Luật sư giữ bí mật thông tin về khách hàng Giới hạn và trách nhiệm?
DÀN Ý:
Vaanns đề giữ bí mật thông tin về khách gàng được quy định trong rất nhiều ngành nghề
khác nhau, một trong số đó là trong nghề luật sư. QUY ĐỊNH NÀY đã được xuất phat từ
nhiều yếu tố khác nhau:yêu cầu của khách hàng, bảo vệ cho khách hàng … đông thời
cũng là thể hiện đạo đức nghề nghiệp của luật sư, trở thành nguyên tắc cơ bản hàng đầu.
Tuy NHIÊN, việc giữ bí mật thông tin khách hàng được giới hạn tới đâu và trách nhiệm cur
luật sư như thế nào vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau. Ttrong phạm vi tiểu luận
của mình, tôi xintrinhf bày những hiểu biết của mình về đề tài :”
I. 1 số vấn đề chung về vấn đề giữ bí mật thông tin về khách hàng của luật sư
1.Khái niệm:
a. Khái niệm thông tin về khách hàng
Trong quá trình tiếp xúc, trao đổi giữa luật sư và khách hàng, khách hàng sẽ truyền đạt các thông
tin về chính mình và các thông tin về vụ việc của họ cho luật sư để nhờ luật sư tư vấn hoặc thực
hiện một dịch vụ pháp lý nào đó.
Thông tin về khách hàng hay thông tin của khách hàng hay nói chung là thông tin khách hàng là
những tin tức, thông điệp khách hàng truyền đạt cho luật sư trong quá trình tiếp xúc, trao đổi
giữa luật sư và khách hàng hoặc do luật sư biết được, thu thập được trong quá trình thụ lý, giải
quyết vụ việc của khách hàng.
Thông tin về khách hàng (trong mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng) là những gì khách hàng
đã nói, viết, trao đổi, truyền đạt, tiết lộ cho luật sư biết hoặc do luật sư thu thập được bằng các
biện pháp hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ việc.
Thông tin về khách hàng bao gồm nhưng không giới hạn: thông tin cá nhân của khách hàng, bí
mật đời tư của khách hàng, tình hình tài chính, bí mật kinh doanh của khách hàng,...
b. Khái niệm giữ bí mật thông tin về khách hàng
Theo Từ điển tiếng Việt[2], giữ bí mật được hiểu là giữ kín trong phạm vi một số ít
người, không để lộ cho người ngoài biết. Còn bí mật thông tin là những bí mật nghề
nghiệp có liên quan tới vụ việc luật sư đảm nhận, bao gồm các bí mật điều tra, bí mật về
quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, tình hình tài chính, bí quyết kinh doanh, bí mật về đời
tư hoặc những thông tin khác của khách hàng được xác định là bí mật.
vấn đề luật sư giữ bí mật thông tin về khách hàng là cái mà luật sư dựa vào đó để thực hiện. Hay
nói cách khác cơ sở của vấn đề luật sư giữ bí mật thông tin về khách hàng là câu trả lời của câu
hỏi: Luật sư dựa vào đâu, căn cứ vào đâu để thực hiện việc giữ bí mật thông tin về khách hàng?
Có hai cơ sở cho việc luật sư giữ bí mật thông tin về khách hàng. Đó là cơ sở pháp lý và cơ sở
đạo đức và ứng xử nghề nghiệp.
3.1. 1. Cơ sở pháp lý
Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987
Pháp lệnh tổ chức luật sư số 2A-LCT/HĐNN ngày 18/12/1987của Hội đồng Nhà Nước (Pháp
lệnh tổ chức luật sư năm 1987) là văn bản quy phạm pháp luật tương đối hoàn chỉnh quy định về
luật sư và nghề luật sư tại Việt Nam. Cũng chính trong Pháp lệnh này, vấn đề luật sư giữ bí mật
thông tin về khách hàng đã được đặt ra.
Pháp lệnh tổ chức Luật sư năm 1987 quy định việc giữ bí mật thông tin khách hàng là nghĩa vụ
của luật sư. Khoản 3 Điều 18 Pháp lệnh tổ chức Luật sư năm 1987 quy định luật sư có nghĩa
vụ: “Không được tiết lộ những bí mật mà mình biết được trong khi làm nhiệm vụ giúp đỡ pháp lý”.
Pháp lệnh Luật sư năm 2001
Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987 đã tạo ra bước ngoặt cho sự phát triển luật sư và nghề luật sư ở
Việt Nam. Với sự phát triển đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987 đã không còn phù hợp, dẫn đến
sự ra đời của Pháp lệnh số37/2001/PL-UBTVQH10 ngày 25/7/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội khóa X về Luật sư (Pháp lệnh Luật sư năm 2001).
Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thay thế Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987 tiếp tục quy định về
việc luật sư giữ bí mật thông tin khách hàng. Tuy nhiên, có sự khác biệt nhỏ về quy định này giữa
hai pháp lệnh này là Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định về việc giữ bí mật thông tin thông qua
quy định về điều cấm đối với luật sư chứ không quy định chung trong phần nghĩa vụ của luật sư
như Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987. Cụ thể, khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh này quy định cấm
luật sư: “Tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ
trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư, pháp luật có quy
định khác”.
Luật Luật sư 2006
cao quý, gắn liền với chế độ, xã hội dân chủ và Nhà nước pháp quyền. Chính vì vậy, nghề luật
sư cũng cần có những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp để làm cơ sở cho thái độ, xử sự,
hành vi của luật sư trong quá trình hành nghề, trong các mối quan hệ nghề nghiệp. Một trong
những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư là việc giữ bí mật thông tin về khách
hàng.
Trong các mối quan hệ nghề nghiệp của luật sư, mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng là mối
quan hệ cơ bản, nền tảng. Khách hàng tìm đến luật sư thường là những người có các vấn đề,
rắc rối về mặt pháp lý - “những con bệnh pháp lý” - cần sự giúp đỡ của luật sư hoặc những
người muốn đề phòng những rủi ro pháp lý. Để giải quyết vấn đề của khách hàng, điều kiện tiên
quyết là luật sư cần phải biết những thông tin về khách hàng, thông tin về vụ việc mà khách hàng
đang gặp phải. Để có được thông tin từ khách hàng, luật sư phải là người đáng tin cậy để khách
hàng có thể chia sẻ thành thật. Để tạo được sự tin cậy cho khách hàng, luật sư không chỉ có
chuyên môn, có kỹ năng nghề nghiệp mà luật sư còn phải đảm bảo với khách hàng về việc giữ bí
mật thông tin của họ. Như vậy, ứng xử nghề nghiệp đòi hỏi và đã tạo cơ sở cho việc giữ bí mật
thông tin về khách hàng của luật sư. Có thể nói việc giữ bí mật thông tin về khách hàng của luật
sư là quy tắc ứng xử mang tính tự nhiên (tất nhiên, tất yếu) trong mối quan hệ nghề nghiệp giữa
luật sư với khách hàng.
Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư
Việt Nam được xây dựng thành bộ quy tắc thành văn. Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề
nghiệp của Luật sư Việt Nam lần đầu tiên được ban hành là “Quy tắc mẫu về đạo đức nghề
nghiệp luật sư” được ban hành theo Quyết định số 356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/8/2002 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp. Căn cứ vào Bộ Quy tắc mẫu này, Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương ban hành Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư áp dụng đối với luật sư của
Đoàn mình.
Bộ Quy tắc mẫu này gồm 04 chương và 14 Quy tắc. Trong đó, Quy tắc 9 quy định về việc luật sư
giữ bí mật thông tin của khách hàng với hai nội dung: “Luật sư không tiết lộ thông tin về vụ việc,
về khách hàng khi không được khách hàng đồng ý”; “luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân
viên của mình cũng không tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng của mình”.
được tác giả nghiên cứu trong chương này.
1. Giới hạn của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về khách hàng
Giới hạn là hạn chế trong một phạm vi nhất định. Giới hạn của luật sư trong việc giữ bí mật thông
tin về khách hàng là phạm vi mà trong đó luật sư có nghĩa vụ và phải tuân theo quy tắc ứng xử
về giữ bí mật thông tin khách hàng. Giới hạn của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về khách
hàng giúp luật sư xác định rõ ranh giới của những thông tin được bảo mật với những thông tin
không được bảo mật, xác định trường hợp nào luật sư cần bảo mật và trường hợp nào được tiết
lộ thông tin về khách hàng.
Nói đến giới hạn của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về khách hàng là đề cập đến một số
vấn đề như giới hạn thông tin về khách hàng cần được giữ bí mật; giới hạn bảo mật về thời gian,
không gian, chủ thể,...
a. Giới hạn những thông tin về khách hàng mà luật sư phải giữ bí mật
Khoản 1 Điều 25 Luật Luật sư 2006 quy định: “Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về
khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề”. Quy tắc 12 trong Quy tắc đạo đức và ứng
xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam quy định: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của
khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý”. Quy định này đặt ra vấn đề thông tin nào của khách
hàng phải được luật sư giữ bí mật? Có sự giới hạn về những thông tin cần được bảo mật hay
không? Vấn đề này dẫn đến hai luồng quan điểm: Một là, không có sự giới hạn, luật sư phải giữ
bí mật tất cả các thông tin về khách hàng. Hai là, có sự giới hạn, luật sư chỉ có nghĩa vụ bảo mật
đối với những tin về khách hàng được xem, được xác định là thông tin mật theo quy định của
pháp luật hoặc theo thỏa thuận bảo mật giữa luật sư và khách hàng.
Mỗi quan điểm đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Quan điểm “bảo mật tất cả các thông
tin” có ưu điểm là tạo được sự tin cậy tuyệt đối cho khách hàng, nâng cao quy tắc ứng xử đạo
đức nghề nghiệp của luật sư đối với khách hàng, nâng cao tinh thần trách nhiệm của luật sư;
quan điểm này cũng phù hợp với quy tắc “bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng” vì việc tiết lộ
thông tin về khách hàng có thể tiềm ẩn những rủi ro, bất lợi đối với khách hàng. Hạn chế của
quan điểm này là tính rủi ro cao đối với luật sư.
Quan điểm thứ hai có ưu điểm là tạo cơ chế rõ ràng trong việc bảo mật, dễ dàng xác định nghĩa
đều quy định nghĩa vụ bảo mật của luật sư đối với tất cả các thông tin về khách hàng, luật sư
bảo mật bất kỳ thông tin được biết về khách hàng. Chẳng hạn, khoản 2.3.2 Quy tắc bảo mật
trong Quy tắc ứng xử của Luật sư Châu Âu 2002 (Code of Conduct for Lawyers in the European
Union) quy định: “Luật sư phải bảo mật tất cả các thông tin mà luật sư biết được trong quá trình
hành nghề”[4]. Dựa trên Quy tắc mẫu về ứng xử nghề nghiệp Luật sư của Hiệp Hội Luật sư Hoa
Kỳ (ABA Model Rules of Professional Conduct), Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của Luật sư bang
New York 2009 (New York Rules of Professional Conduct) cũng quy định Luật sư phải bảo mật
tất cả các thông tin về khách hàng: “Nghĩa vụ bảo mật của luật sư không chỉ áp dụng đối với các
vấn đề khách hàng truyền đạt trong sự bí mật, được bảo đảm bởi đặc quyền giữa khách hàng và
luật sư, mà còn áp dụng đối với tất cả các thông tin mà luật sư có được trong quá trình đại diện
cho khách hàng và liên quan đến quá trình đại diện, bất kể nguồn thông tin đó từ đâu” [5]. Quy
tắc 1 chương IV về Bảo mật thông tin trong Quy tắc ứng xử nghề nghiệp do Hiệp Hội Luật sư
Canada ban hành năm 2009 (Code of Professional Conduct – Canadian Bar Association) cũng
quy định: “Luật sư có nghĩa vụ bảo mật một cách nghiêm ngặt tất cả các thông tin liên quan đến
việc kinh doanh và vụ việc của khách hàng mà luật sư biết được trong quan hệ nghề nghiệp, và
không được tiết lộ bất kỳ thông tin nào ngoại trừ được khách hàng cho phép một cách rõ ràng
hay ngụ ý, pháp luật cho phép hoặc Quy tắc này có quy định khác”[6]. Quy tắc 8 Quy tắc ứng xử
và chăm sóc khách hàng của Luật sư New Zealand 2008 (Lawyers: Conduct and Client Care Rules 2008) cũng quy định: “Luật sư có nghĩa vụ bảo vệ và giữ bí mật một cách nghiêm ngặt tất
cả các thông tin liên quan đến khách hàng, thỏa thuận giữa luật sư và khách hàng, và việc kinh
doanh và vụ việc của khách hàng mà luật sư biết được trong quá trình quan hệ nghề nghiệp với
khách hàng” [7]. Quy tắc 26 Quy tắc đạo đức của Luật sư Croatia 1999 (The Attorneys’ Code of
Ethics) cũng quy định: “Luật sư phải giữ bí mật bất kỳ thông tin nào biết được từ khách hàng
hoặc nói cách khác là trong quá trình hỗ trợ pháp lý, đặc biệt là đại diện và bảo vệ. Luật sư phải
tự mình tận tâm xác định những gì khách hàng muốn được bảo mật như đối với bí mật của luật
sư ”[8].
Trong việc giữ bí mật thông tin về khách hàng, luật sư cần chú ý tìm hiểu các quy định pháp luật
về giữ bí mật thông tin có liên quan đến khách hàng của mình. Chẳng hạn, đối với khách hàng là
cá nhân, luật sư cần tuân thủ quy định về bí mật đời tư; khách hàng là doanh nhân hoặc doanh
tin về vụ việc trước khi luật sư nhận thực hiện dịch vụ pháp lý từ khách hàng thì như phân tích ở
trên, luật sư không có nghĩa vụ bảo mật nhưng thông tin đã được công bố trước đó mà chỉ bảo
mật những thông tin về khách hàng từ thời điểm luật sư nhận vụ việc. Nghĩa vụ của luật sư lúc
này là không tiết lộ thêm thông tin về khách hàng, trừ trường hợp được sự đồng ý của khách
hàng để tiết lộ những thông tin có lợi cho khách hàng và tranh thủ được sự đồng tình của dư
luận (luật sư phải tư vấn cho khách hàng và xin phép sự đồng ý của khách hàng trước khi tiết lộ
thông tin). Có thể luật sư của những khách hàng trong những vụ việc này còn được mời phỏng
vấn, phát biểu quan điểm. Khi đó, luật sư chỉ được phát biểu trên nguyên tắc “bảo vệ tốt nhất
quyền lợi của khách hàng” và chỉ phát biểu trên cơ sở những thông tin về khách hàng, liên quan
đến vụ việc đã được công bố, tuyệt đối tránh vô tình tiết lộ các thông tin khác về khách hàng, về
vụ việc nếu chưa được sự đồng ý của khách hàng. Trong nhiều trường hợp, luật sư cần xem xét
từ chối phát biểu trước các phương tiện truyền thông mà chỉ phát biểu trong trường hợp cơ quan
có thẩm quyền yêu cầu hoặc khi vụ việc đưa đưa ra giải quyết chính thức.
b. Giới hạn về thời gian
Việc giữ bí mật thông tin về khách hàng của luật sư là không có sự giới hạn về thời gian. Luật sư
có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về khách hàng trong lúc đang thụ lý giải quyết vụ việc cho
đến khi vụ việc đã kết thúc. Quy tắc 12 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư
Việt Nam quy định rõ: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện
dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó”. Như phần trên cũng có đề cập, khi kết thúc vụ
việc, luật sư vẫn có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin về khách hàng nhưng đó là những thông tin mà
luật sư biết được trong lúc giải quyết vụ việc cho khách hàng, còn những thông tin mới mà luật
sư biết được sau khi đã kết thục vụ việc với khách hàng thì luật sư không có nghĩa vụ bảo mật.
Đây cũng là một quy định phù hợp với quy tắc ứng xử chung của luật sư nhiều nước trên thế
giới. Quy tắc ứng xử của Luật sư Châu Âu 2002 ghi nhận: “Nghĩa vụ bảo mật của luật sư không
giới hạn về thời gian”[10]. Quy tắc ứng xử và chăm sóc khách hàng của Luật sư New Zealand
2008 cũng quy dịnh: “Nghĩa vụ bảo mật của luật sư bắt đầu từ lúc khách hàng tiết lộ thông tin
cho luật sư được đề xuất theo hợp đồng giữa luật sư và khách hàng (hoặc kể cả không có hợp
đồng). Nghĩa vụ bảo mật vẫn tiếp tục vô thời hạn dù người có liên quan không còn là khách hàng
của luật sư ”[11]. Quy tắc ứng xử của Luật sư tư vấn Vương quốc Anh 2007 (Solicitors’ Code of
Conduct 2007) cũng hướng dẫn: “Nghĩa vụ bảo mật của luật sư vẫn tiếp tục sau khi đã kết thúc
nghĩa vụ bảo mật”[13]. Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của Luật sư bang New York 2009 cũng
hướng dẫn: “Luật sư phải có sự thận trọng hợp lý dể ngăn chặn nhân viên, cộng sự của luật sư
tiết l�� hoặc sử dụng thông tin mật của khách hàng, trừ trường hợp được tiết lộ... ” [14]. Quy tắc
ứng xử của luật sư tư vấn Vương Quốc Anh cũng ghi nhận: “Luật sư và tổ chức hành nghề của
luật sư phải giữ bí mật về vụ việc của khách hàng và khách hàng cũ, trừ trường hợp được phép
tiết lộ theo quy định của pháp luật hoặc được sự đồng ý của khách hàng (hoặc khách hàng
cũ)”[15]. Quy tắc đạo đức của Luật sư Croatia cũng quy định: “Luật sư phải có sự thận trọng hợp
lý để bảo đảm rằng những người khác làm việc trong cùng văn phòng luật sư phải giữ bí mật các
thông tin được bảo mật”[16].
d. Một số ngoại lệ trong việc giữ bí mật thông tin về khách hàng
Nhìn chung, giới hạn bảo mật của luật sư đối với thông tin về khách hàng là vô hạn . Không có
giới hạn trong việc luật sư giữ bí mật thông tin về khách hàng. Tuy vậy, Luật Luật sư 2006 và
Quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp Luật sư Việt Nam vẫn quy định một số ngoại lệ trong việc
giữ bí mật thông tin về khách hàng.
Trong những trường hợp lệ, luật sư không bị ràng buộc bởi các giới hạn về bảo mật đối với
thông tin về khách hàng như đã phân tích ở trên. Trong những trường đó, luật sư được (hoặc
phải) tiết lộ thông tin về khách hàng.
Có hai trường hợp ngoại lệ được xác định: Một là, sự tiết lộ thông tin về khách hàng được chính
khách hàng đồng ý; hai là luật sư tiết lộ thông tin theo quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 25 Luật Luật sư 2006 quy định: “Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về
khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý
bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác”. Quy tắc đạo đức và ứng xử nghể nghiệp của
luật sư Việt Nam cũng quy định: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi
thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng
ý hoặc theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, mặc dù Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư không quy định nhưng
theo Luật Luật sư 2006, trong trường hợp luật sư tiết lộ thông tin theo sự đồng ý của khách hàng
thì sự đồng ý đó phải thể hiện bằng văn bản.
ngắn gọn như hiện hành:“Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện
dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc
theo quy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và
nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và giải thích rõ
nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Theo quan điểm của người viết, căn cứ vào những quy định hiện hành, trong trường hợp trên,
trước hết luật sư cần giải thích quy định của pháp luật cho khách hàng đó hiểu về hành vi tội
phạm mà họ đã thực hiện cũng như chính sách khoan hồng, các tình tiết giảm nhẹ. Trên cơ sở
đó, luật sư khuyên giải họ tự thú. Tuy vậy, nếu khách hàng không đồng ý tự thú và yêu cầu luật
sư phải bảo mật thông tin đó của họ thì luật sư có hai lựa chọn: Một là “rút lui”, từ chối tiếp tục
thực hiện vụ việc cho khách hàng đó, luật sư có thể vận dụng quy tắc 9.2.2 Quy tắc đạo đức và
ứng xử nghề nghiệp của luật sư để từ chối: “khách hàng không chấp nhận ý kiến tư vấn giải
quyết vụ việc đúng pháp luật, phù hợp với đạo đức do luật sư đưa ra, mặc dù luật sư đã cố gắng
phân tích, thuyết phục”, sau đó luật sư có thể khéo léo thực hiện nghĩa vụ công dân của mình
theo quy định của pháp luật. Hai là, luật sư vẫn tiếp tục giải quyết vụ việc của khách hàng. Trong
trường này, luật sư cần báo cáo với Đoàn luật sư của mình để Đoàn luật sư có chỉ đạo, tìm
hướng giải quyết phù hợp. Đồng thời luật sư cũng cần có những hành động cần thiết để can
ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm để đề phòng rủi ro cho mình theo quy
định tại khoản 3 Điều 314 Bộ luật Hình sự: “Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn
người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự
hoặc miễn hình phạt”.
Với tính chất là một nghề đặc biệt như nghề luật sư, với những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề
nghiệp của luật sư, tác giả cho rằng pháp luật cần quy định luật sư chỉ phải tố giác tội phạm đối
với khách hành khi khách hàng đó phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng. Cụ thể khoản 2 Điều 22 và khoản 2 Điều 314 Bộ luật Hình sự cần được sửa đổi,
bổ sung theo hướng như sau: “Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em
ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội; luật sư có khách hàng là người phạm tội chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các
pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, đề nghị tổ chức luật sư toàn quốc thu hồi Thẻ luật
sư”.
Hiện nay, Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng đang xây dựng Quy chế xử lý kỷ luật đối với Luật sư
áp dụng thống nhất cho các Đoàn Luật sư. Quy định về xử lý kỷ luật đối với luật sư đề cập đến
các vấn đề về nội dung và thủ tục, quy trình xử lý kỷ luật luật sư như các hình thức kỷ luật (khiển
trách, cảnh cáo, tạm đình chỉ hoạt động, xóa tên khỏi đoàn và đề nghị thu hồi chứng chỉ hành
nghề), trình tự, thủ tục tiến hành việc xử lý, giải quyết khiếu nại liên quan đến quyết định xử lý kỷ
luật luật sư, trách nhiệm của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng Khen thưởng Kỷ luật các Đoàn Luật sư,
Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được
phép xem xét khi xử lý kỷ luật luật sư…
b. Trách nhiệm pháp lý
Giữ bí mật thông tin về khách hàng không chỉ là quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật
sư mà còn là một nghĩa vụ pháp lý được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật bao
gồm Luật Luật sư 2006 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Trách nhiệm pháp
lý của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin về khách hàng là hậu quả pháp lý bất lợi đối với luật
sư khi luật sư vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật thông tin về khách hàng. Trách nhiệm pháp lý này bao
gồm trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Ba loại trách nhiệm
pháp lý này đã được quy định tại Điều 89 Luật Luật sư 2006 về xử lý vi phạm đối với Luật
sư: “Luật sư vi phạm quy định của Luật này, ngoài việc bị xử lý kỷ luật thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm còn bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.
Đối với mỗi hành vi vi phạm, luật sư vi phạm có thể chịu một loại trách nhiệm pháp lý hoặc đồng
thời chịu hai loại trách nhiệm pháp lý: trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính; trách
nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, nếu hành vi vi phạm của luật sư đã đến mức
phải truy cứu trách nhiệm pháp lý thì chắc chắn luật sư vi phạm phải chịu trách nhiệm kỷ luật như
phnâ tích tại mục 2.2.1.
2.2.2.1. Trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự của luật sư đối với việc giữ bí mật thông tin về khách hàng được xác định
ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Hoa Kỳ, Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Canada,…).
Riêng đối với quy tắc “Giữ bí mật thông tin”, cần quy định rõ trường hợp khách hàng đồng ý cho
luật sư tiết lộ thông tin thì phải thể hiện sự đồng ý đó bằng văn bản để phù hợp với quy định
pháp luật hiện hành. Ngoài ra, Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng cần nhanh chóng hoàn chỉnh và
cho ban hành Quy định về xử lý kỷ luật đối với Luật sư trong trường hợp luật sư vi phạm Quy tắc
đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, trong đó có sự vi phạm quy tắc “giữ bí mật thông tin”.
Thứ ba, đối với mỗi luật sư, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất cao quý của
luật sư, tuân thủ nghĩa vụ và quy tắc “giữ bí mật thông tin về khách hàng”. Đối với các thông tin
của khách hàng, luật sư cần bảo quản thận trọng, có các biện pháp kỹ thuật bảo mật đối với
thông tin khách hàng, thực hiện lưu trữ nghiêm túc. Để tránh rủi ro và loại trừ trách nhiệm cho
mình, tốt hơn hết luật sư nên có thỏa thuận cụ thể với khách hàng về việc giữ bí mật thông tin;
trong trường hợp muốn tiết lộ thông tin nào đó về khách hàng của mình, luật sư cần phải xin
phép khách hàng và phải được khách hàng đồng ý bằng văn bản./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Luật Luật sư năm 2006
Bộ luật Dân sự năm 2005
Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Pháp lệnh Luật sư năm 2001
Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987
Nghị định60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tư pháp
Quyết định số 356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
“Quy tắc mẫu đạo đức nghề nghiệp luật sư”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC