BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN LUẬT THUẾ VIỆT NAM
Đề bài:
Bình luận các quy định về đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân.
Dàn ý:
A.
B.
Đặt vấn đề.
Giải quyết vấn đề:
1. Các quy định về đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân trong Luật
2.
C.
thuế thu nhập cá nhân 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ưu và nhược điểm của các quy định trên. Nguyên nhân và phương
hướng hoàn thiện.
Kết luận.
Hà Nội, ngày 7/5/2011
A)
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Thuế thu nhập cá nhân là hình thức thuế thu vào các khoản thu nhập của
các cá nhân kinh doanh và không kinh doanh. Đây là loại thuế trực thu, thu
pháp của Pháp quy định 8 loại thu nhập chịu thuế là:
-
Thu nhập từ lương và các khoản coi như lương.
Thu nhập từ các hoạt động kinh doanh công thương nhiệp.
Thu nhập từ các hoạt động nông nhiệp như: trồng trọt, chăn nuôi,…
Thu nhập từ ngành nghề độc lập và dịch vụ tư vấn.
2
-
Thu nhập từ đầu tư chứng khoán.
Thu nhập từ cho thuê bất động sản.
Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản.
Thù lao cho người điều hành công ty.
Giống với luật của Pháp ở việc cũng sử dụng phương pháp liệt kê, tuy nhiên
luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam cũng có nhiều điểm khác biệt trong
đối tượng chịu thuế. Cụ thể: Đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân được quy
định tại Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 và được chi tiết tại Điều 3
Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân. Bên cạnh việc quy định về
đối tượng chịu thuế, Luật cũng quy định các trường hợp được miễn thuế tại
Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, Điều 4 Nghị định 100/2008/NĐ-CP.
Theo đó, các khoản thu nhập chịu thuế là:
Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bao gồm:
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định
•
hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả chi phí do bên mua hoàng hóa, dịch vụ trả thay
cho cá nhân không cư trú mà không được hoàn trả.
•
Thu nhập từ tiền công, tiền lương:
Đối với cá nhân cư trú thì thu nhập từ tiền công, lương là tổng thu nhập
đối tượng nộp nhận được trong kì tính thuế. Đối với thu nhập chịu thuế của
cá nhân không cư trú thì đó là tổng số tiền lương, tiền công mà cá nhân
không cư trú nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam, không phân biệt
nơi trả thu nhập. Cụ thể khoản thu nhập này sẽ bao gồm:
-
Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công nhận
-
được dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.
Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của
pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc
hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có
yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định
của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy
giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ
4
cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động, các
khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã
niên, con bị tàn tật, không có khả năng lao động; cá nhân không có thu nhập
hoặc có thu nhập không vượt quá mức quy định bao gồm: con đang học đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề; vợ hoặc chồng không có
khả năng lao động; bố mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao
động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực
tiếp nuôi dưỡng. Và một trường hợp nữa được giảm trừ thuế là với khoản
đóng góp từ thiện, nhân đạo.
5
Khoản 9, 10, 13 Điều 4 Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định về các
trường hợp thu nhập từ tiền lương, công được miễn thuế:
-
Phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn
so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định
-
của pháp luật.
Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định của Luật Bảo hiểm
xã hội. Cá nhân sinh sống tại Việt Nam được miễn thuế đối với tiền lương hưu
-
do nước ngoài trả.
Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện,
biệt việc chuyển nhượng được thực hiện tại Việt Nam hay nước ngoài.
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: Bao gồm: Thu nhập từ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; quyền sở hữu hoặc sử
dụng nhà ở và khoản khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.
Đối với cá nhân cư trú: Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng bất động
sản được tính bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển
nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan, cụ thể:
-
Giá chuyển nhượng bất động sản là giá hợp đồng tại thời điểm chuyển
nhượng.
Giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua.
Chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hóa đơn theo quy định của
-
-
pháp luật: các loại phí, lệ phí tho quy định của pháp luật liên quan đến quyền
sử dụng đất. chi phí cải tạo đất; cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng; chi phí
đầu tư xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc trên đất; các
chi phí khác liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản.
Cũng giống với các xác định thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản đối
với cá nhân không cư trú, trường hợp cá nhân cư trú nhưng không xác định
được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì
thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản.
Khoản 1, 2, 3, 6 Điều 4 Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định về những
trường hợp thu nhập từ bất động sản những được miễn thuế. Đó là:
-
của tổ chức đó.
•
-
Thu nhập từ bản quyền: Bao gồm:
Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở
hữu trí tuệ: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu
-
công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng.
Thu nhập từ chuyển giao công nghệ: bí quyết kỹ thuật, kiến thức kỹ thuật, các
giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ.
Là phần thu nhập vượt quá 10 triệu đồng theo hợp đồng chuyển nhượng,
không phụ thuộc vào số lần thanh toán hay số lần nhận tiền mà đối tượng
nộp thuế nhận được khi chuyển giao.
8
•
Thu nhập từ chuyển nhượng thương mại: Là phần thu nhập vượt quá 10
triệu đồng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền thương mại, không phụ
thuộc vào số lần thanh toán hay nhận tiền mà người nộp thuế nhận được.
Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi
thường tai nạn lao động ; các khoản bồi thường Nhà nước,… được miễn thuế
theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Nghị định 100/2008/NĐ-CP.
thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao nhưng so với Pháp lệnh, Luật
2007 đã mở rộng những loại thu nhập thuộc diện chịu thuế hơn. Ví dụ như,
một số khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu
nhập không chịu thuế) như: thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại,
thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các cơ sở kinh doanh,
bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng (tuy nhiên,
thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của cá nhận chỉ có nhà ở, đất ở duy
nhất được miễn thuế), thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các
cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính
đối với trúng thưởng xổ số và khuyến mại) thì nay đã được bổ sung cụ thể,
nhiều loại thu nhập chịu thuế hơn. Việc quy định nhiều loại thu nhập chịu
thuế sẽ giúp tạo công bằng cho việc thu thuế cá nhân, đồng thời giảm gắng
nặng chịu thuế cho một bộ phận những người nộp thuế, cũng như tăng
nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Thứ ba: Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao cũ, thu
nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không
thường xuyên. Tuy nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập
thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên. Do vậy, trong thực
tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn. Đồng thời, việc tính thuế đối với
từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật
thuế thu nhập cá nhân đã khắc phục được hạn chế này với việc phân loại thu
nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Theo đó, thu nhập chịu thuế
bao gồm thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập
từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động
10
sản; thu nhập khác (bao gồm: thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản
quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng quyền
thương mại). Đây là cơ sở để tính thuế phù hợp với từng loại thu nhập. Từ
nước từ nguồn thuế trực thu.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quy định về đối tượng chịu thuế thu
nhập cá nhân theo pháp luật hiện hành vẫn còn những bất cập cần bàn đến. Điều
này cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi mà Luật đã được Quốc hội khóa XII
thông qua ngày 21 /11/2007; nhưng lại được chậm và giãn tiến độ triển khai
do gặp khủng hoảng kinh tế-tài chính thế giới trong khuôn khổ gói kích cầu
của Chính phủ... mãi đến tận ngày 1/1/2009, Luật mới có hiệu lực, do đó cũng
không thể tránh khỏi trong khoảng thời gian đó, Luật đã có những điểm lạc
hậu hơn so với tình hình phát triển hiện tại của đất nước:
Thứ nhất: Nếu trước đây, chỉ với khoảng 10 tr.đ/tháng, 1 gia đình 4 nhân
khẩu có thể sống khá dễ chịu ở Hà Nội, thì nay, mức tối thiểu đã phải nâng
lên ít nhất gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi, nếu tính cả tiền thuê nhà...Nếu xét theo
đà và áp lực lạm phát còn khá cao trong thời gian tới, nhất là về giá lương
thực, thực phẩm và y tế, cũng như xăng dầu, điện, nước..., thì chắc chắn "gói
thu nhập tối thiểu" giành cho 1 gia đình trung bình ở đô thị nước ta này còn
tiếp tục gia tăng với tốc độ chóng mặt. Thực tế áp dụng thuế thu nhập cá
nhân trong 2 năm qua cũng cho thấy, mức chiết trừ gia cảnh 1,5 trr.đ/người
cũng sớm trở nên lạc hậu. Hơn nữa, việc xác nhận hành chính (ở cấp chính
quyền địa phương hoặc cơ quan) về vị thế và thực tế đã tính hay chưa tính
chiết trừ gia cảnh người phụ thuộc gây nhiều phiền toái và khó chính xác cho
cả người nộp thuế, lẫn cơ quan thu thuế...
Thứ hai: Nói là thuế thu nhập cá nhân đánh trên diện rộng nhưng với mức
sống của đại bộ phận nước ta hiện nay, chúng ta chỉ có thể đánh thuế với
mức thu nhập từ một mức độ nào đó trở lên, đồng nghĩa với việc sẽ có những
đối tượng nộp thuế nhưng mức thu nhập của họ không thuộc diện chịu thuế.
12
Thế nhưng, Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành, tuy đã quy định về những
loại thu nhập phải chịu thuế khá hợp lý như đã phân tích ở trên, nhưng trong
Trên 52 đến 80
Trên 80
Thuế suất
5
10
15
20
25
30
35
Điều này đang dẫn đến thực trạng là khiến cho người nộp thuế thuộc diện có
thu nhập phải chịu thuế hiện tại đa phần vẫn còn khá lơ mơ, chưa hiểu rõ
luật, gây khó khăn trong khâu thu thuế.
Thứ ba: Luật Thuế thu nhập cá nhân vẫn "nặng" về thu đồng đều, chưa đánh
vào đối tượng thu nhập cao để đảm bảo tiết giảm tiêu dùng xa xỉ, đảm bảo công
bằng xã hội và đảm bảo tăng thu ngân sách. Những quy định về đối tượng chịu
thuế chưa đánh đúng đối tượng có thu nhập cao thực sự và vẫn nặng thu bình
quân của những người ăn lương nhà nước và những người có sổ lương. Thế còn
những người có thu nhập cao khác chưa được bao quát hết như: thu nhập cao do
hoa hồng, hoặc những khoản không trình bày trong sổ sách thì vẫn bị bỏ trống.
Năm 2010, nhập khẩu hàng xa xỉ là 10 tỷ USD, trong bối cảnh nhập siêu là 12
tỷ USD. Rõ ràng đang xuất hiện tầng lớp có thu nhập rất cao, đối tượng này
chưa được đưa vào diện quản lý một cách thực sự.
Thứ tư: Có ý kiến cho rằng: Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động
sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi;
13
nhân cũng cần được chỉnh sửa lại cho phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay.
Có ý kiến cho rằng nên quy định mức khởi điểm thuế theo mức lương tối thiểu
để sau này cơ quan thuế áp dụng sẽ rất "mềm", chỉ cần nhân với mức lương tối
thiểu và số lần qui định trong Luật thì sẽ ra được mức chịu thuế cụ thể từng thời
điểm.
Thứ ba: Không chỉ dừng lại ở việc cần có những chỉnh sửa về mức khởi điểm
chịu thuế mà chúng ta cũng cần có những bổ sung mới trong luật để có thể điều
chỉnh, đánh thuế cả những đối tượng thực sự có thu nhập cao nhưng luật vẫn
chưa có điều chỉnh đến như trong phần thực trạng đã đề cập ở trên.
Thứ tư: Việc quy định về nhiều mức tiền lương phải chịu những mức thuế suất
khác nhau đương nhiên là một quy định hợp lý của pháp luật. Thế nhưng với
cách tính thuế vừa lũy tiến toàn phần, vừa lũy tiến từng phần như hiện nay
đang gây ra những khó khăn không chỉ cho những người nộp thuế mà còn
cho cả những chủ thể khác trong quan hệ pháp luật thuế thu nhập cá nhân,
do đó, luật cũng cần có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn.
C)
KẾT LUẬN:
Thuế thu nhập cá nhân như đã nói ở trên, đây là loại thuế trực thu. Khác với
thuế gián thu như thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng,… khi mà người
gánh chịu thuế là khách hàng nhưng người nộp thuế lại là người bán hàng,
người nhập khẩu, còn thuế trực thu là thuế mà người có nghĩa vụ nộp thuế
thường đồng thời là người gánh chịu thuế. Do đó, tuy thuế trực thu thường
gây ra phải ứng rất gay gắt trong xã hội nhưng lại góp phần rất lớn trong
việc đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhập thặng dư của người
nộp thuế thông qua những quy định cụ thể về đối tượng nộp thuế.
15
16