Mối quan hệ giữa điều khoản bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm - Pdf 33

MỤC LỤC
Trang
A. NỘI DUNG…………………………………………………………….2
1. Khái quát chung về điều khoản bảo hiểm…………………………………..2
1.1 Khái niệm điều khoản bảo hiểm…………………………………………..2
1.2 Nội dung của điều khoản bảo hiểm……………………………………….3
2. Ý nghĩa của điều khoản bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh và mối quan hệ
của điều khoản bảo hiểm với hợp đồng bảo hiểm…………………………….9
2.1 Ý nghĩa của điều khoản bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo
hiểm…………………………………………………………………………...9
2.2 Mối quan hệ giữa điều khoản bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm………….11
B. KẾT LUẬN……………………………………………………………12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………..13
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……………………………………………..14

1


A. NỘI DUNG.
1. Khái quát chung về điều khoản bảo hiểm.
1.1 Khái niệm điều khoản bảo hiểm:
Có thể hiểu đơn giản:Điều khoản bảo hiểm là các thỏa thuận giữa chủ thể
mua bảo hiểm và chủ thể kinh doanh bảo hiểm, trong đó quy định quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên tham gia bảo hiểm, được thống nhất và soạn thảo thành
một hợp đồng bảo hiểm. Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của
điều khoản bảo hiểm như sau:
Thứ nhất: Điều khoản bảo hiểm là kết quả của sự thỏa thuận ý chí giữa
người mùa bảo hiểm và chủ thể kinh doanh bảo hiểm.
Thứ hai: Điều khoản bảo hiểm có nội dung chủ yếu là quyền và nghĩa vụ
của các bên tham gia quan hệ bảo hiểm và một số nội dung khác như điều kiện
thực hiện, giải quyết tranh chấp...

hàng.DNBH không có điều kiện tiến hành thương lượng trực tiếp với từng
khách hàng trong từng hợp đồng. DNBH sản xuất ra sản phẩm bảo hiểm với
cùng chất lượng để bán cho nhiều khách hàng đảm bảo tính nhanh chóng, hiệu
quả trong kinh doanh tiết kiệm chi phí và thời gian... Đồng thời công khai sản
phẩm bảo hiểm của riêng mình, tăng cường năng lực cạnh tranh, hạn chế rủi ro
từ đại lý bảo hiểm và tạo điều kiện cho cơ quan chức năng giám sát việc thực
hiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm.
Bên cạnh ưu điểm trên điều khoản mẫu của HĐBH có nhược điểm là hạn
chế nguyên tắc tự do thoả thuận trong ký kết và thực hiện hợp đồng, làm giảm
khả năng lựa chọn của bên mua bảo hiểm.
1.2 Nội dung của điều khoản bảo hiểm:
Điều khoản chủ yếu: là các điều khoản phải có trong hợp đồng, có nó hợp
đồng mới phát sinh hiệu lực. Tuỳ thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể mà người
ta xác định loại điều khoản nào được coi là điều khoản chủ yếu.
Trong các loại hợp đồng bảo hiểm thông thường những điều khoản sau
đây được coi là những điều khoản chủ yếu:
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người
được bảo hiểm hoặc người được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm.
3


- Đối tượng bảo hiểm: có thể là tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng,
sức khoẻ, khả năng lao động, tuổi thọ con người... đối tượng bảo hiểm được xác
định cụ thể trong từng hợp đồng bảo hiểm. Việc xác định rõ đối tượng bảo hiểm
sẽ quyết định đến việc vận dụng các nguyên tắc, biện pháp ký thuật nghiệp vụ
thích hợp trong soạn thảo, thoả thuận và quản lý hợp đồng bảo hiểm.
- Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm trong bảo hiểm tài
sản.Bồi thường chỉ việc bên bảo hiểm thực hiện cam kết đền bù cho người được
bảo hiểm những thiệt hại vật chất xảy ra trong sự kiện bảo hiểm một phần hoặc
toàn bộ.Nó sử dụng chủ yếu trong bảo hiểm tài sản; bảo hiểm trách nhiệm dân

nhân tố ảnh hưởng.
Mức độ rủi ro cao hay thấp được định lượng bằng xác suất rủi ro và mức
độ nghiêm trọng của hậu quả. Xác suất rủi ro trong từng tình huống được tính
toán cụ thể nhờ luật số lớn…Về cơ bản có thể phân chia thành 3 loại biến cố
chắc chắn, biến cố có thể xảy ra và biến cố ngẫu nhiên.
Mức độ nghiêm trọng của hậu quả trong từng tình huống cụ thể phụ thuộc
nhiều yếu tố như: Đặc tính của loại rủi ro, giá trị của đối tương chịu sự tác
động... Về nguyên nhân có rủi ro có nguồn gốc khách quan từ thiên nhiên, hoặc
gắn hoạt động xã hội loài người.Những rủi ro từ hoạt động, hành động cố ý
hoặc vô ý của con người có trường hợp rủi ro xảy ra là một tổ hợp các nguyên
nhân khách quan, chủ quan, cố ý và không cố ý.
Quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và hậu quả rủi ro trong từng trường
hợp bị chi phối bởi nhân tố ảnh hưởng khác.Như nguy cơ vật chất, và nguy cơ
tinh thần. Nguy cơ vật chất ảnh hưởng tới rủi ro là vị trí địa điểm của công trình
xây dựng đối với rủi ro động đất, lũ lụt; tình trạng thiết bị phòng cháy, chữa
cháy đối với rủi ro cháy... Nguy cơ tinh thần là những trạng thái tinh thần của
con người có thể ảnh hưởng đến mức dộ rủi ro thường liên quan đến thái độ
cách cư xử của bên được bảo hiểm như sự lơ là trong bảo vệ đối tượng bảo
hiểm; tâm lý ỷ lại vào sự bảo đảm của người được bảo hiểm; hành vi gian lận, ý
đồ trục lợi sẽ làm tăng mức độ rủi ro lên gấp bội. Rủi ro có thể được bảo hiểm
thường xem xét căn cứ vào một số tiêu chí sau:

5


- Một là, rủi ro được bảo hiểm phải là biến cố ngẫu nhiên: rủi ro xảy ra và
hậu quả không phụ thuộc vào mong muốn của bên tham gia. Tính ngẫu
nhiên liên quan đến tới sự không chắc chắn về khả năng xảy ra và thời
điểm xảy ra(BH nhân thọ trọn đời cho sự kiện chết của người được bảo
hiểm - cái chết là chắc chắn nhưng thời điểm chất không xác định được).

(loại tổn thất, thiệt hại , chi phí phát sinh) và sự giới hạn về không gian, địa bàn
lãnh thổ cần thiết trong một số loại nghiệp vụ bảo hiểm (BH hàng không, BH
trách nhiệm sản phẩm). Loại trừ có thể loại trừ tuyệt đối (không bao giờ nhận
BH) hoặc loại trừ tương đối có thể được bảo hiểm trong những trường hợp đặc
biệt đó là sự linh hoạt cần thiết trong thiết kế sản phẩm bảo hiểm nhằm đáp ứng
các nhu cầu bảo hiểm đa dạng của xã hội. Việc xác định phạm vi bảo hiểm rộng
hay hẹp loại trừ ít hay nhiều còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác mà người bảo
hiểm cần phải xem xét khi thiết kế sản phẩm bảo hiểm như sự đánh giá về nhu
cầu bảo hiểm, khả năng trả phí bảo hiểm của số khách hàng tiềm năng; yêu cầu
quả lý rủi ro và yếu tố cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm. Hơn nữa, hai loại
điều khoản này còn phải được thiết kế trong sự tương quan hợp lý với các điều
khoản khác của hợp đồng.
- Thời gian bảo hiểm, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm.
Thông thường trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phát
sinh khi bên mua bảo hiểm nộp phí, nhưng cũng có thể phát sinh trách bảo hiểm
vào thời điểm do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.
Thời hạn bảo hiểm được xác định bằng điều khoản quy định thời điểm
bắt đầu và thời điểm kết thúc hiệu lực bảo hiểm thông thường được xác định
theo mốc thời gian chính xác theo ngày giờ tháng năm. Một số loại nghiệp vụ
BH việc xác định thời điểm cần có sự kết hợp mốc thời gian và mốc sự kiện “ từ
kho đến kho”. Ngoài ra trong một số trường hợp quy định về mặt thời gian là
linh hoạt chẳng hạn bảo hiểm công trình xây dựng thời hạn bảo hiểm là từ khi
khởi công công trình đến khi bàn giao đưa vào sử dụng. Trong bảo hiểm con
người thời điểm bắt đầu và kết thúc cũng có quy định riêng ( bệnh tật, thai sản,
tự tử, chết ) quy định về thời gian chờ và cả về trách nhiệm trả tiền khi sự kiện

7


chết do rủi ro phát sinh trong thời hạn bảo hiểm nhưng lại xảy ra sau khi kết


đồng thời là một biện pháp góp phần ngăn ngừa rủi ro đạo đức, giảm thiểu nguy
cơ tinh thần trong kinh doanh bảo hiểm.
Bồi thường, trả tiền theo tỷ lệ: có nhiều loại tỷ lệ chi phối cách tính số
tiền bồi thường BH
+ Tỷ lệ số tiền bảo hiểm/ Giá trị bảo hiểm. (BH dưới giá trị)
+ Tỷ lệ bồi thường cụ thể nếu khách hàng chấp nhận thì ký hợp đồng đối với tất
cả các tổn thất xảy ra người được bảo hiểm chỉ được bồi thường một phần thiệt
hại theo tỷ lệ thoả thuận đó. Lý do bắt nguồn từ chủ ý muốn tác động đến ý thức
trách nhiệm của bên được bảo hiểm trong việc bảo vệ an toàn đối tượng bảo
hiểm và hạn chế tổn thất ngay từ khi ký hợp đồng. Đó là biện pháp cần thiết với
một số nghiệp vụ bảo hiểm như: Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, Tín dụng thương
mại, bảo hiểm tiền gửi, bảo hiểm vật nuôi cây trồng- những loại bảo hiểm có
tính phức tạp trong quản lý rủi ro và dễ bị chi phối bởi nguy cơ tinh thần.
+ Tỷ lệ theo phí bảo hiểm: số tiền bồi thường bảo hiểm hoặc trả tiền bảo
hiểm bị giảm đi bởi tỷ lệ:

số phí bảo hiệm đã nộp

số phí bảo hiểm lẽ ra phải nộp.
Cách xác định này thường áp dụng khi có sự nhầm lẫn sai sót trong cung
cấp thông tin và thông báo rủi ro thay đổi của bên mua bảo hiểm. Chẳng hạn, sự
nhầm lẫn tuổi của người được bảo hiểm khi tham gia bao hiểm nhân thọ dẫn
đến việc định mức phí trong hợp đồng thấp hơn mức phí tương ứng với độ tuổi
đúng của người được bảo hiểm, bởi vậy DNBH phải giảm số tiền trả bảo hiểm
nếu như không muốn áp dụng biện pháp khác.
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và việc giải quyết tranh chấp.
- Ngày tháng năm ký kết hợp đồng.
2. Ý nghĩa của điều khoản bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh và
mối quan hệ của điều khoản bảo hiểm với hợp đồng bảo hiểm.

Điều khoản bảo hiểm là cơ sở đảm bảo cho sự tự do thỏa thuận giữa các
bên tham gia quan hệ bảo hiểm. Tự do thoả thuận là một trong những nguyên
tắc quan trọng trong giao kết hợp đồng kinh doanh. Điều này có nghĩa là các
bên được phép lựa chọn hình thức thích hợp khi ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, để
bảo đảm an toàn pháp luật trong các giao dịch hợp đồng giữa các bên, cũng như
10


để bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích kinh doanh đối với một số loại hợp đồng
pháp luật đòi hỏi người chịu trách nhiệm ở công ty giao kết hợp đồng phải tuân
theo những hình thức nhất định, ngược lại, hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực.
Điều khoản bảo hiểm thể hiện dưới hình thức văn bản hợp đồng có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến vấn đề kinh
doanh. Điều khoản bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm là cách thức thể hiện
ý chí ra bên ngoài dưới hình thức nhất định của các chủ thể giao kết. Thông qua
cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết được nội dung của giao dịch kinh
doanh đó xác lập. Các điều khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng,
bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ kinh doanh đó và đang tồn tại giữa các
bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra. Trong trường hợp pháp
luật có quy định giao dịch kinh doanh phải được thể hiện bằng hình thức văn
bản hoặc phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên
phải tuân thủ quy định về hình thức khi ký kết hợp đồng.
Điều khoản hợp đồng cũng có ý nghĩa trong việc lưu ý các bên cần thận
trọng hơn khi giao kết kinh doanh và nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại
các giao dịch kinh doanh, quyền và nghĩa vụ cũng như đặc điểm của quan hệ
pháp luật kinh doanh.
2. Mối quan hệ giữa điều khoản bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm:
Hợp đồng bảo hiểm được cấu thành từ nhiều bộ phận, trong đó điều
khoản bảo hiểm có thể xem là bộ phận quan trọng nhất. Về cơ bản, các yếu tố
cấu thành bảo hiểm là các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, các

triển trong tương lai. Điều khoản bảo hiểm sẽ là một phần làm nên thành công
của những hợp đồng bảo hiểm nói riêng và của nền kinh doanh bảo hiểm nói
chung.

12


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Huyền Trang, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về điều khoản
loại trừ trỏch nhiệm bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm. 2009. Khúa luận tốt
nghiệp. Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Tuyến;
2. Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Kinh
doanh bảo hiểm năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
3. TS.Phạm Văn Tuyết,Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo phỏp luật tại
Việt Nam. 2007. Nhà xuất bản Tư pháp;
4. www.baohiemacelife.vn;
5. ;
6. .

13


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Doanh nghiệp bảo hiểm:

DNBH

Bảo hiểm:

BH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status