Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về kiện đòi lại tài sản - Pdf 33

Quyền sở hữu là một trong các quyền dân sự cơ bản của công dân và được
pháp luật bảo hộ. Bằng các phương thức khác nhau, pháp luật cho phép các
chủ thể tự bảo vệ quyền sở hữu của mình hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu của mình khi có hành vi xâm phạm quyền
sở hữu. Xuất phát từ vai trò quan trọng của vấn đề sở hữu trong đời sống kinh
tế xã hội cũng như tính chất đa dạng, phức tạp của các quan hệ về sở hữu mà
các tranh chấp liên quan đến vấn đề sở hữu luôn là vấn đề phức tạp trong đời
sống xã hội cũng như trong công tác xét xử của Toà án. Trong các tranh chấp
về sở hữu thì các vụ việc về kiện đòi lại tài sản chiếm một số lượng không
nhỏ. BLDS 2005 ra đời đã giúp bổ sung, phát triển và khắc phục những
nhược điểm của BLDS 1995 về sở hữu nói chung và kiện lại đòi tài sản nói
riêng. Bên cạnh những mặt tích cực thì BLDS 2005 vẫn còn tồn tại nhiều hạn
chế về kiện đòi lại tài sản dẫn tới nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng,
gây ra khiếu kiện kéo dài, đặc biệt là đối với các vụ kiện liên quan đến quyền
sử dụng đất. Để có thể hiểu một cách sâu sắc và toàn diện nhất về vấn đề
nhằm tìm ra hướng hoàn thiện pháp luật em xin đi vào nghiên cứu đề tài “kiện
đòi lại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự”.
I. Kiện đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành
1. Chủ thể tham gia quan hệ kiện đòi lại tài sản
Việc giải quyết vụ việc dân sự tại Toà án xuất phát từ nhu cầu giải quyết các
quan hệ pháp luật nội dung giữa các chủ thể nhằm ổn định xã hội, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên việc xác định tư cách tham gia
của các chủ thể là rất quan trọng. Có thể dựa trên tính chất của vụ kiện hay
quan hệ pháp luật có tranh chấp để xác định người có quyền khởi kiện và
người có thể bị kiện. Trong quan hệ kiện đòi lại tài sản thì chủ thể có quyền
khởi kiện (nguyên đơn) bao gồm chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp và
chủ thể bị khởi kiện (bị đơn) là người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật đối với tài sản.
a. Người khởi kiện
Theo quy định của pháp luật thì quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp
của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo

của mình hoặc của người khác như các đương sự khác. Khi xác định tư cách
người khởi kiện cần chú ý không phải lúc nào người có quyền lợi bị xâm
phạm (nguyên đơn) cũng đồng thời là người khởi kiện. Trong trường hợp
nguyên đơn không đáp ứng được các điều kiện để trở thành chủ thể khởi kiện
theo quy định của pháp luật tố tụng thì quyền lợi của các chủ thể này sẽ được
bảo vệ thông qua người đại diện hợp pháp (người khởi kiện để bảo đảm
quyền lợi cho nguyên đơn).
b. Người bị kiện


Người bị kiện trong vụ án kiện đòi lại tài sản phải là người đang chiếm hữu
không có căn cứ pháp luật đối với tài sản. Việc xác định ai là người đang
chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản là điều kiện tiên quyết để
xác định ai là người bị kiện trong vụ án kiện đòi lại tài sản. Chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh người bị kiện là
người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản. Chủ sở hữu,
người chiếm hữu hợp pháp không nthể kiện đòi lại tài sản từ người đã có hành
vi chiếm đoạt tài sản những hiện không còn chiếm hữu tài sản đó nữa. Trong
trường hợp chủ sở hữu không xác định được ai là người đang thực tế chiếm
giữ tài sản hoặc tài sản đã bị tiêu huỷ thì chủ sở hữu có thể áp dụng phương
thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay vi phạm đến quyền lợi của
nguyên đơn. Bị đơn là người tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị
nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật. Do
vậy, việc tham gia tố tụng của bị đơn mang tính thụ động hơn so với nguyên
đơn. Cũng như nguyên đơn, năng lực hành vi tố tụng dân sự không quyết định
tư cách của bị đơn. Tuy nhiên, trong trường hợp bị đơn là người bị hạn chế
hoặc mất năng lực hành vi tố tụng dân sự thì người đại diện của bị đơn sẽ
tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn trước Toà án.
2. Đối tượng của kiện đòi lại tài sản

Đối với “quyền tài sản” được quy định tại Điều 181 BLDS 2005, đó là những
quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Đó
có thể là quyền gắn liền với một tài sản hoặc quyền mà khi thực hiện nó, chủ
sở hữu sẽ có được tài sản. Trong hệ thống phân loại cơ bản về tài sản tại Điều
163 BLDS 2005, khái niệm “quyền tài sản” được xây dựng để đối lập, loại trừ
khái niệm “vật”. Vật là hữu hình, còn quyền tài sản được hiểu là vô hình. Căn
cứ vào đặc điểm của phương thức kiện đòi lại tài sản thì quyền tài sản không
phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản.
3. Các trường hợp kiện đòi lại tài sản
Về nguyên tắc, pháp luật không bảo vệ những người chiếm hữu tài sản không
có căn cứ pháp luật. Do vậy, những người chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật buộc phải trả lại tài sản đang chiếm giữ cho chủ sở hữu. Trong trường
hợp họ không tự nguyện trả lại tài sản khi chủ sở hữu yêu cầu thì chủ sở hữu
có quyền yêu cầu Toà án xét xử để đòi lại tài sản của mình. Tuy nhiên trong
chừng mực nhất định, để bảo vệ người ngay tình đang thực tế chiếm hữu tài
sản thì tuỳ thuộc vào loại tài sản, tính chất của việc chiếm hữu cũng như cách
thức tài sản rời khỏi chủ sở hữu đích thực mà pháp luật dự liệu các trường
hợp kiện đòi lại tài sản khác nhau.
a. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
Điều 257 BLDS 2005 quy định: “chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không
phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp


người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không
có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp
đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu
động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí
của chủ sở hữu”.
Quy định của Điều 257 BLDS 2005 nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu trong
trường hợp cụ thể, đó là trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình tài sản

nguyền tắc, ai là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu thì
người đó được pháp luật công nhận là chủ sở hữu và được pháp luật bảo vệ
quyền sở hữu. Chính vì vậy, khi tham gia các giao dịch có tình chat chuyển
dịch tài sản mà tài sản được chuyển dịch là động sản phải đăng ký quyền sở
hữu hoặc bất động sản thì người nhận chuyển dịch cần phải kiểm tra người
chuyển dịch tài sản cho mình có phải là chủ sở hữu hay người được chủ sở
hữu uỷ quyền hợp pháp hay không. Ngoài ra, khi giao dịch hoàn tất người
nhận chuyển dịch còn phải tiến hành các thủ tục sang tên theo quy định tại các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) của họ mới
đươc Nhà nước công nhận và bảo hộ.
Về nguyên tắc chung, Khoản 2 Điều 138 BLDS 2005 quy định: “Trong
trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký
quyền sở hữu đã được chuyển dịch bằng một giao dịch khác cho người thức
ban gay tình thì giao dịch với người thức ba vô hiệu”.
Theo đó, Điều 258 BLDS 2005 quy định về quyền đòi lại động sản phải đăng
ký quyền sở hữu và bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình như sau: “Chủ
sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ
trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông
qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sỡ hữu tài sản nhưng sau đó người này
không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.
4. Các trường hợp không được kiện đòi lại tài sản
Khi xây dựng các quy định về kiện đòi lại tài sản, các nhà làm luật đã không
chỉ chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu mà còn chú ý đến việc
bảo vệ quyền lợi chính đáng của người chiếm hữu ngay tình nhằm đảm bảo
tính ổn định, an toàn của giao lưu dân sự đã được các chủ thể xác lập. Đây là
cơ sở của việc quy định các trường hợp chủ sở hữu không có quyền kiện đòi
lại tài sản.
a. Tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu rời khỏi chủ sở hữu
theo ý chí của chủ sở hữu; người thức ba chiếm hữu ngay tình thông qua hợp

BLDS 2005 quy định: “Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi
kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ
nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải
quyết việc dân sự”.
Tiếp đó, Điều 247 BLDS 2005 quy định về thời hiệu hưởng quyền dân sự mà
cụ thể là quyền được xác lập quyền sở hữu đối với mômtj tài sản khi đáp ứng
được những điều kiện nhất định. Theo đó, Khoản 1 Điều 247 quy định:
“Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động
sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể
từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều


này”. Khi quyền sở hữu của người chiếm hữu đã được xác lập thì cũng đồng
nghĩa với việc chấm dứt quyền sở hữu đối với người có tài sản bị chiếm hữu.
Do vậy, đối với trường hợp người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không
có căn cứ pháp luật đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì chủ sở
hữu mất quyền kiện đòi lại tài sản.
Tuy nhiên, người chiếm hữu, người được lợi về tài sản chỉ được xác lập
quyền sở hữu theo thời hiệu khi thoả mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu chỉ áp dụng đối với trường
hợp chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, tức là chiếm
hữu tài sảng không phù hợp với quy định tại Điều 183 BLDS 2005.
Thứ hai, việc chiếm hữu phải là chiếm hữu ngay tình. Tức là, người chiếm
hữu tài sản không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không
có căn cứ pháp luật.
Thứ ba, việc chiếm hữu tài sản phải liên tục.
Thứ tư, việc chiếm hữu phải công khai.
Thứ năm, việc chiếm hữu với các đặc điểm nêu trên phải được thực hiện
trong khoảng thời gian là mười năm kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu đối

luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án
dân sự thì thực hiện như sau:
a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người
quan lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện…”
Theo quy định trên thì kiện đòi tài sản là trường hợp không áp dụng thời hiệu
khởi kiện. Quy định sửa đổi này có thể nói là sự thay đổi về chất so với quy
định trước đó.
II. Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về kiện đòi lại tài
sản
1. Thực tiến áp dụng pháp luật và những vướng mắc trong quá trình giải quyết
các tranh chấp về kiện đòi lại tài sản
Tranh chấp về quyền sở hữu luôn là vấn đề phức tạp trong quá trình giải quyết
tại Toà án. Theo Báo cáo tổn kết hàng năm của ngành Toà án thì trong những
năm gần đây ngành Toà án đã thụ lý và xét xử một số lượng khác lớn các
tranh chấp về quyền sở hữu, trong đó các vụ án về kiện đòi lại tài sản chiếm
một tỉ lệ không nhỏ và cũng rất phức tạp về tính chất.
Việ giải quyết tranh chấp dân sự về quyền sở hữu nói chung, kiện đòi lại tài
sản nói riêng trong những năm gần đây đã đạt đwọc nhiều thành tựu nhất


định. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công vẫn còn những vướng mắc, hạn
chế. Sau đây là một vài ví dụ:
a. Vụ án thứ nhất
Ông Nguyễn Văn Điệp trú tại số nhà 113 ngõ 411 đường Trường Chinh,
phường Thống Nhất, thành phố Nam Định có ký hợp đồng cho ông Trần Văn
Hà trú tại số 14, phường Hạ Long, thành phố Nam Định thuê một chiếc xe
máy để chở hàng. Trong thời gian ông Hà sử dụng, vì sơ hở nên chiếc xe đã bị
lấy cắp. Sau khi truy tìm, ông Hà đã phát hiện Pham Quan Đạo là người đã
lấy cắp và hiện đang sử dụng chiếc xe đó.

khuyết cần thiết phải sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lời
của các chủ thể.
b. Vụ án thứ hai
Bà Nguyễn Thị Thuý Hạnh trú tại số nhà 28, khu 3, thị trấn Tân Bình, huyện
Yên Sơn, tình Tuyên Quang cho bà ĐẶng Thị Hương Dung là bạn mượn một
chiếc máy tính xách tay hiệu Vaio vào ngày 20/1/2006. Ngày 15/7/2006, bà
Dung bị lâm bệnh nặng và chết. Trong di chúc bà Dung có nguyện vọng để lại
chiếc máy tính cho chồng của bà là ông Lê Đình Thi. Khi biết sự việc này, bà
Hạnh đã yêu cầu ông Thi trả lại cho mình chiếc máy tính đó nhưng ông Thi
không chịu trả. Bà Hạnh đã làm đơn khởi kiện đến TAND huyện Yên Sơn để
yêu cầu ông Thi trả lại chiếc máy tình cho bà.
Tại phiên toà sơ thẩm, theo quyết định tại Bản án số 143/2008/DS-ST ngày
30/4/2008, TAND huyện Yên Sơn đã căn cứ vào Điều 257 BLDS 2005 bác
yêu cầu đòi lại tài sản của bà Hạnh. Toà án xác định ông Thi là người chiếm
hữu ngay tình và theo Điều 257 thì chủ sở hữu chỉ có quyền đòi lại động sản
không phải đăng ký quyền sở hữ từ người chiếm ngữu ngay tình trong trường
hợp người chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông quy hợp đồng không
có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản, còn trong trường hợp
này ông Thi đã nhận dược tài sản thông qua thừa kế theo di chúc.
Việc vận dụng quy định pháp luật của Toà án trong vụ việc nói trên đã cho
thấy sự bất cập hiện nay của quy định về kiện đòi tài sản. Rõ ràng, việc định
đoạt theo di chúc của bà Dung là định đoạt trái pháp luât, tài sản mà ông Thi
đang chiếm hữu là của bà Hạnh nhưng bà Hạnh lại khônt thể kiện đòi lại tài
sản là rất vô lý. Pháp luật trong trường hợp này dã không bảo vệ dược quyền
lợi chính đáng cho chủ sở hữu, chính kẽ hở pháp luật này là nguyên nhân dẫn
đến tình trạng lạm dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu trong
thực tế.
c. Vụ án thứ ba
Nguyên đơn, bà Ngô Thị Trấn trình bày: năm 1975 bà sang nhượng của mẹ bà
là cụ Hồ Thị Đáng 9600m2 đất ruộng muối tại thôn Hoàn Quy (hợp đồng

Tại Bản án phúc thẩm số 63 ngày 13/7/2006 TAND tỉnh Khánh Hoà quyết
định: không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Chấn, giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Bà Chấn tiếp tục có đơn khiếp nại nhiều lần. Tại quyết định kháng nghị số
337 ngày 9/7/2009 Chánh án TANDTC đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu
trên với nhận định: Toà án các cấp chưa làm rõ vị trí của phần đất 1600m2 mà
bà Chấn chưa hiến cho Nhà nước và chưa xem xét phần đất ông Cảnh đã
chuyển nhượng cho ông Ninh, bà Hường có đúng là đất của bà Chấn đã mua
trước đây hay không? Nguồn gốc đất bà Chấn bỏ tiền mua?


Trong quá trình giải quyết vụ án, các cấp Toà án đã chưa điều tra làm rõ
nguồn góc, vị trí đất đang tranh chấp mà đã bác yêu cầu của nguyên đơn là
chưa có cơ sở. Toà án cần phải điều tra, xác định rõ nguồn gốc, vị trí cụ thể
của diện tích đất đang tranh chấp từ đó làm căn cứ để giải quyết vụ án thì mới
chính xác.
2. Nguyên nhân của những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về
kiện đòi lại tài sản
Nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế trong công tác xét xử của Toà
án xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Có
thể kể đến một số nguyên nhân như:
Thứ nhất, hàng năm ngành Toà án phải thụ lý và giải quyết một số lượng khá
lớn các vụ án dân sự liên đến tranh chấp về sở hữu nói chung và kiện đòi lại
tài sản nói riêng. Trong khi đó ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng
xa thì biên chế trong ngành chưa đủ, trình độ của một bộ phận thẩm phán còn
hạn chế dẫn đến lượng án tồn đọng nhiều và chất lượng xét xử không cao.
Thứ hai, một số văn bản quy phạm pháp luật chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ,
thậm chí là không phù hợp với thực tiễn nhưng các cơ quan có thẩm quyền
chưa có hướng dẫn, sửa đổi kiẹp thời, làm cho việc giải quyết nhiều vụ án gặp
khó khă, vướng mắc, gây ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người dân.

từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình chỉ dành cho
“chủ sở hữu”. Quy định như vậy là chưa hợp lý vì nó vừa thiếu đồng bộ, vừa
chưa đảm bảo thoả đáng quyền lợi của cả chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp
pháp. Do vậy, cần sử đổi, bổ sung quy định này theo hướng cho phép cả
người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện đòi lại tài sản từ người chiếm
hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Việc cho phép người chiếm
hữu hợp pháp thực hiện việc khởi kiện đòi lại tài sản sẽ giải quyết được các
vấn đề sau:
Thứ nhất, đảm bảo tính thống nhất giữa Điều 256 với Điều 257, Điều 258
BLDS 2005 về quyền đòi lại tài sản bởi Điều 256 dành quyền đòi lại tài sản từ
người chiếm hữu người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có
căn cứ pháp luật cho cả chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.
Hai là, cho phép người chiếm hữu hợp pháp khởi kiện đòi lại tài sản nhằm
đảm bảo quyền lợi cho người chiém hữu hợp pháp. Khi người chiếm hữu hợp
pháp nhận đwọc tài sản thông qua một giao dịch dân sự hợp pháp (như thuê
hoặc mượn tài sản) thì người chiếm hữu hợp pháp có nhu cầu sử dụng tài sản
đó để đem lại lợi ích cho chính mình. Do vậy, khi tài sản bị người thứ ba
chiếm hữu trái pháp luật thì người chiếm hữu hợp pháp không thể sử dụng,
khai thác tài sản trong khi vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định cho chủ
sở hữu.


Thứ ba, thừa nhận người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện đòi lại tài
sản còn nhằm bảo vệ lợi ích cho chính chủ sở hữu. Trong trường hợp người
chiếm hữu hợp pháp đã xác định được người đang thực tế chiếm hữu trái pháp
luật đối với tài sản mà chủ sở hữu vì một lý do nào đó lại không có điều kiện
để khởi kiện đòi lại tài sản, trong khi đó người chiếm hữu hợp pháp lại không
có quyền kiện đòi lại tài sản thì tài sản đó có thể bị người đang thực tế chiếm
hữu định đoạt bất hợp pháp cho người khác mà sau đó không xác định đwọc
người đã nhận chuyển giao mới dẫn đến việc truy tìm và đòi lại tài sản của

bị huỷ thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau tài sản
đã nhận. Nghĩa là, trong trường hợp này người thứ ba ngay tình buộc phải
hoàn trả lại tài sản đã mua cho tổ chức bán đầu giá và chủ sỡ hữu có thể kiện
tổ chức bán đầu giá để đòi lại tài sản của mình. Tuy nhiên, theo tinh thần của
Điều 258 BLDS thì có thể hiểu là mọi trường hợp người thứ ba ngay tình
nhận được tài sản không qua bán đầu giá đều có quyền xác lập quyền sở hữu
đối với tài sản. Do vậy, để việc giải quyết các tranh chấp này được thống nhất
và đúng pháp luật thì trước mặt TANDTC cần có sự hướng dẫn cụ thể trường
hợp này và khi sửa đổi BLDS 2005 nên sửa đổi, bổ sung quy định này theo
hướng thay cụm “thông qua bán đấu giá” bằng cụm từ “thông qua bán đầu giá
hợp pháp” để đảm bảo tình thống nhất của các quy định pháp luật.
d. Về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
Quy định về thời hiệu xác lập quyền sở hữu tại Điều 247 BLDS 2005 như vậy
là chưa thật sự hợp lý, quá dài, không phù hợp với thực tiễn xã hội luôn
chuyển đổi, không nâng cao đwọc ý thức trách nhiệm của chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp trong việc quản lý, sử dụng tài sản. Do vậy, nên sử đổi
thời hiệu xác lập quyền sở hữu theo hướng đố với động sản là 5 năm và với
bất động sản là 20 năm. Quy định như vậy vừa đảm bảo cho các giao dịch dân
sự được ổn định, vừa giảm bớt được khó khăn cho Toà án trong việc phải thụ
lý giải quyết các tranh chấp về sở hữu mà sự việc đã xảy ra qua lâu khiến cho
chính những người trong cuộc cũng khó có thể tìm ra được các chứng cứ xác
thực để chứng minh làm cơ sở vững chắc để giải quyết vụ án.
e. Về thủ tục xác lập và đăng ký quyền sở hữu cho người chiếm hữu ngay tình
trong các trường hợp chủ sở hữu không được quyền đòi lại tài sản quy định
tại Điều 257, 258 và khoản 1 Điều 247 BLDS 2005
Đối với các trường hợp chủ sở hữu không được quyền kiện đòi lại tài sản thì
người chiếm hữu, người được lợi về tài sản ngay tình được công nhận là chủ
sở hữu hợp pháp đối với tài sản mà mình đang chiếm hữu, được lợi. Tuy
nhiên, hiện nay chưa có các quy định cụ thể về vấn đề này. Chính vì lẽ đó, cả
người dân và các cơ quan áp dụng pháp luật đều rất lung túng trong việc xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status