I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hoạt động thương mại ngày nay với sự hỗ trợ của nhiều yếu tố này càng phát
triển mạnh mẽ, tuy nhiên kéo theo đó là các tranh chấp thương mại cũng gia tăng.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, tồn tại 4 phương thức để giải quyết
tranh chấp thương mại cơ bản bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương
mại, tòa án. Ba hình thức thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại là các
phương thức giải quyết tranh chấp không mang ý chí quyền lực nhà nước. Trong
đó, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp được khá phổ biến
trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Tại Việt
Nam, tuy mới được hình thành nhưng phương thức này cũng được khuyến khích sử
dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh
nghiệp, Bộ luật Hàng hải v.v… Vai trò của việc giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài thương mại xuất phát từ những ưu điểm nổi bật của nó, đồng thời
bên cạnh đó, phương thức này không phải hoàn toàn không có nhược điểm. Cụ thể:
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Một số khái niệm liên quan:
+ Tranh chấp thương mại: có thể hiểu là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung
đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động
thương mại (Giáo trình Luật Thương Mại tập 2 - trang 432).
+ Trọng tài thương mại: Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật trọng tài
thương mại 2010 thì “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp
do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”.
2. Khái quát về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại:
Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức đó là trọng tài vụ việc và
trọng tài thường trực.
Trọng tài vụ việc:
- Khái niệm: Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp
thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự
chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp. Đây là hình thức trọng tài xuất
hiện sớm nhất, được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới. Pháp luật của các
nước trên thế giới đều ghi nhận sự tồn tại của hình thức trọng tài này. Tuy nhiên
nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham
gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.Mỗi trung tâm trọng tài là một pháp
nhân, tồn tại độc lập và bình đẳng với các trung tâm trọng tài khác. Ngoài sự độc
lập, bình đẳng và quan hệ hợp tác (nếu có), giữa các trung tâm trọng tài không tồn
tại quan hệ phụ thuộc cấp trên cấp dưới như hệ thống các cơ quan tài phán nhà
nước. Sự khác biệt này về tổ chức của trọng tài thương mại so với hệ thống tổ chức
của tòa án dẫn đến tính đặc thù của tố tụng trọng tài trong việc áp dụng nguyên tắc
xét xử một lần.
+ Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ.
Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên
của trung tâm. Ban điều hành của trung tâm trọng tài gồm có chủ tịch, một hoặc các
phó chủ tịch trung tâm trọng tài và có thể có tổng thư kí trung tâm trọng tài cho chủ
tịch trọng tài cử. Bên cạnh ban điều hành, trung tâm trọng tài còn có các trọng tài
viên trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài. Các trọng tài viên tham
gia vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chi định.
+ Thứ tư, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có
quy tắc tố tụng riêng. Mỗi trung tâm trọng tài tự xác định về lĩnh vực hoạt động của
mình tùy thuộc vào khả năng chuyên của đội ngũ trọng tài viên và được ghi rõ
trong điều lệ của trung tâm trọng tài. Trong quá trình hoạt động, các trung tâm
trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động nhưng phải
được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Thứ năm, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các
trọng tài viên của trung tâm. Mỗi trung tâm trọng tài đều có danh sách riêng về
trọng tài viên của trung tâm. Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia hội
đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất để giải quyết vụ tranh chấp chỉ được
giới hạn trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài. Vì vậy, hoạt động
xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính
trung tâm. Đặc điểm này có sự khác biệt so với giải quyết tranh chấp thương mại
Âu đã có 6 nước có tổ chức giám sát tố tụng trọng tài cho tranh chấp liên quan tới
cà phê, các tổ chức này thường không nằm tại thủ đô các nước (ở Bỉ là Phòng trọng
tài cà phê Antwerp; ở Italia có Phòng trọng tài cà phê Italia ở Genoa và Phòng
trọng tài Trieste, v.v...).
Đối với Việt Nam, hiện nay hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thương mại ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Theo báo cáo của trung tâm Trọng
tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
( VIAC) thì riêng trong năm 2004, Trung tâm này đã thụ lý 26 vụ kiện, tăng 85,7%
so với năm 2003 (14 vụ), tăng 62,5% so với năm 2002 (16 vụ), tăng 85,7% so với
năm 2001 (14 vụ)… Trong đó, số vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài là 18 vụ
(chiếm 69%), còn lại 8 vụ tranh chấp trong nước, kể cả tranh chấp trong công ty
liên doanh (chiếm 31%). Điểm đáng lưu ý là so với năm 2003 và các năm trước, số
vụ tranh chấp được đưa ra tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đã có sự tăng
đều cả về các tranh chấp có yếu tố nước ngoài và tranh chấp trong nước. Số vụ
tranh chấp trong nước đã chiếm tới 31%, trong khi những năm trước con số này chỉ
khoảng dưới 10%. Những năm gần đây, các vụ việc trung tâm thụ lý không quá 30
vụ/ năm. Thống kê cho thấy, kể từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài
quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm.
Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết một số lượng vụ
việc tương đối lớn. Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành, nhưng trọng tài cũng
được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật
Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải... Hiện nay, Việt Nam đã có Luật
Trọng tài thương mại 2010 là văn bản quy định khá chi tiết về trọng tài, trình tự
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên, theo như nhận định của Trung tâm
thì những con số trên vẫn không phải là nhiều nếu so với các nước trong khu vực,
chưa tương xứng với số lượng các giao dịch thương mại đang diễn ra tại Việt
Nam . Tại cuộc Hội thảo Quốc tế về Luật Trọng tài thương mại, ông Vũ Ánh
Dương - Phó Tổng Thư ký Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho biết, mỗi
Có rất nhiều lý do để các bên có thể lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp
bằng Trọng tài thương mại mà không muốn đưa vụ việc ra Tòa án sau khi không
thể giải quyết bằng việc thương lượng, hòa giải. So với phương thức giải quyết
bằng Trọng tài, việc đưa vụ việc ra Tòa án thực sự là giải pháp cuối cùng, mà các
bên phải cân nhắc khi biết những phức tạp thực tế từ việc giải quyết tranh chấp tại
Tòa án (như là thủ tục kéo dài với nhiều cấp xét xử, sự công khai trong quá trình
xét xử công khai và tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc cho các bên). Đồng thời khi
đó, quan hệ giao thương giữa các đối tác khó có thể gắn kết lại như lúc ban đầu.
Trong khi đó, với việc Chính phủ từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý và
sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường đến các Trung tâm Trọng tài, về lý thuyết
sẽ mang lại các thuận lợi đó là: giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác, ít
ảnh hưởng đến bí mật và uy tín kinh doanh, chi phí thấp hơn Tòa án và việc không
đại diện cho quyền lực tư pháp nên rất thích hợp để giải quyết các tranh chấp có
yếu tố nước ngoài.Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương
mại có những ưu điểm vượt trội so với giải quyết tranh chấp tại toà án. Cụ thể
những ưu
điểm đó là:
Đề cao ý chí tự do thoả thuận của các bên tranh chấp. Ngay từ đầu, sự thỏa
thuận của các bên là yêu cầu bắt buộc để vụ việc được giải quyết tại trọng tài, hay
nói cách khác, quyền hạn của hội đồng trọng tài trong các bên tranh chấp là do các
bên trao cho họ. Các bên thỏa thuận chọn trung tâm trọng tài nào và hình thức
trọng tài nào thì chỉ có trung tâm trọng tài và hình thức trọng tài đó có thẩm quyền
giải quyết. Việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
đảm bảo tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện trong quá trình giải
quyết. Khi xét xử, hình thức trọng tài thương mại cho phép các bên được sử dụng
kinh nghiệm của các chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền chọn Trọng tài
viên của các bên. Các bên có thể chọn một Hội đồng Trọng tài dựa trên trình độ,
năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các
do đó, thủ tục tố tụng quy định đơn giản, thuận tiện và linh hoạt là một trong
những ưu điểm nổi bật. Đối với trọng tài vụ việc, quy tắc tố tụng để giải quyết vụ
tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng. Tuy nhiên, để tránh lãng phí
thời gian cũng như công sức đầu tư vào việc xây dựng quy tắc tố tụng, các bên
tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào, mà
thông thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước
và quốc tế. Đối với trọng tài thường trực, quy tắc tố tụng cũng là yếu tố tạo ra sự
hấp dẫn của mỗi trung tâm trọng tài trước các khách hàng. Do đó, mỗi trung tâm
trọng tài đều có quy tắc tố tụng riêng được xây dựng nhằm đảm bảo hoạt động tố
tụng của trung tâm nhanh gọn, đơn giản, thuận tiện và không trái với quy định của
pháp luật. Vì vậy, giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài
thương mại thường được tiến hành nhanh chóng và dứt điểm. Với tư cách là một tổ
chức phi chính phủ, trọng tài thương mại không có cơ quan cấp trên nên phán quyết
của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm như bản án sơ thẩm của tòa án và cũng không có thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm. Tố tụng trọng tài chỉ có một trình tự giải quyết, tức là tranh chấp trọng tài
chỉ được giải quyết một lần tại trọng tài. Do đó, hoạt động xét xử của Trọng tài
được tiến hành liên tục nên tiết kiệm được thời gian, chi phí và tiền bạc cho doanh
nghiệp. Trong khi đó giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thường rất khó đạt được
điều này bởi Tòa án phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, do đó tình trạng
án tồn đọng là điều không thể tránh khỏi. Hơn nữa, thủ tục giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh, thương mại tại tòa án được quy định rất chặt chẽ, nghiêm ngặt,
với nhiều công đoạn, mất khá nhiều thời gian. Cụ thể gồm có: Thủ tục giải quyết vụ
án tại tòa án sơ thẩm bao gồm : khởi kiện và thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét
xử; phiên tòa sơ thẩm; thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm; thủ tục xét lại
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm: thủ tục giám đốc thẩm và thủ
tục tái thẩm.
Xuất phát từ tính trung lập, vô tư khách quan và tính chuyên nghiệp của
Trọng tài của các quốc gia đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín nếu các bên
không có thỏa thuận khác. Đây là một ưu điểm quan trọng bởi các doanh nghiệp
không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị đem ra công khai trước Tòa án, điều
mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình. Vì
trong quá trình kinh doanh, bí quyết kinh doanh là yếu tố quan trọng nhất là những
lĩnh vực sở hữu trí tuệ, công nghệ cao, nếu giải quyết tại tòa án sẽ có nguy cơ bị lộ
bí mật. Đồng thời nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp
ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó, có ý nghĩa lớn trong điều
kiện cạnh tranh khốc liệt trên thương trường.
Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục
nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định trọng
tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của toà án. Tuy
nhiên, tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi
hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì vẫn có
thể kiện ra toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án. Do đó, tạo điều kiện để
đảm bảo tốt các quyền lợi cho các bên trong vụ tranh chấp.
Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng
hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những
vấn đề nhạy cảm. Trong khi đó, toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng
buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm
sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp
lý”.
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà
khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ
hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện; việc
xét xử tranh chấp bằng Trọng tài trên thực tế đã làm giảm đáng kể mức độ xung
đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian kín, nhẹ
nhàng, mang nặng tính trao đối đề tìm ra sự thật khách quan của vụ/việc. Đó chính
là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện
minh việc áp dụng các biện pháp đó là cần thiết và phải chịu trách nhiệm về yêu
cầu của mình. Như vậy, quá trình kê biên theo trình tự này có thể kéo dài, không
đảm bảo phong tỏa tài sản kịp thời để phòng ngừa việc tẩu tán tài sản. Tuy nhiên,
trong quy định tại Điều 48, 49 của Luật trọng tài thương mại thì các bên tranh chấp
có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan. Như
vậy, theo quy định mới của pháp luật thì nhược điểm trên của việc giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại hiện nay đã được giải quyết. Tuy nhiên, trước khi
có luật trọng tài thương mại năm 2010 thì đây cũng là một trong những yếu tố
khiến các bên tranh chấp còn e ngại.
Thứ hai, phán quyết của trọng tài, tuy là chung thẩm, nhưng bên không
đồng ý với quyết định của trọng tài có quyền làm đơn gửi tòa án cấp tỉnh nơi hội
đồng trọng tài đã ra quyết định trọng tài yêu cầu hủy quyết định trọng. Trên cơ sở
đơn yêu cầu đó, Tòa án có quyền ra quyết định hủy hoặc không hủy quyết định
trọng tài. Do đó, phán quyết của trọng tài nhiều lúc làm cho bên “thắng kiện”
không yên tâm. Điều này dẫn đến thực trạng nhiều khi các bên trong tranh chấp
quyết định đến thẳng tòa án để giải quyết thay vì tìm tới trọng tài thương mại.
Thứ ba, sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp chủ yếu phụ
thuộc vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên tranh chấp; việc thực thi các kết
quả đạt được trong quá trình giải quyết tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự
nguyện thi hành của bên có nghĩa vụ phải thi hành. Phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài có cơ chế pháp lý đảm bảo thi hành nhưng việc thực thi thường
phức tạp, tốn kém.
4.2. Ưu điểm và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thương mại trong từng hình thức trọng tài cụ thể:
Hình thức trọng tài vụ việc (trọng tài adhoc):
Ưu điểm:
+ Ưu điểm cơ bản của hình thức Trọng tài vụ việc đó là quyền tự định đoạt
Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được sự ủng hộ và trợ giúp đặc
biệt từ một tổ chức trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện không
dự kiến trước và trong trường hợp các Trọng tài viên không thể giải quyết được vụ
việc. Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là từ các Tòa án.
Do vậy, chỉ khi có tồn tại một Hội đồng Trọng tài và một quy tắc tố tụng cụ
thể được xác lập thì quá trình tố tụng mới có thể tiến hành được suôn sẻ như Trọng
tài quy chế trong trường hợp một bên từ chối không tham gia vào quá trình tố tụng.
Hình thức trọng tài thường trực:
Ưu điểm:
Việc quy định chi tiết các thủ tục tố tụng khi bắt đầu cho đến khi kết thúc là
thuận lợi lớn nhất của Trọng tài thường trực. Chẳng hạn, khi các bên thỏa thuận
trọng tài sẽ được tiến hành bởi một Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên
nhưng Bị đơn lại không tiến hành chỉ định Trọng tài viên. Trong trường hợp đó,
quy tắc tố tụng trọng tài sẽ quy định cụ thể về việc chỉ định Trọng tài viên cho bị
đơn. Theo Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC, nếu Bị đơn không tiến hành chỉ định
Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu chỉ định Trọng
tài viên thì Chủ tịch Trung tâm sẽ chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn.
Ngoài ra, các quy tắc tố tụng của các tổ chức trọng tài thường quy định rất chi
tiết về các bước của quá trình tố tụng, đảm bảo trong mọi trường hợp tranh chấp sẽ
được giải quyết, không phụ thuộc vào việc một bên có tham gia vào quá trình tố
tụng trọng tài hay không. Theo Quy tắc của ICC: “Nếu một trong các bên, mặc dù
đã được thông báo hợp lệ, nhưng không tham dự, thì Trọng tài viên, nếu thấy rằng
việc gửi thông báo đã được tiến hành hợp lệ mà bên nhận được thông báo vắng
mặt không có lý do chính đáng, thì trọng tài vẫn có quyền tiếp tục các bước tố
tụng, và quá trình tố tụng tố vẫn được coi là được tiến hành với sự có mặt của các
bên”. Như vậy, trong trường hợp một bên không có thiện chí tham gia tố tụng trọng
tài thì các quy định trên là rất cần thiết.
Ưu điểm thứ hai đó là hầu hết các tổ chức trọng tài đều có những chuyên gia
được đào tạo tốt để hỗ trợ quá trình trọng tài. Các chuyên viên này sẽ đảm bảo Hội
đồng Trọng tài sẽ được thành lập, các khoản phí trọng tài sẽ được nộp đủ, đôn đốc
lý thuận lợi trong việc giải quyết tranh chấp, đảm bảo an toàn trong hoạt động
thương mại.