TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007 – 2011)
ĐỀ TÀI
NGUYÊN TẮC KHI XÉT XỬ THẨM PHÁN VÀ
HỘI THẨM ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Giảng viên hướng dẫn:
Thạc Sĩ: Mạc Giáng Châu
Bộ môn: Luật Tư pháp
Cần Thơ, Tháng 04/2011
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Cầm
MSSV: 5075011
Lớp: Luật Tư pháp 1-K33
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
..............................................................................................................
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI
THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT ............................ 4
1.1. Khái niệm chung về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật .......................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật..................................................................................................... 4
1.1.2. Nội dung của nguyên tắc ..................................................................................... 6
1.1.3. Vị trí, vai trò của nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật..................................................................................................... 8
1.2. Cơ sở lý luận của nguyên tắc................................................................................ 10
1.2.1. Tầm quan trọng của nguyên tắc......................................................................... 10
1.2.2. Những quy định của pháp luật về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
2.2.1. Nguyên tắc tuân theo pháp luật là một bảo đảm quan trọng của tính pháp chế... 41
2.2.2. Nguyên tắc tuân theo pháp luật là một bảo đảm quan trọng của tính công bằng. 42
2.3. Mối quan hệ giữa xét xử độc lập và tuân theo pháp luật .................................... 45
2.3.1.“Độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” là hai nguyên tắc tồn tại song song ........ 45
2.3.2. Sự hài hòa của nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”......................... 47
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN ĐỂ
NGUYÊN TẮC XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT ĐƯỢC
THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ..................................................................................... 49
3.1. Những hạn chế, bất cập trong việc đảm bảo tính độc lập và tuân theo pháp
luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân............................................................... 49
3.1.1. Sự can thiệp của Cán bộ lãnh đạo Tòa án, Cấp ủy, chính quyền địa phương vào
hoạt động xét xử vẫn còn khá phổ biến............................................................. 49
3.1.2. Tình trạng Tòa án cấp dưới vẫn còn xin ý kiến chỉ đạo của Tòa án cấp trên báo cáo án, duyệt án trước khi xét xử vẫn còn tồn tại ....................................... 52
3.1.3. Sự tham gia của Hội thẩm nhân dân vẫn còn mang nặng tính hình thức và phụ
thuộc rất nhiều vào Thẩm phán......................................................................... 54
3.1.4 Tình trạng thiếu hụt Thẩm phán cả về số lượng lẫn chất lượng........................... 56
3.1.5 Nhiều Thẩm phán có hành vi tiêu cực, vi phạm quy tắc nghề nghiệp làm cho
phán quyết của Hội đồng xét xử chưa thật sự khách quan, công bằng............... 58
3.2. Nguyên nhân của thực trạng trên ........................................................................ 59
3.2.1. Nhiệm kỳ của Thẩm phán quá ngắn và vấn đề kiêm nhiệm của Hội thẩm .......... 59
3.2.2. Trình độ chuyên môn, kiến thức của Thẩm phán và Hội thẩm còn non kém,
chưa đáp ứng được nhu cầu của công việc xét xử................................................ 61
3.2.3. Chế độ tiền lương của Thẩm phán và Hội thẩm chưa được đảm bảo.................. 62
3.2.4. Tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính cũng là nguyên nhân chưa đảm bảo
tính độc lập của Tòa án ....................................................................................... 64
3.2.5. Thẩm phán và Hội thẩm phải chịu nhiều thách thức và áp lực về công tác
chuyên môn......................................................................................................... 65
3.2.6. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau ......... 66
3.3. Một số giải pháp đảm bảo nguyên tắc độc lập được thực hiện có hiệu quả ....... 68
3.3.1. Tổ chức lại hệ thống Tòa án không phụ thuộc vào đơn vị hành chính................ 68
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa – Nhà nước thật sự của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những chủ trương lớn và nhiệm vụ cấp
bách của Đảng và Nhà nước ta. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay – quyền tư pháp
là một bộ phận của quyền lực nhà nước luôn gắn bó chặt chẽ với quyền lập pháp và
quyền hành pháp trong tổng thể quyền lực nhà nước thống nhất và giữ một vai trò
quan trọng. Quyền tư pháp được thực hiện thông qua hoạt động của cơ quan tư pháp,
trong đó Tòa án được xác định là khâu trung tâm và việc nâng cao chất lượng hoạt
động xét xử của Tòa án được coi là khâu đột phá của quá trình cải cách tư pháp và xây
dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để
tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước, của tổ chức xã
hội. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét
xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
để lọt tội phạm và không xử oan người vô tội.
Để thực hiện tốt chức năng xét xử của mình thì mọi hoạt động chuyên môn,
nghiệp vụ của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự khi tiến hành giải quyết các vụ án hình sự. Cụ thể là khi tiến hành giải quyết các vụ
án hình sự thì phải tuân thủ những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về những vấn
đề liên quan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và những quy định trong
quá trình xét xử nói riêng. Một trong những nguyên tắc quan trọng bậc nhất được quy
định trong Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo cho việc xét xử của toàn án
được đúng người đúng tội đúng pháp luật là “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
thẩm bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan lẫn khách quan làm cho phán quyết của họ bị
thiên lệch. Điều đó cho thấy việc đảm bảo cho Thẩm phán nói riêng và Toà án nói
chung được độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật luôn là khát vọng và cũng là nỗi ưu
tư của nhân loại ngàn đời nay. Chúng ta đang tiến hành Chiến lược cải cách tư pháp
trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân với trọng tâm là
cải cải cách hệ thống Toà án thì có lẽ khi nói về nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử
vẫn là vấn đề xưa nhưng không hề cũ. Trong thực tiễn xét xử, nhận thức về nguyên tắc
này chưa được thể hiện một cách đầy đủ và khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới,
với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền được khẳng định trong Hiến pháp
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì vấn đề độc lập của hoạt động xét xử lại càng trở
nên bức xúc cần được xem xét và đặt nó trong một điều kiện, hoàn cảnh mới.
Đúc kết từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc
khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là vấn đề
quan trọng và vô cùng cần thiết. Đó cũng chính là lí do thúc đẩy người viết lựa chọn
và nghiên cứu đề tài luận văn này.
2. Phạm vi nghiên cứu
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu nguyên tắc độc lập xét xử dưới các
góc độ khác nhau ở mọi cấp độ. Nhưng chủ yếu là xem xét sự độc lập của Thẩm phán
và Hội thẩm trong mối quan hệ với các yếu tố khách quan - sự can thiệp đến công việc
xét xử của Tòa án từ bên ngoài. Đó có thể là sự tác động từ các cơ quan khác như hành
pháp, lập pháp thậm chí có ý kiến đề cập đến sự can thiệp của một số Cấp ủy địa
phương đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Trong đề tài nghiên cứu
luận văn này, tác giả tiếp cận vấn đề độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm dưới
góc độ phân tích vị trí, vai trò cũng như tầm quan trọng của nguyên tắc trong công tác
xét xử. Từ đó phân tích những quy định của pháp luật về những yếu tố chủ quan tác
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
2
SVTH: Huỳnh Cầm
Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
- Chương 2: Những quy định của pháp luật về nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
- Chương 3: Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện để nguyên tắc xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được thực hiện có hiệu quả
Vì thời gian nghiên cứu có hạn, việc tìm kiếm tài liệu còn hạn chế, đây cũng là
lần đầu tiên người viết nghiên cứu một đề tài luận văn tốt nghiệp mang tính khoa học.
Do đó, cũng không tránh khỏi những thiếu sót về việc phân tích, tổng hợp các quy
định của luật cũng như bất cập còn tồn tại trên thực tiễn của chế định nguyên tắc xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tác giả
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến đánh giá, phê bình của các Thầy Cô, các nhà
nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên để bài luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện
hơn.
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
3
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM
XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT
Khi tìm hiểu, nghiên cứu một đề tài khoa học nào thì vấn đề đầu tiên cần tìm hiểu
là những cơ sở lý luận để thấy được những vấn đề chung nhất, khái quát nhất nhằm
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
4
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tòa án là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam nên cũng được tổ chức theo những nguyên tắc chung của việc tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước như các nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung
dân chủ, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa… Tuy nhiên, Tòa án là một cơ quan
nhà nước đặc biệt, là cơ quan tài phán với chức năng xét xử là chính nên Tòa án có
một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Cũng chính vì vậy,
mà trong công tác xét xử của mình Tòa án được tổ chức và hoạt động theo những
nguyên tắc riêng đặc thù dựa trên nền tảng các nguyên tắc chung nói trên.
Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
là nguyên tắc Hiến định đã được quy định tại Điều 130 Hiến pháp 1992 và tiếp tục
khẳng định tại Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Ở Việt Nam, quyền lợi của nhà
nước thống nhất với quyền lợi của nhân dân; pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng
của nhân dân. Nguyên tắc này được đề ra là để định rõ quyền hạn và trách nhiệm của
Tòa án nhân dân và bảo đảm cho Tòa án thi hành nghiêm chỉnh pháp luật của nhà
nước.
Độc lập khi xét xử nghĩa là khi tiến hành xét xử Thẩm phán và Hội thẩm không
bị lệ thuộc vào những ý kiến của cơ quan, tổ chức, người có chức vụ quyền hạn hay
một người nào đó, không phụ thuộc vào ý kiến của những cơ quan, những người tiến
hành tố tụng và tham gia tố tụng. Không ai, không một cơ quan, tổ chức nào có quyền
các quyền lợi hợp pháp của nhân dân.
1.1.2. Nội dung của nguyên tắc
Theo quy định của Hiến pháp, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử.
Để thực hiện tốt chức năng xét xử của mình thì mọi hoạt động chuyên môn nghiệp vụ
của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự khi
tiến hành giải quyết các vụ án hình sự. Cụ thể là khi tiến hành giải quyết các vụ án
hình sự thì phải tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về những vấn đề liên
quan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và những quy định trong quá
trình xét xử nói riêng. Một trong những nguyên tắc quan trọng bậc nhất được quy định
trong Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo cho việc xét xử của Toà án được
đúng người đúng tội đúng pháp luật là “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật”. Và theo Điều 130 Hiến Pháp năm 1992 cũng có quy định
“Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Như vậy Bộ
luật tố tụng hình sự đã ghi nhận lại nội dung này và lấy nó làm một trong những
nguyên tắc cơ bản của hoat động xét xử. Nội dung của nguyên tắc này còn được ghi
nhận tại Điều 5 của Luật tổ chức tòa án Nhân dân năm 1992, Điều 3 Pháp lệnh về
Thẩm phán và Hội thẩm tòa án nhân dân năm 2002.
Nguyên tắc: “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật” được thể hiện ở các nội dung sau:
Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm không bị phụ thuộc vào các quy định hoặc
các kết luận của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Khi xét xử vụ án hình sự, Thẩm phán
và Hội thẩm giải quyết vụ án trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát cùng cấp cung cấp và các tài liệu, yêu cầu của những người tham gia tố tụng nhưng
Tòa án không phụ thuộc vào bất cứ ai có nghĩa là không phụ thuộc vào các quyết định
hoặc kết luận của Cơ quan điều tra (độc lập với hồ sơ vụ án), độc lập với kết luận của
Viện kiểm sát (độc lập với bản cáo trạng và quyết định truy tố). Thẩm phán và Hội
thẩm được độc lập trong việc nghiên cứu sồ sơ, tài liệu kết hợp với những chứng cứ
mới thu được tại phiên tòa xét xử để có kết luận riêng của mình đối với từng vấn đề.
Tuy nhiên, nếu qua phiên tòa, Tòa án thấy cần thiết xử lý khác với các ý kiến của các
cơ quan trên thì phải căn cứ vào pháp luật mà xử lý chính xác.
định chứ không được chỉ đạo Tòa án cấp dưới xét xử trong từng vụ án cụ thể. Bên
cạnh đó Tòa án cấp trên cũng không được dùng mệnh lệnh hành chính buộc Tòa án
cấp dưới xét xử theo một hướng nào đó.
Tòa án hoàn toàn độc lập khi xét xử, không cho phép bất cứ ai, bất cứ cá nhân tổ
chức nào can thiệp vào việc xét xử của Tóa án, buộc Hội đồng xét xử phải tuân theo ý
kiến chủ quan của mình. Quyết định của Thẩm phán có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp
đến quyền và lợi ích của công dân, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào sự lãnh
đạo của Đảng, ảnh hưởng đến việc thực thi dân chủ, bảo vệ công lý. Do đó, khi xét xử,
các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trên cơ sở nghiên cứu vụ án để xác định chứng
cứ, quy phạm pháp luật cần áp dụng để có quyết định cụ thể cho phù hợp, không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ cá nhân, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội
nào. Thực tế, trong rất nhiều trường hợp, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị ảnh
hưởng, tác động từ phía Luật sư, các tổ chức, cá nhân, các cơ quan Nhà nước, làm sai
lệch quá trình tố tụng, ảnh hưởng không ít tới hoạt động tố tụng nhằm hướng tới việc
xét xử có lợi cho mình. Do đó, Thẩm phán và Hôi thẩm phải luôn ý thức được rằng
mình là người phải chịu trách nhiệm về nội dung, về tính công minh của bản án. Vì
thế, Thẩm phán và Hội thẩm phải có bản lĩnh và phải đứng vững trước những tác động
từ các yếu tố bên ngoài. Như vậy, xét từ những yếu tố bên ngoài thì nguyên tắc “khi
xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” không
cho phép bất cứ ai, cơ quan Nhà nước nào can thiệp vào việc xét xử của Tòa án dưới
bất cứ lý do nào. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử, thì Tòa án vẫn phải tham khảo,
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
7
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
không để oan sai cho người vô tội.
1.1.3 Vị trí, vai trò của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khi xét
xử Tòa án không nhân danh mình mà nhân danh Nhà nước để tuyên một bản án kết tội
hay không kết tội bị cáo. Vì thế mà Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Không
ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án
có hiệu lực pháp luật”. Hoạt động xét xử là hoạt động có tính đặc thù và chỉ do Tòa án
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
8
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
thực hiện, quyết định của Tòa án được đặc trưng bởi tính “dứt điểm” của nó. Do đó,
yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải
khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm,
không xử oan người vô tội. Vì vậy, mà nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật có vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự phù hợp với
việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
Nguyên tắc này cũng thể hiện một đặc trưng của công tác xét xử là Tòa án chỉ có
thể quyết định bản án một cách chính xác sau khi các Thẩm phán và Hội thẩm lắng
nghe xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, từ đó mà hình thành nên ở mỗi người một
nhận thức độc lập đánh giá chứng cứ, mức độ nguy hiểm của tội phạm và con người bị
cáo. Do đó không thể có sự chỉ đạo trước theo quan hệ hành chính là bị cáo có tội hay
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thành Ủy và Ủy Ban nhân dân Thành phố Hải Phòng2. Đây là vụ điển hình của việc vi
phạm nguyên tắc tố tụng, không đảm bảo tính độc lập trong xét xử và phán quyết của
Tòa án. Nó đã phá vỡ một cách nghiêm trọng nguyên tắc xét xử độc lập của Tòa án mà
luật và Hiến pháp nước ta đã quy định. Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật là vấn đề cốt lõi của hoạt động xét xử của Tòa án nói
riêng và của hoạt động tư pháp nói chung và đã được quy định trong Hiến pháp và Bộ
luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo công bằng, kỷ cương và sự nghiêm minh của pháp
luật. Thế nhưng trên thực tế nguyên tắc này đã bị vi phạm một cách nghiêm trọng, có
nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử
thường phải chịu tác động từ nhiều phía, từ bên ngoài xã hội, các đương sự, bị cáo
nhưng đáng ngại nhất vẫn là tác động từ những cán bộ cấp trên mà cán bộ Tòa án gọi
là những “siêu tòa”. Chẳng những vậy, mà ông Dương Văn Thành, Phó Chánh án Tòa
án nhân dân Thành phố Hải Phòng - Chủ tọa phiên tòa xét xử sơ thẩm án đã đổ lỗi cho
các cấp lãnh đạo đã chỉ thị thì không thể làm cách nào khác được. Qua phân tích ví dụ
trên càng thấy được vai trò quan trọng của nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật, nếu trong hoạt động xét xử, thành viên Hội đồng xét xử luôn đảm bảo tính
độc lập, công khai, minh bạch, tuyệt đối tránh sự can thiệp của các cấp chính quyền
trong hoạt động xét xử thì chắc hẳn rằng các bản án được tuyên sẽ đảm bảo được tính
khách quan công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tăng niềm tin của quần
chúng vào nền công lý.
Tóm lại, Nhà nước ta là một nhà nước pháp quyền, nhà nước của dân, do dân, vì
dân. Do đó một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa thì không thể thiếu được một
nền tư pháp độc lập bởi lẽ tính tối thượng của nó chỉ có thể thực hiện khi có các vị
Thẩm phán và Hội thẩm áp dụng một cách độc lập. Xây dựng cơ chế xét xử đảm bảo
sự độc lập của Tòa án mà hiện thân Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là một trong
những yếu tố quyết định chất lượng xét xử. Vì xét xử chính là phòng tuyến cuối cùng
Thẩm phán và Hội thẩm, những người trực tiếp xét xử và đưa ra các phán quyết có ảnh
hưởng trực tiếp đến tín mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của nhân dân và nhà
nước.
Ở Việt Nam khái niệm pháp quyền được thể hiện trong cả Hiến pháp và pháp
luật. Cụ thể quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng
ta đã chính thức được thể chế hoá tại Điều 2 Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) “Nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân”. Có nhiều yếu tố cấu thành chế định pháp quyền mà trong số đó yêu
cầu pháp luật phải được xây dựng theo cách mà người dân có thể tuân thủ. Việc duy trì
pháp quyền đó đòi hỏi phải có một nền tư pháp công minh và độc lập trước mọi sự can
thiệp hay tác động, để đảm bảo rằng công lý sẽ được duy trì một cách bình đẳng đối
với tất cả mọi người, và sự bình đẳng này còn bao gồm sự bình đẳng giữa công dân và
Nhà nước trước pháp luật. Nếu người Thẩm phán hay Hội thẩm độc lập và có năng lực
thì có thể “sữa chữa” được những khiếm khuyết của một đạo luật tồi, nhưng nếu họ
không có năng lực, trách nhiệm, lương tâm và sự độc lập cần thiết thì một đạo luật dù
tốt đến đâu cũng không bảo đảm được mục đích ban đầu của nó. Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi ở Toà án các yếu tố, chuẩn mực như sự công minh,
công bằng, dân chủ, hiệu quả, hiệu lực, trong đó thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử là
cơ sở nền tảng thực hiện các đòi hỏi này. Độc lập xét xử được xem như một điều kiện
bảo đảm sự vận hành bình thường của Toà án, cho một trình tự tư pháp công bằng
trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuyên ngôn chung về nhân quyền 1948
tại Điều 10 đã quy định rất rõ ràng “Mọi người đều có quyền nhận sự xét xử công
bằng, công khai và bình đẳng bởi một Tòa án độc lập…”. Cũng chính vì vậy mà
nguyên tắc xét xử độc lập có tầm quan trọng rất lớn trong việc bảo vệ quyền con người
thông qua các nguyên tắc đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như
nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự),
nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17 Bộ luật tố tụng
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
xem xét đối chiếu với sự việc xảy ra, với hành vi được mang ra xét xử. Trên cơ sở đó
họ sẽ đưa ra các phán quyết của mình một cách chính xác, khách quan phù hợp với
diễn biến thực tế của vụ án đã xảy ra.
Trong hoạt động xét xử, ngành Tòa án phải luôn đảm bảo độc lập, tính công khai,
minh bạch. Tuyệt đối tránh sự can thiệp của các cấp chính quyền trong hoạt động xét
xử nhất là sự can thiệp của cơ quan hành pháp. Việc đảm bảo nguyên tắc xét xử độc
lập cũng là việc đảm bảo các bản án được tuyên tại phiên tòa là công khai, minh bạch,
xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để tội phạm ung dung ngoài vòng
pháp luật. Đặc biệt, hiện nay vấn đề phòng chống oan sai trong tố tụng hình sự được
coi là những mục tiêu quan trọng của cải cách tư pháp nói chung và cải cách tư pháp
hình sự nói riêng. Bởi lẽ oan sai trong tố tụng hình sự dù ở mức độ nào cũng đều dẫn
đến những hậu quả tiêu cực đối với cá nhân và gia đình của họ, đối với xã hội, đối với
Nhà nước, không đảm bảo công lý, công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm. Nếu tư
pháp không độc lập tất sẽ dẫn đến oan sai nhiều. Do đó, nguyên tắc xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm có tầm quan trọng rất lớn để có
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
12
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
thể khắc phục được tình trạng này, chỉ có thể không có oan sai khi ở đó tồn tại một
Tòa án thật sự độc lập, trong sạch, công tư phân minh và chỉ tuân theo pháp luật.
Một điều đáng quan tâm là hiện nay tình trạng ra tòa cho “có lệ” vẫn diễn ra khá
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.2.2.1 Quy định trong Hiến pháp
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
13
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
không chỉ được quy định trong Hiến pháp của nước ta mà còn được quy định trong
hiến pháp của nhiều nước trên thế giới. Về hình thức có thể khác nhau nhưng xét về
nội dung cơ bản là giống nhau. Ví dụ Điều 88 Hiến pháp nước Cộng Hòa Dân Chủ
Nhân Dân Triều Tiên quy định: “Trong khi thi hành chức vụ của mình, các thẩm phán
đều độc lập và chỉ phục tùng pháp luật” hay trong khoản 1 điều 97 Hiến pháp nước
Cộng hòa Liên bang Đức 1959 quy định: “Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật”. Ở Việt Nam, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu. Sau khi cách mạng tháng
Tám thành công, ngày 24 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số
13/SL về tổ chức tòa án và các ngạch Thẩm phán. Trong đó quy định: “Các phụ phẩm
nhân dân có bổn phận lấy lý trí sáng suốt và lương tâm ngay thẳng ra xét mọi việc rồi
phát biểu ý kiến một cách công bằng, không vì nể, vì sợ một thế lực nào đó, vì lợi ích
riêng tư hay tư thù mà làm hại họ hay làm hại ai3”. Hay trong thông tư số 1264 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ ngày 25 tháng 4 năm 1946 có quy định: “Tòa án là những cơ quan
chuyên môn biệt lập không phải đặt dưới quyền kiểm soát của cơ quan hành chính”.
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1946, thì nguyên tắc Tòa
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Với nguyên tắc Hiến định “khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật” mà cả bốn bản Hiến pháp điều có quy định, tuy tên gọi có
khác nhau nhưng không vì thế mà nội dung của nguyên tắc khác đi mà nó ngày càng
được quy định một cách hoàn thiện, rõ ràng và chặt chẽ hơn, và đã thật sự phát huy
mạnh mẽ về tính độc lập trong quá trình xét xử và ra bản án. Và nguyên tắc Hiến định
này qua bốn bản Hiến pháp cũng đã thể hiện một số quy định cơ bản sau:
Đối với các cơ quan nhà nước và các Cấp ủy Đảng thì khi xét xử các Thẩm phán
và Hội thẩm trên cơ sở độc lập xem xét, nghiên cứu hồ sơ vụ án để xác minh chứng cứ
và sự thật của vụ án, xem xét những quy phạm pháp luật cần thiết của từng vụ án một
cách chính xác từ đó có quyết định cụ thể cho phù hợp với tình tiết của vụ án, không bị
tác động từ phía các cơ quan hoặc bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Đảng lãnh đạo của Tòa
án thông qua đường lối xét xử hay bằng cách xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh trong
cơ quan Tòa án chứ không can thiệp vào nội dung giải quyết, thực hiện thật nghiêm
chỉnh nguyên tắc “Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước”. Bên cạnh đó các
Cơ quan nhà nước không can thiệp vào việc xét xử của Tòa án. Tòa án cũng không
được lệ thuộc vào ý kiến của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân mà phải có kết
luận riêng. Căn cứ vào pháp luật mà xử lý chính xác. Trong trường hợp phát hiện các
chứng cứ không đủ sức thuyết phục, Tòa án có quyền đình chỉ vụ án không tiến hành
xét xử hoặc tạm đình chỉ để tiếp tục điều tra.
Ngoài ra, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân dựa trên những hiểu biết
pháp luật cũng như đời sống chính trị xã hội cùng với năng lực của mình mà tự tư duy
và đưa ra quyết định dựa vào các sự kiện pháp lý và quy định của pháp luật chứ không
chịu sự can thiệp trực tiếp từ hệ thống Tòa án cấp trên, tuyệt đối không xin ý kiến về
vụ án đang giải quyết. Đối với các bản án xét xử nhiều lần thì Tòa án cấp sơ thẩm
không phải xin “ý kiến chỉ đạo” của Tòa án cấp trên trong từng vụ án cụ thể. Ngược
lại, Tòa án xét xử phúc thẩm, hay giám đốc thẩm và tái thẩm không lệ thuộc vào
và không ai được vào phòng nghị án; hoặc có ý kiến với Hội đồng xét xử khi đang
nghị án; mỗi thành viên trong Hội đồng xét xử có quyền bảo lưu ý kiến của mình;
quyết định của Tòa án có hiệu lực bắt buộc đối với cơ quan, tổ chức và công dân…Bởi
lẽ hoạt động xét xử là nơi thể hiện rõ nét nhất chất lượng hoạt động và uy tín của hệ
thống cơ quan tư pháp, nơi thể hiện rõ nét nhất bản chất nhân dân, tính công bằng,
công lý và dân chủ trong hoạt động tư pháp trong đó Thẩm phán và Hội thẩm là thành
phần chính tạo nên chất lượng, hiệu quả của hoạt động xét xử. Vì thế, những quy định
trên là rất cần thiết để bảo đảm hoạt động xét xử được dân chủ, công khai, minh bạch.
Bên cạnh đó, quy định chế độ bổ nhiệm Thẩm phán hay chế độ bầu Hội thẩm sẽ đảm
bảo cho những người làm công tác xét xử vừa có chuyên môn, vừa có phẩm chất đạo
đức, nâng cao vai trò và trách nhiệm của họ, triệt để tuân thủ pháp luật, giúp Thẩm
phán và Hội thẩm yên tâm công tác, không chịu áp lực từ phía các cơ quan nhà nước
khác, bảo đảm cho phán quyết của Hội đồng xét xử thật sự công khai, minh bạch,
khách quan, thực sự đại diện cho công lý, từ đó góp phần nâng cao tính độc lập của
Hội đồng xét xử, hạn chế tối đa oan sai, tiêu cực, xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
1.2.2.2 Quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Điều 16 Bộ luật tố tụng
hình sự 2003)
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã
được quy định thành một nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình sự 1988 và tiếp
tục được kế thừa ở Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Theo đó, nguyên tắc này đòi hỏi các
thành viên trong Hội đồng xét xử phải độc lập trong việc nghiên cứ hồ sơ, đánh giá
chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện hành vi phạm
tội mà không chịu sự chỉ đạo, ảnh hưởng của bất kỳ đơn vị, tổ chức, cá nhân nào.
Thậm chí các thành viên của Hội đồng xét xử cũng không bị phụ thuộc vào quan điểm
của các thành viên khác trong cùng Hội đồng xét xử.
Các thành viên trong Hội đồng xét xử làm việc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
không dựa vào các quyết định, kết luận của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Như vậy
khi xét xử các vụ án hình sự Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết của vụ án, căn cứ
vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa công khai và căn cứ vào pháp luật để
Nguyên tắc này đảm bảo cho Tòa án thực hiện tốt các chức năng xét xử của mình
theo quy định của pháp luật, đồng thời đề cao trách nhiệm của Thẩm phán và Hội
thẩm. Muốn cho nguyên tắc này thực hiện tốt thì Nhà nước phải có hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh vì nó là điều kiện quan trọng để đảm bảo cho Tòa án có chỗ dựa vững chắc
trong công tác xét xử. Ngoài ra, Thẩm phán và Hội thẩm phải là người có trình độ
chuyên môn chính trị và tinh thần đấu tranh bảo vệ pháp luật. Vì thế, đòi hỏi Thẩm
phán và Hội thẩm phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ, quán triệt
đường lối chính sách của Đảng để vận dụng vào từng vụ án cụ thể, chịu trách nhiệm về
những bản án hoặc quyết định của mình đã xét xử, không đổ lỗi cho người khác,
không ỷ lại vào cấp trên.
Đổi mới tố tụng hình sự, làm cho tố tụng thật sự dân chủ, bảo đảm khách quan,
không làm oan người vô tội là một trong những nội dung của công cuộc cải cách tư
pháp đã được nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng
cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ
với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác... khi xét xử, các
Toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân
chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
17
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà,
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người
6
Nguyễn Quốc Việt, Những vấn đề đặt ra khi đổi mới tố tụng theo hướng tranh tụng, Tạp chí nghiên cứu lập
pháp số 121/2008
7
/>
GVHD: Th.s Mạc Giáng Châu
18
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thẩm phán ở Mỹ còn được hưởng một khoản lương tương đối cao so với các quan
chức nhà nước khác.
Còn về tính độc lập của Bồi thẩm đoàn, nếu ở Việt Nam Hội thẩm nhân dân có
quyền hỏi bất cứ vấn đề gì đối với bị cáo liên quan đến vụ án nhằm làm sáng tỏ vụ
việc và giúp bổ sung thêm kiến thức thực tế cho Thẩm phán và tham gia biểu quyết,
nghị án cùng Thẩm phán về mức hình phạt của bị cáo thì ở Mỹ quyền hạn của Hội
thẩm trong phiên tòa có phần hạn chế hơn so với Thẩm phán. Chẳng hạn như Bồi thẩm
đoàn có quyền quyết định bị cáo có tội hay không có tội nhưng không có quyền quyết
định mức hình phạt mà chỉ có thể khuyến nghị về mức hình phạt, giữa Bồi thẩm đoàn
có những quyết định riêng ở từng phòng xử án rồi mới đi đến quyết định công khai,
chỉ có thể hỏi những câu hỏi khi được sự đồng ý của Thẩm phán. Tuy nhiên tính độc
lập, khách quan giữa Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn ở Mỹ vẫn bảo đảm được thực hiện
SVTH: Huỳnh Cầm
LVTN:
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nhìn chung, các nhà lập hiến của Mỹ đã có rất nhiều nổ lực xây dựng những cơ
sở hiến pháp cho sự độc lập của hệ thống tư pháp trong hoạt động xét xử. Với một chế
độ phân quyền cứng rắn, hệ thống Tòa án được tăng cường khả năng độc lập đến cao
độ mà trong các chỉnh thể đại nghị phân quyền mềm dẻo không có được chẳng hạn
như ở Anh hoặc ở Đức. Trong việc phân bổ quyền lực, thì Hiến pháp của Mỹ đã thiết
kế cho tư pháp vị thế độc lập rất cao. Sự độc lập đó của hệ thống tư pháp được bảo
đảm bằng một số cơ chế như: Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán, nhiệm kỳ suốt đời của
Thẩm phán, chế độ lương bổng bảo đảm cuộc sống của Thẩm phán, thi hành án, kỷ
luật Thẩm phán… Với một cơ chế Hiến định như thế, thể chế tư pháp ở Mỹ đã phát
huy được khả năng độc lập của mình. Và Mỹ được coi là một nước có một hệ thống cơ
quan Tòa án thực hiện xét xử độc lập khá hoàn chỉnh so với các nước trên thế giới kể
cả Việt Nam.
Tóm lại, tuy chế định về Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn hoặc Hội thẩm nhân dân
của Mỹ và Việt Nam có nhiều điểm khác nhau song cả hai đều có một điểm chung là
tại phiên tòa giữa Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn hoặc Hội thẩm nhân dân đều có sự độc
lập và có quyền nêu lên ý kiến của riêng mình, đảm bảo được tính chính xác, khách
quan của vụ án, nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử.
1.3.2 Một số quy định về nguyên tắc xét xử mang tính độc lập của Tòa án trong
pháp luật của Liên hiệp Vương quốc Anh
Anh là một nước theo pháp luật Châu Âu lục địa. Vì thế trong hệ thống pháp luật
ở Anh việc xét xử có thể nói rất dễ dàng không mang tính chất của một cơ quan tài
phán là đại diện nhà nước và nhân dân đứng ra xét xử một cách nghiêm minh nhằm
bảo vệ công lý và không có một cơ chế nào thấy được sự độc lập trong xét xử của Tòa