Do đó Tòa án công lý quốc tế không chấp nhận những vụ việc mà
một bên hoặc các bên là những cá nhân.
2.2 Cơ cấu tổ chức của ICC
Theo Điều 34 Quy chế Rome thì cơ cấu tổ chức của Tòa hình sự quốc tế gồm có 4 bộ phận
chính:
Ban chánh án: gồm Chánh án, Phó Chánh án thứ nhất và Phó chánh án thứ hai. Ban chánh án
là cơ quan chịu trách nhiệm về các công việc hành chính của Tòa, trừ những chức năng thuộc về
Văn phòng công tố viên cũng như những chức năng khác được quy định trong Quy chế (Điều
38).
Các bộ phận xét xử gồm Bộ phận phúc thẩm, Bộ phận sơ thẩm, Bộ phận dự thẩm: chức năng
và thẩm quyền của các bộ phận được quy định một cách cụ thể trong nhiều điều khoản tương ứng
chủ yếu tại phần II, III, V, VIII của Quy chế Rome.
3
+ Quốc gia thành viên yêu cầu: Điều 14 Quy chế
+ HĐBA Liên hợp quốc yêu cầu: Điều 13 khoản b Quy chế.
+ Công tố viên tự mở cuộc điều tra: Điều 15 Quy chế.
Thẩm quyền xét xử của ICC được giới hạn trong các tội ác nghiêm trọng nhất liên quan tới
toàn thể cộng đồng quốc tế.
2.5 Trình tự, thủ tục xét xử và thông qua phán quyết của ICC
- Trình tự thủ tục xét xử tại ICC bao gồm: Phòng công tố có chức năng điều tra và khởi tố. Hội
đồng dự thẩm của Bộ phận dự thẩm có trách nhiệm tiến hành các hoạt động có tính chất chuẩn bị
như ra lệnh bắt hoặc quyết định triệu tập cần thiết cho việc điều tra, áp dụng các biện pháp bảo vệ
nạn nhân, người làm chứng tiến hành các thủ tục sơ bộ tại tòa, xác nhận những lời buộc tội trước
khi xét xử. Hội đồng sơ thẩm của bộ phận sơ thẩm có nghĩa vụ tiến hành các hoạt động xét xử khi
hội tụ đầy đủ các điều kiện theo quy định, xác nhận lời buộc tội là chính xác. Và khâu cuối cùng
trong hoạt động xét xử của ICC là Hội đồng xét xử sẽ đưa ra phán quyết. Phán quyết phải được
tuyên đọc công khai và vào bất cứ thời điểm nào có thể với sự hiện diện của bị cáo.
- Phán quyết của ICC: Phán quyết phải được thông qua với đa số thẩm phán và phải được tuyên
công khai đồng thời trong bản án phải ghi rõ lý do làm cơ sở ra phán quyết. Điều 110 Quy chế,
Tòa án có thể đưa ra phán quyết ấn định một trong các hình phạt sau đây đối với bị cáo về một tội
4
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án theo quy chế: Phạt tù giam trong một thời hạn cụ thể nhưng
tối đa không vượt quá 30 năm tù. Phạt tù chung thân khi điều đó được chứng minh bằng tính chất
đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm và hoàn cảnh cá nhân của người bị kết tội. Khi phán quyết
của Tòa xét xử đã được tuyên mà không có kháng án hoặc có kháng án và Tòa phúc thẩm đã xét
xử và ra phán quyết thì phán quyết có hiệu lực pháp luật và phải được thi hành với một trình tự
xác định sau: Tòa án chỉ định quốc gia, nơi bản án tù giam được thực hiện trong số các quốc gia
thể hiện nguyên vọn chấp nhận thi hành. Quốc gia được chấp nhận chỉ định thi hành án phải
thông báo cho Tòa án biết về bất kì điều kiện, hoàn cảnh nào có thể ảnh hưởng tới thời hạn và
điều kiện giam giữ. Vì những lý do khác nhau, nếu không có quốc gia nào đáp ứng được các điều
kiện có thể được chỉ định là nơi thi hành bản án, thì án phạt tù sẽ được thi hành tại nhà tù của
Joseph làm tổng tư lệnh. Công tố viên đã điều tra về vấn đề này vào ngày 29/7/2004 (vào ngày
5/7, vụ án đã được chuyển giao cho Hội đồng tiền xét xử II).
Ngày 8/7/2005, Tòa án đã ra lệnh bắt giữ đầu tiên đối với 5 nhân vật cao cấp của lực lượng
“quân đội thánh chiến” do Joseph Kony cầm đầu. Đó là:
- Tổng tư lệnh Joseph Kony: Joseph Kony cầm đầu lực lượng phiến quân có tên gọi “quân đội
thánh chiến”. Trong thời gian nội chiến chống quân đội của chính phủ (gần 20 năm), Joseph
Kony và quân đội thánh chiến đã cưỡng ép 30.000 trẻ em vào lực lượng vũ trang, làm 1,6 triệu
5
người mất nhà cửa, hàng chục người đã bị giết, bắt cóc, ép buộc làm nô lệ và hiếp dâm. Joseph
Kony bị cáo buộc đã phạm tội chống loài người do đã có các hành vi giết người, ép buộc làm nô
lệ tình dục, hiếp dâm, cố ý gây thương tích nghiêm trọng; và tội phạm chiến tranh đối với các
hành vi giết người, đối xử với thường dân vô nhân đạo, tấn công thường dân, cướp bóc, kích
động hiếp dâm và ép buộc trẻ em tham gia lực lượng vũ trang.
- Phó tư lệnh quân đội Vincent Otti: Phó tư lệnh quân đội Vincent Otti đã phạm tội chống loài
người đối với các hành vi giết người, ép buộc nô lệ tình dục, gây thương tích nghiêm trọng cho
người khác; tội phạm chiến tranh với các hành vi xúi giục hiếp dâm, tấn công dân thường ép buộc
trẻ em tham gia lực lượng vũ trang, đối xử thường dân vô nhân đạo, cướp bóc và giết người.
- Tướng lĩnh cao cấp của Joseph Kony – Otkot Odiambo: Phạm tội chống nhân loại với các
hành vi ép buộc nô lệ và tội phạm chiến tranh với các hành vi tấn công dân thường, cướp bóc và
ép buộc trẻ em tham gia lực lượng vũ trang. Otkot Odiamo bị cáo buộc ra lệnh tấn công trại tỵ
nạn ở Balonya vào tháng 2 năm 2004 làm 300 người bị chết.
- Tướng Raska Lukiya: Đây là tướng lĩnh của “quân đội thánh chiến”, phạm tội chống nhân loại
với hành vi ép buộc làm nô lệ và tội phạm chiến tranh với hành vi đối xử vô nhân đạo với thường
dân, tấn công thường dân và cướp bóc.
- Tướng Dominic Ongwen: Ông phạm tội chống nhân loại với các hành vi ép buộc làm nô lệ và
gây thương tích nghiêm trọng cho người khác; tội phạm chiến tranh và các hành vi giết người,
đối xử vô nhân đạo với thường dân, tấn công thường dân và cướp bóc.
Trong năm người bị cáo buộc nói trên thì Lukiya được cho rằng đã chết vào ngày
Cônggô” và “lực lượng những người yêu nước tự do Cônggô” và là Tổng tư lệnh của lực lượng
này từ tháng 9/2002 đến cuối năm 2003.
Mặc dù bị cáo buộc về nhiều hành vi như ra lệnh giết người, làm cho nhiều dân thường
mất nhà cửa, ép buộc nô lệ tình dục, ép buộc trẻ em tham gia lực lượng vũ trang, nhưng cáo buộc
chính thức từ Công tố viên của ICC đối với Thomas Lubanga là ép buộc trẻ em tham gia lực
lượng vũ trang. Ngày 17/3/2006, ông bị bắt giữ theo lệnh của ICC và là nghi can đầu tiên bị xét
xử tại ICC. Lệnh bắt giữ ông được ban hành ngày 10/2/2006 về tội phạm chiến tranh do hành vi
ép buộc trẻ em vào lực lượng vũ trang. Cũng trong ngày này, ông được dẫn giải đến ICC bằng
máy bay của lực lượng không quân Pháp. Việc xét xử Thomas Lubanga dự định bắt đầu vào ngày
23/6/2008 nhưng sau đó đã phải tạm dừng vào ngày 13/6, khi Tòa án cho rằng việc Công tố viên
từ chối công khai những tài liệu bào chữa đã xâm phạm quyền được xét xử công bằng của
Thomas Lubanga. Công tố viên đã thu thập được các chứng cứ từ Liên hợp quốc và các nguồn tài
liệu đáng tin cậy khác, nhưng các thẩm phán lại cho rằng Công tố viên áp dụng chưa đúng điều
khoản có liên quan của Quy chế Rome. Tòa án trì hoãn việc xét xử Thomas Lubanga đến ngày
18/11/2008. Trong thời gian phiên tòa bị trì hoãn, Thomas Lubanga bị tạm giam tại ICC. Ngày
26/1/2009, bắt đầu phiên tòa xét xử Thomas Lubanga.
- Germain Katanga (còn gọi là “Samba”) và Mathieu Ngudjolo Chui: Đây là hai trong số
những người cầm đầu “Liên minh những người yêu nước Cônggô”. Katanga bị bắt theo lệnh của
ICC vào ngày 25/6/2007 và được chuyển đến tạm giam tại ICC vào ngày 17/10/2007. Phiên tòa
xét xử Katanga của ICC bắt đầu ngày 24/11/2009.
Chui bị bắt theo lệnh của ICC vào ngày 25/6/2007. Phiên Tòa xét xử Chui của ICC được bắt
đầu vào ngày 24/11 năm 2009.
Cả Katanga và Chui đều bị bắt vì vai trò quan trọng gây ra hậu quả đẫm máu trong cuộc xung
đột ở Cộng hòa dân chủ Cônggô. Hai người này bị chính quyền Cônggô bắt giữ và dẫn giải đến
ICC. Hai ông này đều phạm tội chiến tranh và tội chống loài người do có hành vi ra lệnh tấn công
một ngôi làng ở Bogoro, miền Đông Cônggô vào ngày 24/2/2003 làm ít nhất 200 thường dân bị
giết, giam giữ thường dân trong những căn phòng đầy xác chết, cưỡng bức nhiều phụ nữ và
thường dân trong những căn phòng đầy xác chết, cưỡng bức nhiều phụ nữ và cô gái trẻ đẹp làm
nô lệ tình dục, giết người, sử dụng trẻ em dưới 15 tuổi tham gia lực lượng vũ trang.
- Bosco Ntaganda: Đây là tướng lĩnh cấp cao của Liên Minh những người yêu nước Cônggô.
Bashir đã không có bất kỳ một cuộc đàm phán nào với lực lượng phiến quân và tiến hành nhiều
biện pháp đàn áp cứng rắn thô bạo.
Về tội phạm quốc tế ở Xu đăng, các cá nhân sau bị cáo buộc đã vi phạm quy chế Rome:
- Tổng thống, người đứng đầu Đảng đại biểu quốc gia – Omar al – Bashir: Tháng 7/2008,
công tố viên đã gửi tới ICC lệnh bắt giữ đối với Tổng thống này về các tội diệt chủng, tội ác
chiến tranh và tội chống nhân loại. Đến tháng 10, Tòa án đã yêu cầu Công tố viên cung cấp thông
tin đầy đủ hơn cho lời buộc tội này. Ông này bị buộc tội ra lệnh khiến cho ít nhất là 10.000 người
bị chết. Hậu quả của cuộc xung đột này là ít nhất 300.000 người thường dân bị chết, 2,7 triệu
người bị mất nhà cửa.
- Bộ trưởng Ngoại giao Ahmad Muhammad Haroun và người đứng đầu lực lượng quân đội
Janjaweed – Ali Kushayb: Đây là hai nghi can chủ chốt bị buộc phạm tội chiến tranh và tội
chống nhân loại (hai người này hiện đã bỏ trốn). Một trong các vụ án đẫm máu mà hai người này
gây ra là vụ ở Bindisi, sau khi có sự bàn bạc giữa Ahmad Muhammad Haroun và Ali Kushay,
hai người quyết định mở cuộc tấn công vào Bindisi. Cuộc tấn công này làm cho 100.000 người bị
chết trong đó có 30 trẻ em. Ngày 2/5/2007, ICC đã phát lệnh bắt giữ đối với hai người này.
Nhận xét: Trong vụ án này bao gồm Tổng thống, người đứng đầu Đảng đại biểu quốc gia
Bộ trưởng Bộ ngoại giao cũng bị ICC ra lệnh bắt giữ. Như vậy ICC thể hiện rất quyết liệt trong
việc xét xử tội phạm quốc tế, ICC không dành quyền ưu đãi, miễn trừ hình sự đối với bất kỳ cá
nhân nào phạm tội ác quy định tại Điều 5 Quy chế Rome nếu như cá nhân đó là công dân của
quốc gia là thành viên của Quy chế Rome hoặc là công dân mà quốc gia đó công nhận thẩm
quyền của ICC.
5. Vụ thứ năm - Tội phạm quốc tế ở Kênia
Cuộc xung đột ở Kênia bắt đầu xảy ra vào ngày 27 tháng 12 năm 2007 khi Tổng thống
Mwai Kibaki tuyên bố thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống. Nhiều cuộc xung đột giữa thành
viên của Đảng đối lập và quân đội của Tổng thống Kibaki đã diễn ra. Cuộc xung đột này đã làm
1.300 người chết và ít nhất là 300.000 người bị mất nhà cửa.
Ngày 5/11/2009, Công tố viên của ICC đã ra thông báo quyết định mở cuộc điều tra về
xung đột sau bầu cử tại Kênia thời gian 2007 – 2008 theo đoạn 3 Điều 15 của Quy chế Rome.
Công tố viên cũng đã thông báo có đầy đủ chứng cứ để đưa 6 người Kênia ra xét xử theo quy chế
Rô me về tội phạm chiến tranh. Kênia là thành viên của quy chế Rome và Quy chế có hiệu lực
2. Giáo trình LUẬT QUỐC TẾ, ThS. Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS. Chu
Mạnh Hùng (đồng chủ biên), NXB. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, năm
2011.
3. LUẬT QUỐC TẾ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, ThS. Lê Mai Anh –
TS. Trần Văn Thắng (Đồng chủ biên), NXB., Hà Nội, Năm 2005.
4. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP, Các Tòa án xét xử tội phạm quốc tế và
việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế ICC, Đỗ Thị Hằng, Hà Nội, năm
2011.
5. LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC, Một số vấn đề pháp lý về tòa án
hình sự quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam, Phạm Bá Quyền, Hà Nội,
năm 2010.
6. Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế - Khoa pháp luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội, TS. Dương Tuyết Miên (chủ biên), NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011.
10