Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật trong tố tụng hình sự - Pdf 33

N

guyên tắc của pháp luật được hiểu là nguyên lý, tư tưởng chủ đạo cơ bản có
tính xuất phát điểm, cấu thành một bộ phận quan trọng nhất, thể hiện tính
toàn diện, linh hoạt, thấm nhuần toàn bộ nội dung cũng như hình thức của hệ
thống pháp luật, là cơ sở chỉ đạo toàn bộ hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật.
Tố tụng hình sự với tư cách là hoạt động pháp luật của cơ quan nhà nước được giao
nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất
định là điều tất yếu. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguyên tắc của luật tố tụng
hình sự là “những phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố
tụng hình sự”, được các văn bản pháp luật ghi nhận. Một trong những nguyên tắc đó
là: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp
luật trong tố tụng hình sự”. Bài viết dưới đấy sẽ tập trung khai thác những vấn đề cơ
bản và quan trọng nhất xoay quanh nguyên tắc này.
1. Cơ sở hình thành nguyên tắc
Trong Luật La Mã cổ, thuật ngữ “Praesumptio boni viri” được hiểu là một suy đoán pháp lý “người tham gia tố
tụng được coi là trung thực cho đến khi bị chứng minh họ không phải là người trung thực”. Suy đoán này được thừa nhận
như là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự trong việc xác định tư cách và quyền bình đẳng của các đương sự, được áp
dụng trong các tranh chấp để buộc các bên phải đưa ra các chứng cứ chứng minh, chứ không chỉ đưa ra các yêu cầu
tranh chấp.
Trong tố tụng hình sự thì lại khác. Nhà nước chiếm hữu nô lệ không thừa nhận nô lệ là chủ thể của quan hệ
pháp luật nên vấn đề lỗi của nô lệ không được xem xét đến trong các quan hệ có liên quan đến lợi ích của nhà nước. Nhà
nước phong kiến tiếp tục kế thừa tư tưởng trên và áp dụng nguyên tắc suy đoán có lỗi. Người bị buộc tội (người bị tạm
giữ, người bị khởi tố hình sự, người bị đưa ra xét xử) luôn bị coi là có lỗi, cho nên các biện pháp tra tấn, dùng nhục hình
là một công cụ hợp pháp để điều tra vụ án. Nhà nước tư sản đã đưa ra nhiều tư tưởng tiến bộ về quyền con người và
quyền công dân, một trong những tư tưởng tiến bộ đó là suy đoán không phạm tội. Nhưng tư tưởng suy đoán không phạm
tội trong thời kỳ đầu của nhà nước tư sản vẫn chưa được coi là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự mà mới chỉ được
thể hiện như là một lập luận để chống lại các hình thức cưỡng chế khắc nghiệt vẫn còn tồn tại trong nhà nước tư sản lúc
đó. Như vậy, về mặt pháp lý, nguyên tắc suy đoán không phạm tội (hay ý tưởng của nó) chỉ được ghi nhận khi Bản Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp ra đời năm 1789. Nó đã đặt một nền tảng pháp lý quan trọng, có ảnh hưởng to
lớn đến tư duy pháp lý của nhiều nước về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của người bị buộc tội1.

Thứ hai, về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Hàng năm, các Toà án xét xử án hình sự vẫn chưa phát hiện hết được người bị
kết án bị oan, những vụ kết án oan người vô tội thì chưa được thống kê cụ thể. Tuy
nhiên, có nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã
xem xét rất khách quan nhưng vì trình độ có hạn nên xác định sai sự thật, xác định sai
tội danh, áp dụng điều luật không đúng. Vì vậy, để khởi tố, truy tố, xét xử đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật thì không chỉ yêu cầu người tham gia tố tụng phải khách quan
mà còn phải có một trình độ pháp luật uyên thâm, kinh nghiệm pháp lý giỏi thì mới
đáp ứng yêu cầu.
Khác với tố tụng tranh tụng của một số nước trên thế giới, tố tụng hình sự của
Việt Nam thiên về xu hướng tố tụng thẩm vấn. Mọi diễn biến vụ án đã được viết lại
bằng hồ sơ vụ án, khi đọc hồ sơ vụ án người tiến hành tố tụng đã bị chi phối bởi các
tình tiết của vụ án được tường thuật mà các tình tiết này có thể là sự thật và cũng có thể
không phải là sự thật, nhưng nói chung các tình tiết của vụ án được thu thập theo một
trình tự do pháp luật quy định nên tư duy của người tiến hành tố tụng nước ta đã hằn
vào tâm trí là: bị can, bị cáo là người có tội(2). Vì vây, cần đưa ra nguyên tắc này để
điều chỉnh thói quen tâm lý của người tiến hành tố tụng. Hơn nữa do tác động, chi phối
từ bên ngoài và hoạt động tố tụng, một bộ phận những người tiến hành tố tụng bị hạn
chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về năng lực công tác hoặc bị tha hóa về phẩm
chất đạo đức nên đã đưa ra những quyết định thiếu chính xác, không đúng pháp luật.
Vì vậy, việc áp đề ra và áp dụng nguyên tắc này chính là phương tiện pháp lý quan
trọng chống lại những vi phạm có thể xâm hại đến những người là bị can, bị cáo.
1.2.

Cơ sở lý luận

Thứ nhất, về quyền cơ bản của con người
uyền con người và bảo vệ quyền con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu
của mỗi quốc gia. Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người lại là nền
tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm. Trong tố tụng hình sự

cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân, đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật tố
tụng hình sự. Vì vậy, nguyên tắc này là một đòi hỏi khách quan và tất yếu của pháp
luậttTố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
1.3.

Cơ sở pháp lý

N

Thứ nhất, về pháp luật trong nước
guyên tắc này được ghi nhận lần đầu tiên tại đoạn 1 Điều 72 Hiến pháp năm
1992: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án
kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. So với Hiến pháp năm 1946,
Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 thì Hiến pháp năm 1992 đã đặt một dấu
ấn quan trọng trong việc xác định như thế nào mới bị coi là có tội, từ đó giúp cơ quan
có thẩm quyền xác định rõ nhiệm vụ cũng như tránh sự sai sót khi tiến hành giải quyết
vụ án hình sự.
Nội dung chủ đạo của nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết
tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật trong tố tụng hình sự đã được quy định trong Điều
10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Theo đó, Điều 10 chỉ rõ: “Không ai có thể bị
coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu
lực pháp luật”. Theo từ điển ngôn ngữ, có thể nghĩa là có khả năng làm được việc gì
đó hoặc có khả năng, xác suất xảy ra hiện tượng hay sự việc gì đó. Về cấu trúc ngôn
ngữ, việc sử dụng từ có thể là không cần thiết. Hơn nữa, tên điều luật này là: “Không
ai có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Toà án” . Tên
điều luật là mệnh đề giả định, trong khi đó nội dung của điều luật lại là mệnh đề khẳng

3


hình sự năm 2003. Việc chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Khi chứng minh tội
phạm, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng
cứ xác minh có tội, xác minh vô tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị can, bị cáo. Trong giai đoạn điều tra và
truy tố nếu chưa chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm mà thời hạn điều tra đã hết thì cơ quan có thẩm quyền
phải quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của Điều 164 và Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003. Trong giai đoạn xét xử, không đủ căn cứ để xác định bị cáo có tội thì hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị
cáo vô tội.

T

ừ những phân tích cơ bản trên, nội dung của nguyên tắc Không ai bị coi là có
tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng
hình sự thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, Tòa án là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền ra bản án kết tội và
áp dụng hình phạt với bị cáo khi có các căn cứ theo quy định của pháp luật
Theo quy định của pháp luật, cơ quan tư pháp hay hệ thống tư pháp là một hệ
thống tòa án nhân danh nhà nước để thực hiện công lý, một cơ chế để giải quyết các
tranh chấp. Tòa án chính là cơ quan duy nhất trong bộ máy nhà nước có quyền ra bản
án kết tội và áp dụng hình phạt đối với bị cáo khi có các căn cứ theo quy định của pháp
4


luật. Điều 127 của hiến pháp 1992 ghi nhận: “Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án
nhân dân địa phương, các tòa án quân sự và các tòa án khác do luật định là những cơ
quan xét xử của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chức năng xét xử của
Tòa án còn được quy định cụ thể trong Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2002. Theo đó, Toà án có chức năng xét xử không chỉ đối với những vụ án dân sự, lao
động, thương mại, hôn nhân và gia đình, hành chính mà còn đối với những vụ án hình
sự.

việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản;

5


Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình
phạt chính). Hình phạt này chỉ được áp dụng đối với những người phạm tội.
Như đã phân tích ở trên thì bản án của tòa là căn cứ để kết tội một người và
người đó chỉ phải chịu hình phạt khi bản án đó có hiệu lực pháp luật. Nếu bản án đó
chưa có hiệu lực pháp luật thì người đó vẫn chưa phải chịu bất kì hình phạt nào.
Vậy những bản án nào cơ hiệu lực pháp luật? Chúng ta cần phải làm rõ điều này
vì nó có liên quan tới việc thi hành pháp luật bản án đó trên thực tế. Theo quy định của
pháp luật, bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật bao gồm:
Một là, những bản án và quyết định sơ thẩm đồng thời là chung thẩm: Bản án và
quyết định của Tòa Hình sự - Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự Trung ương,
có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án và không được kháng cáo hay kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm;
Hai là, bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị;
Ba là, bản án và quyết định của Tòa án cấp Phúc thẩm3;
Bốn là, bản án và quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
Năm là, bản án và quyết định của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt nam
công nhận. Sau khi những bản án này được tuyên thì nó xem như có hiệu lực ngay lập
tức. Tuy nhiên việc thi hành bản án cũng có thể thực hiện sau một thời hạn nhất định 4.
(Điều 11 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003, Điều 2 Luật Thi hành án Hình sự năm 2010).
Bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tòa án là cơ sở pháp lý quan trọng
xác định một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà pháp luật hình sự đã
quy định là tội phạm, chính thức coi là có tội. Trách nhiệm hình sự bắt đầu khi bản án
kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật, chứ không phải từ thời điểm có quyết định

tiến hành thu thập kiểm tra đánh giá các chứng cứ khai thác để xác định lời nhận tội
của bị can, bị cáo có đúng sự thật hay không, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị can bị cáo.
Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra có thể áp dung các biện ngăn chặn
hành vi như: bắt giữ, ra lệnh tạm giam, tiến hành các biện pháp điều tra xác minh theo
quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự để chứng minh hành vi phạm tội của một người.
Việc cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp ngăn chặn đối với người có
hành vi phạm tội là nhằm ngăn chặn những thiệt hại có thể xảy ra cho xã hội, đồng thời
giúp cho việc điều tra, truy tố và xét xử không bị cản trở. Ngay cả trong trường hợp
này thì địa vị pháp lý của họ vẫn được bảo đảm cho đến khi có bản án kết tội của tòa
án đã có hiệu pháp luật.
Hai là, trong giai đoạn truy tố
Truy tố người phạm tội ra trước tòa án là giai đoạn kế tiếp giai đoạn điều tra vụ
án hình sự thuộc chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát. Sau khi nhận
được quyết định đề nghị truy tố, kết luận điều tra và hồ sơ của vụ án của cơ quan điều
tra chuyển đến, Viện kiểm sát có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn quyết
định truy tố được quy định tại Điều 166 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Đây là thời
hạn tối đa để viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ, thẩm định tài liệu, chứng cứ vụ án đề ra
quyết định theo quy định của pháp luật. Việc pháp luật tố tụng hình sự quy định thời
hạn truy tố thể hiện sự tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị can chưa bị coi
là có tội và việc viện kiểm sát kiểm tra, nghiên cứu hồ sơ để ra một quyết định được
quy định tại Điều 166 Bộ luật TTHS phải được tiến hành trong thời hạn nhất định,
không thể dây dưa kéo dài.
Ba là, trong giai đoạn xét xử
Nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ tuy họ đã bị Viện kiểm sát truy tố và Toà án
quyết định đưa vụ án ra xét xử thì người đó vẫn chưa bị coi là có tội. Họ tham gia tố
tụng với tư cách là bị cáo, vì họ còn đầy đủ các quyền của một công dân. Vì vậy người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không được đối xử với họ như một kẻ có
tội, ngay cả khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên án và kết án bị cáo phạm vào một tội nào đó
quy định tại Bộ luật Hình sự và áp dụng hình phạt đối với họ thì cũng không vì thế mà

tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều này không phụ thuộc vào ý chí của cơ
quan tố tụng và cũng không cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc
thu thập, kiểm tra, đánh giá chưng cứ để khám phá tội phạm, xử lý người phạm tội.
Thứ hai, tính nhân quyền
Nguyên tắc này góp phần xác lập, củng cố, bảo vệ quyền tự do của công dân
bằng việc khẳng định khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì
không ai bị coi là có tội và bị đối xử như người có tội. Nguyên tắc này còn là một đảm
bảo pháp lý cần thiết cho việc đảm bảo quyền công dân, quyền con người của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Đây được coi là phương tiện pháp lý quan
trọng để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tự bảo vệ mình chống lại sự buộc tội 5.
Thứ ba, tính hiệu quả và tính công bằng
Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực của Tòa án
góp phần rất lớn vào việc đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động
5

Nguyên tắc này có một ý nghĩa pháp lý và đạo đức sâu sắc, bởi lẽ: không ai bị xem là có tội là một giả định được coi là
chân lý, là công bằng, cho đến khi nào giả định đó được chứng minh ngược lại. Nguyên tắc này được hình thành trên cơ
sở sự thừa nhận rộng rãi về phạm trù đạo đức: mỗi con người vốn dĩ được suy đoán là lương thiện cho đến khi nào bị
chứng minh là bất lương.

8


tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào
các cơ quan tư pháp. Bên cạnh ý nghĩa bảo vệ các quyền tự do của người bị buộc tội,
nguyên tắc không ai bị coi là có tôi còn có tác dụng loại trừ định kiến, kết tội một chiều
đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Dù cơ
quan tiến hành tố tụng thu thập được nhiều chứng cứ trong vụ án, dù niềm tin nội tâm
của những người tiến hành tố tụng về lỗi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thế nào,
thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có nghĩa vụ làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án một

trị và các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, với yêu cầu mọi phán quyết của Hội
đồng xét xử phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, bảo đảm việc xét xử đúng
người, đúng tội, không làm oan người vô tội và cũng không bỏ lọt tội phạm. Việc xét
xử phải bảo đảm khách quan, dân chủ, công bằng.
9


Song bên cạnh đó, trong các quy định pháp luật và trong quá trình vận dụng
nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu
lực còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Thực tế cho thấy việc không vận dụng hoặc
vận dụng không đúng, không triệt để nguyên tắc này đã để lại một hệ lụy pháp lý về án
oan sai. Từ thực tiễn những vụ oan sai, nguyên nhân do luật quy định các cơ quan tiến
hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm và bởi vậy, họ chú trọng thực hiện
nhiệm vụ chứng minh tội phạm của mình hơn. Khi điều tra thường thiên về thu thập
xác định chứng cứ buộc tội, còn chứng cứ gỡ tội dù theo luật vẫn phải thu thập nhưng
không được chú trọng. Nhiều vụ án có oan sai cho thấy, chứng cứ gỡ tội đã bị bỏ lọt.
Thậm chí, có vụ án, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã không thực hiện hết
các hoạt động điều tra cần thiết, dẫn đến bỏ sót các chứng cứ có giá trị chứng minh.
Điều này có thể do nguyên nhân khách quan, hoặc do thời gian, hoặc tiến độ để giải
quyết vụ án, nên những chứng cứ thu thập mà khó khăn thì người ta không thu thập
đầy đủ. Thành ra, những vụ án oan sai thường bị “hổng”, hổng ở chỗ các chứng cứ gỡ
tội chưa được xác minh, chưa được thu thập đầy đủ, dẫn đến nhìn nhận, đánh giá phiến
diện, thiếu khách quan. Bên cạnh đó, còn có một phần nguyên nhân do người tiến hành
tố tụng khi đánh giá chứng cứ cũng chỉ thiên về yếu tố buộc tội. Những đánh giá, tình
tiết, giải trình theo hướng gỡ tội cho can phạm cũng không được xem xét thấu đáo, dẫn
đến thiếu khách quan và bỏ lọt, bỏ qua các yếu tố xác định bị can, bị cáo không phạm
tội. Chính tâm lý buộc tội này đã dẫn đến nhiều trường hợp dùng nhục hình đối với bị
can, bị cáo, ép bị cáo phải nhận tội. Nguyên nhân một phần là do một số ít Thẩm phán
hiện nay chưa thực sự có trách nhiệm, không chịu cập nhật kiến thức pháp luật để trau
dồi kiến thức chuyên môn, lười nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ

Đỗ Hồng Thơm- Vũ Công Giao;
NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011;
4. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự;
Khóa luận tốt nghiệp năm 2011
Vũ Ngọc Hà;
5. Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam;
Tập thể tác giả;
NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008;
6. Những nguyên tắc cơ bản trong luật tố tụng hình sự Việt Nam;
Nguyễn Ngọc Chí;
NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000;
7. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;
8. Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001;

9. Sự thể hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong chế định chứng minh và chứng cứ
của luật tố tụng hình sự Việt Nam;
ThS. Đinh Thế Hưng;
Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2009;
Trang 53- 60;
10.Một số ý kiến về nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt
Nam;
ThS. Đinh Thế Hưng;
Tạp chí Kiểm sát số 3/2010;
Trang 38- 43;
11.Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam;
Phạm Mạnh Hùng;
11


Tạp chí Kiểm sát số 15/2012;




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status