trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng – và một số bàn luận về lỗi - Pdf 34

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Một số khái quát về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
1.1 Khái niệm về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
BTTH còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại. Ở nước ta trước đây thì
có thể tìm thấy trách nhiệm này trong các Bộ luật cổ như Luật Hồng Đức và
Luật Gia Long. Tại đây thì các quy định về trách nhiệm dân sự theo hình thức
tương tự nhưng không quy định riêng về trách nhiệm dân sự mà nằm trong các
quy định vừa mang tính chất hình phạt của hình sự vừa mang tính chất dân sự
theo hướng có lợi cho người bị thiêt hại như một khoản bồi thường. Mức độ bồi
thường thì phụ thuộc vào nhân thân người gây thiệt hại.
Các hình thức bồi thường xưa thường theo đúng nguyên tắc “ nợ máu phải trả
bằng máu” như ở trong Điều 466 BL Hồng Đức “ Sưng phù thì phải đền tiền
thương tổn 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy một ngón tay, một răng thì đền
10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan. Đọa thai chưa thành niên thì 30
quan, đã thành hình thì 50 quan, gãy một chân một tay, mù một mắt thì 50 quan,
đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan. Về người quyền quí thì phải
xử khác”. Bước phát triển tiếp theo của chế định bồi thường thiệt hại đánh dấu
bằng sự can thiệp mạnh mẽ hơn của Nhà nước bằng cách dự liệu những chế tài
về hình sự để trừng phạt những kẻ nào xâm phạm đến tài sản và nhân thân kẻ
khác. Ngoài việc phải chịu hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường thiệt hại
cho nạn nhân những thiệt hại mà họ đã gây ra. Vì mang tính chất hình phạt nên
số tiền bồi thường được ấn định gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần thiệt hại thực tế
xảy ra.
Với sự phát triển của nền kinh tế, các chế định pháp luật cũng dần thay đổi
trách nhiệm BTTH không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận
của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi
tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Như vậy, trong trường hợp này nhà làm
luật đã đồng nghĩa trách nhiệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
với nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật. Trách nhiệm BTTH làm phát
1


2


BTTH có sự khác nhau giữa trách nhiệm BTTH hại hành vi gây ra và do tài sản
gây ra.
a. Có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại là những tổn thất về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự… do bị
một chủ thể khác xâm phạm. Với trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra thì thiệt
hại do tài sản gây ra chứ không phải do một chủ thể khác gây ra. Trong trách
nhiệm dân sự khi có thiệt hại xảy ra dù có nghiêm trọng hay không thì đều phải
bồi thường. Khoản 1 Điều 307 BLDS có quy định về trách nhiệm BTTH “ Trách
nhiệm BTTH bao gồm trách nhiệm BTTH về vật chất, trách nhiệm BTTH bù
đắp tổn thất tinh thần”, như vậy thiệt hại xảy ra có thiệt hại về vật chất; tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm uy tín; và thiệt hại về tinh thần. Việc xác
định thiệt hại cần chú ý:
- Thiệt hại phải được tính toán một cách cụ thể, không được suy diễn theo ý
chủ quan
- Thiệt hại có thể bao gồm thiệt hại trực tiếp nhưng cũng có thể có thiệt hại
gián tiếp.
b.Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một
quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Khoản 1 Điều 604 BLDS quy định
“Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh
dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường”. Tuy nhiên, trong trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra thì điều kiện này
không có mà thay vào đó là có sự kiện gây thiệt hại, khi có sự kiện này đã là
một trong số các điều kiện để xác định trách nhiệm BTTH
Hành vi gây thiệt hại có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không
hành động. Thông thường thì nó được thể hiện dưới dạng hành động. Hành vi

nội tâm của con người, diễn biến phức tạp và chi phối trực tiếp hành động của
con người. Lỗi được xem là thước đo của trách nhiệm dân sự, biểu hiện thái độ
và mức độ tiêu cực chống đối xã hội của chủ thể. Hành vi của 1 cá nhân là biểu
4


lộ tâm lí của người đó trong một hoàn cảnh không gian và thời gian nhất định.
Việc xác định lỗi của chủ thể gây ra thiệt hại có ý nghĩa quan trọng trong việc
xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Lỗi thuộc mặt chủ quan bên trong
của chủ thể vi phạm. Hoạt động tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm bao gồm
nhiều nội dung khác nhau: động cơ, mục đích, lỗi của chủ thể. Nhưng với trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì chỉ đặt ra vấn đề lỗi để xem xét là chủ yếu.
Trước khi là một khái niệm pháp lý thì lỗi là một khái niệm tôn giáo và đạo
đức. Học thuyết Planol định nghĩa “ Lỗi như là một sự vi phạm nghĩa vụ đã tồn
tại”. Định nghĩa này quá hẹp vì thực ra lỗi hoàn toàn có thể tồn tại ngoài một
nghĩa vụ đã có trước, chứ không đơn giản chỉ có lỗi khi không hoàn thành một
nghĩa vụ. Một định nghĩa khác về lỗi do Mazand và Chabas đưa ra “ Lỗi là một
sai lầm về ứng xử, mà nếu một người khác ở vào hoàn cảnh đó sẽ không mắc
phải”. Như vậy, thì một hành vi gây thiệt hịa cho xã hội sẽ bị coi là có lỗi nếu
hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi chủ
thể có điều kiện khách quan và chủ quan để tự do lựa chọn và quyết định một
xử sự khác phù hợp với các yêu cầy, lợi ích xã hội, nhà nước và các chủ thể
khác. Nhưng vì chủ thể đã lựa chọn và thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội
nên chủ thể đó sẽ bị coi là có lỗi trong hành vi gây thiệt hại của mình.
Khi đề cập tới vấn đề lỗi, người có hành vi có lỗi bao giờ cũng phải chịu hậu
quả bất lợi về tài sản hoặc về nhân thân hoặc cả tài sản và nhân thân. Các học
giả luật học có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định yếu tố lỗi trong
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Về mặt hình thức, lỗi được thể hiện dưới
hai yếu tố là lý trí và ý chí. Trong đó, lý trí thể hiện năng lực nhận thức thực tại
khách quan, còn ý chí biểu hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự

Mức độ thể hiện ý chí – hành vi của người có cố ý gây thiệt hại trong
trường hợp người đó nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người
khác mà vẫn thực hiện, thì phải chịu trách nhiệm dân sự do lỗi cố ý là nguyên
nhân của thiệt hại. Theo nội dung của khoản 2 Điều 308 BLDS thì cần thiết phải
làm rõ những quan hệ và yếu tố có liên quan đến phạm vi lỗi của người gây thiệt
hại. Một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác
mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng có để mặc cho
6


hậu quả xảy ra thì thì lỗi của người gây thiệt hại là lỗi cố ý. Những yếu tố liên
quan đến hình thức lỗi cố ý gây thiệt hại được thể hiện những mức độ khác
nhau, do biểu lộ ý chí của chủ thể đã là yếu tố quyết định hình thức lỗi. Mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi có ý thức của người gây thiệt hại với trong tâm
thức của người đó mong muốn thiệt hại xảy ra cho là người khác đã làm phát
sinh trách nhiệm dân sự của người đó. Hành vi do lỗi cố ý gây thiệt hại có ba
dấu hiệu sau: nhận thức của người gây thiệt hại; hành vi trái pháp luật và thiệt
hại mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu
quả xảy ra. Trong đó, từ nhận thức của người gây thiệt hại làm phát sinh hành vi
trái pháp luật. Và do đó, hậu quả xảy ra là thiệt hại xảy ra hoặc để mặc cho hậu
quả xảy ra. Ba yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, nếu thiếu một trong ba
yếu tố trên thì không thể xác định lỗi cố ý gây thiệt hại ngoài hợp đồng
Lỗi “vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của
mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại
sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho
rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”. Người gây thiệt hại
đã không mong muốn, không để mặc cho thiệt hại xảy ra mà là do không kiểm
soát được diễn biến của sự kiện do hành vi vô ý của mình tạo ra thì người có
hành vi đó phải bồi thường. Trong luật hình sự Lỗi vô ý được chia thành hai loại
là: Vô ý do cẩu thả và vô ý do quá tự tin. Trong luật dân sự thì không cần thiết

còn có rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Có quan điểm cho rằng phải xem
xét lỗi, lỗi bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu, có quan điểm lại cho rằng không
cần phải xác định phải yếu tố lỗi trong trường hợp này. Tuy nhiên, cả hai quan
điểm trên vẫn chưa chính xác. Nếu tìm hiểu về đặc điểm của từng trường hợp
gây thiệt hại do tài sản gây ra thì chỉ ngoài lỗi trong trách nhiệm BTTH do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là không cần xem xét yếu tố lỗi còn các trường
hợp khác thì vẫn phải xem xét yếu tố lỗi một cách khách quan, chính xác để đảm
bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại.
2.2. Ý nghĩa của việc phân chia lỗi thành lỗi lỗi vô ý và lỗi cố ý trong trách
nhiệm pháp lý nói chung và trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói
riêng.
8


Vấn đề lỗi trong luật dân sự được giải quyết khác với lỗi trong luật hình sự.
Trong luật hình sự, mức độ lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh và
quyết định mức hình phạt nên bắt buộc phải có sự phân biệt chi tiết các mức độ
khác nhau của hình thức lỗi.Trong luật dân sự, thì dù có lỗi cố ý hay vô ý đều
phải chịu trách nhiệm BTTH . Thậm chí trong một số trường hợp dù không có
lỗi cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường, nếu pháp luật có quy định. Khoản 2
Điều 604 BLDS “ Trong trường hợp pháp luật có quy định người gây thiệt hại
phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”.
Việc phân biệt lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi
thường thuộc về ai. Ví dụ trong trường hợp lỗi hoàn toàn thuộc về người bị thiệt
hại thì không đặt ra vấn đề BTTH cho người gây ra thiệt hại. Ngoài ra, việc phân
biệt lỗi còn có ý nghĩa trong trường hợp giảm mức BTTH tại khoản 2 Điều 605
“Người gây thiệt hại có thể được giảm mức BTTH, nếu do lỗi vô ý mà gây
thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”
Qua nghiên cứu thực tiễn về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có nhiều ý
kiến khác nhau trong việc phân biệt mức độ lỗi, chẳng hạn có ý kiến nêu lên: cần

sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi tạo ra sự kiện đó. Một sự kiện
pháp lý có đủ ba yếu tố sau thì được coi là sự kiện bất ngờ: hành vi gây thiệt hại,
thiệt hại, không thuộc hành vi trách pháp luật, người gây thiệt hại không có lỗi.
Mối liên hệ giữa các yếu tố trên không thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự
ngoài hợp đồng do thiếu yếu tố lỗi của người gây thiệt hại và hành vi gây thiệt
hại không phải là hành vi trái pháp luật. Không có mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi trái pháp luật và thiệt hại. Nói cách khác, người có hành vi liên quan đến
thiệt hại không phải là người gây thiệt hại do nhận thức rõ hành vi của mình sẽ
gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, đồng thời người có hành vi đó
không thể hiện ý chí mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho
thiệt hại xảy ra. Như vậy, người có hành vi thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ
thì hành vi của người đó không có lỗi tồn tại ở hình thức này hay hình thức
khác, ở mức độ này hay mức độ khác. Theo quy định của pháp luật thì người
có hành vi đó không chịu trách nhiệm dân sự.
2.3.2 Lỗi trong trách nhiệm BTTH do vượt quá giới hạn của phòng vệ
10


chính đáng và vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
Điều 613 BLDS có quy định về trách nhiệm BTTH do vượt quá giới hạn của
phòng vệ chính đáng
1. Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi
thường cho người bị thiệt hại
2. Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng thì phải
bồi thường cho người bị thiệt hại.
Trước tiên cần phải hiểu được khái niệm phòng vệ chính đáng là gì? Theo
Điều 15 của BLHS năm 1999 là “hành vi của người vì muốn bảo vệ…. mà
chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm tới các lợi ích
nói trên”. Vậy vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là “ hành vi chống trả rõ
ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho

và nguy có đó phải có thực, tức là phải đang bắt đầu, đang diễn ra và chưa
kết thúc
- Nguy cơ đang đe dọa lợi ích hợp pháp, tức là lợi ích được này phải được
pháp luật bảo vệ
- Việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là cần thiết để ngăn chặn nguy cơ
thực tế đang đe dọa. Thiệt hại xảy ra ở đây phải là thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại
đang thực tế xâm phạm tới các khách thể cần được pháp luật bảo vệ.
Trong trường hợp người gây ra thiệt hại đánh giá sai lầm về hậu quả và thiệt hại
sẽ xảy ra của hành vi trong tình thế cấp thiết nên đã gây ra một thiệt hại lớn hơn
thiệt hại cần ngăn ngừa thì phải có trách nhiệm BTTH. Lỗi ở đây được xác
định là lỗi đối với phần vượt quá nên họ chỉ phải BTTH phần vượt quá của
mình.
Ví dụ: A, B, C, D là bốn nhà ở gần nhau. Khi đó A đi vắng và nhà A bị cháy có
khả năng lan sang nhà B gây hỏa hoạn. Trước tình thế đó, thì D đã vào để dập
đám cháy. Thực tế thì chỉ cần phá nhà B để ngăn chặn đám cháy nhà A là được.
Thế nhưng do thù tức với nhà C, nên khi đám cháy gần được dập tắt D viện cớ
nó vẫn có khả năng lan sang nhà mình nên đã phá luôn nhà của C để dập đám
cháy.

12


Như vậy, lỗi ở đây là D đã cố tình đập luôn nhà của C do lấy lí do là đám cháy
có thể lan sang nhà mình. Mà thực tế thì không cần phải phá nhà của C mà chỉ
cần phá nhà của B là đủ. Do đó, lỗi trong trường hợp này là lỗi cố ý và D đã
vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, nên D vẫn phải có trách nhiệm BTTH
Khoản 3 Điều 614 BLDS quy định “người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn
đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người gây thiệt hại”. Lỗi trong
trường hợp này được xác định là người đó đã tạo ra “nguy cơ đe dọa gây
thiệt hại” cho các khách thể mà được pháp luật bảo vệ, do đó cũng cần phải

lỗi, mà lỗi hoàn toàn thuộc về phía người bị thiệt hại. Mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra luôn luôn xác định được trong một
thiệt hại cụ thể. Nhưng trách nhiệm pháp lý có phát sinh ở người có hành vi gây
thiệt hại hay không còn tùy thuộc vào sự kiện xảy ra hoàn toàn hay không hoàn
toàn do lỗi của người bị thiệt hại để có cơ sở quy trách nhiệm dân sự cho người
có hành vi gây thiệt hại. Nếu người gây thiệt hại và người bị thiệt hại có cùng lỗi
gây ra thiệt hại, thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ
lỗi của mình.
Thứ hai: Trong BLDS năm 2005 không có điều luật nào quy định về mức độ
lỗi mà chỉ quy định tại Điều 308 với hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Việc áp
dụng Điều 617 BLDS trong việc giải quyết trách nhiệm dân sự hỗn hợp được
dựa trên mức độ lỗi như thế nào? Lỗi không tự nó có vị trí độc lập với các yếu tố
khác trong việc xác định TNDS ngoài hợp đồng. Hình thức lỗi cũng không phải
là không thể xác định. Theo nguyên tắc chung của TNDS ngoài hợp đồng thì
hình thức lỗi nếu xét về người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại không ảnh
hưởng tới mức độ và trách nhiệm bồi thường của người đó. Người gây thiệt hại
dù có lỗi cố ý hay vô ý khi gây thiệt hại cho người khác thì người đó cũng phải
bồi thường toàn bộ do hành vi có lỗi của mình gây ra.
Ví dụ: A là một thanh niên thích đua xe máy. Tối hôm dó, do đường vắng nên
A đã phóng xe rất nhanh để “tập luyện”. Đến đoạn đường có một số người
đang đi dạo trên đường, A đã không làm chủ được tay lái của mình nên đã
phanh xe gấp kẻo đâm phải chị B. A bị thương khá nặng, bị chấn thương nặng ở
đầu và còn bị gãy chân.
14


Ta thấy, lỗi ở đây hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại – A. Do A đã không
cẩn thận khi tham gia giao thông, đến đoạn đường có người qua lại mà vẫn
phóng nhanh. Chị B đã hoàn toàn không có lỗi trong việc xảy ra thiệt hại cho
anh A, vì thế nên trách nhiệm BTTH trong tình huống này không đặt ra cho chị

Nếu người của thành viên đó có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại mà pháp nhân
đó đã bồi thường thì có trách nhiệm hoàn trả một khoản tiền cho pháp nhân chứ
không quy định hoàn tả toàn bộ số tiền mà pháp nhân đã đứng ra bồi thường
Việc xác định trách nhiệm BTTH do người của pháp nhân gây ra cần chú ý một
số điểm sau:
- Chủ thể phải bồi thường là pháp nhân, do đó cần xác định rõ tư cách pháp
nhân theo quy định tại Điều 84 BLDS, đó là các điều kiện “ được thành lập
hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ
chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia
các quan hệ pháp luật một cách độc lập”
- “người của mình” theo quy định tại Điều 618 BLDS được hiểu là bất cứ
thành viên nào pháp nhân. Thành viên này có thể được pháp nhân tuyển
dụng vào làm việc theo các quan hệ hợp đồng dài hạn, ngắn hạn…
- Thiệt hại do thành viên của pháp nhân gây ra theo đó pháp nhân phải bồi
thường cho người bị thiệt hại là liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ mà pháp
nhân giao cho thành viên đó thực hiện
Ví dụ: anh A là nhân viên chính thức của một cơ quan X, anh A được giao
nhiệm vụ chở lô hàng lụa tơ tằm tới cho một công ty Y. Trên đường đi, A hút
thuộc lá do không cẩn thận A đã để tàn thuốc làm cháy mất gần một nửa lô
hàng gây thiệt hại cho công ty Y do không có hàng kịp thời. Thiệt hại là
10.000.000 (đồng).
Trong tình huống trên thì A đã được giao nhiệm vụ chở hàng tới cho công ty Y,
nhưng đã để thiệt hại xảy ra. Ở đây A có lỗi vô ý do A đã không thấy trước hành
vi cỉa mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù A phải biết được thiệt hại sẽ xảy
ra nhưng lại cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH
lại do cơ quan X, theo Điều 618 BLDS.

16





ra thiệt hại, vì thế nên nhà trường sẽ phải BTTH nếu nhà trường có lỗi trong
quản lý. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người dưới mười lăm tuổi
gây ra thiệt hại khi đang trong thời gian học tại trường học thì trường học cũng
phải bồi thường, nên tại khoản 3 Điều này đã quy định cụ thể, nếu lỗi không
thuộc về nhà trường thì trách nhiệm BTTH lại được xác định thuộc về cha, mẹ
hoặc người giám hộ.
Ví dụ: A 12 tuổi đang là học sinh lớp 6 của trường Y. Hôm đó, khi đang trong
tiết học A có mâu thuẫn với B và đã dùng thước sắt đánh mạnh vào đầu của B
làm B bị thương khá nặng, qua kết quả khám nghiệm thì thấy B bị chấn thương
và phải nằm viện điều trị hết 5.000.000 đồng.
Tình huống này thuộc trách nhiệm BTTH do người dưới mười lăm tuổi gây ra
trong thời gian đang học tại trường. A là người có lỗi trong việc gây ra hậu quả
của mình hay nói cách khác A đã có lỗi với hành vi dùng thước sắt đánh vào đầu
B làm B bị chấn thương. Tuy nhiên, ở đây cũng xuất hiện lỗi của nhà trường
trong việc để xảy ra thiệt hại trên. Nhưng đó là lỗi trong việc quản lý lớp học,
quản lý A. Căn cứ vào Điều 621 BLDS thì trách nhiệm BTTH thuộc về nhà
trường
2.3.6 Lỗi trong trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Đây là loại trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra như đã nói ở phần điều kiện
phát sinh trách nhiệm BTTH. Điều 623 BLDS có quy định về trách nhiệm
BTTH. Tuy nhiên, trong các loại trách nhiệm dân sự có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là loại trách nhiệm
không cần đến điều kiện lỗi. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ hoặc người
chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại mặc dù không thể
hiện hành vi gây thiệt hại nhưng có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật phát sinh.
Ví dụ: A đang lái một chiếc ô tô vận tải trở hàng gỗ. Chiếc xe vẫn thường
xuyên được mang ra đại lý để bảo dưỡng và kiểm tra. Hôm đó, trước khi đi A
cũng đã kiểm tra toàn bộ hệ thống phanh, lốp thấy không có vấn đề gì cả. Đang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status