Bài làm
Lời mở đầu
Phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu
ngày 14 tháng 06 năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006)
và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03 tháng 06 năm 2008. Luật
thuế xuất khẩu, nhập khẩu và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời đã
góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện hơn pháp luật thuế và tăng
cường phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, đảm bảo ngân sách nhà
nước.
Xét trên bình diện lý thuyết, mặc dù chính sách thuế xuất nhẩu,
nhập khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn phản ánh ý chí chủ quan
của đảng cầm quyền và nhà nước cai trị nhưng mảng chính sách, pháp
luật này luôn bị chi phối và ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Vậy
những yếu tố nào ảnh hưởng việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu và
ảnh hưởng như thế nào? Làm gì để thực thi tốt pháp luật thuế doanh
nghiệp? Để trả lời những câu hỏi trên, em xin được chọn đề tài “Phân
tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập
khẩu và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế thu
nhập doanh nghiệp” cho bài luận của mình.
Nội dung
I. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập
khẩu.
1. Khái niệm và vai trò của thuế nhập khẩu.
1.1. Khái niệm.
Pháp luật thuế nhập khẩu nắm trong cấu trúc hệ thống pháp luật
thuế ở các quốc gia nói chung và nước ta nói riêng. Thuế nhập khẩu có
vai trò quan trọng, cụ thể: nó có vai trò là tạo nguồn thu cho ngân sách
nhà nước, là công cụ hữu hiệu trong tay nhà nước để kiểm soát hoạt động
nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực
trọng, góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho
việc phát triển lâu dài. Hơn nữa, đây lại là một loại thuế dễ thu nhất, ít bị
phản ứng thuế trong nước và được sự ủng hộ của nhiều nước.
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập
khẩu ở Việt Nam hiện nay.
Việc thực thi luật thuế nhập khẩu trên thực tế chịu sự tác động của
rất nhiều các yếu tố khác nhau, cả những yếu tố chủ quan và yếu tố khách
quan như: tình hình phát triển của nền kinh tế, chính trị quốc tế cũng như
của quốc gia; sự ảnh hưởng của các chính sách kinh tế của quốc gia, trình
độ lập pháp, các cam kết quốc tế mà Việt Nam gia nhập, chức năng của
các cơ quan, tổ chức thu thuế, ý thức của người nộp thuế,…Cụ thể, chúng
ta sẽ đi tìm hiểu từng yếu tố.
a, Yếu tố về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và
quốc tế.
Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế ở một thời
kỳ nhất định là yếu tố có ảnh hưởng mang tính quyết định đến nội dung
chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và nội dung pháp luật thực
định về thuế xuất nhập khẩu trong giai đoạn đó. Điều này hoàn toàn dễ
hiểu, bởi lẽ suy cho cùng chính sách và pháp luật về thuế xuất nhập khẩu
chỉ là tấm gương phản chiếu thực trạng tình hình kinh tế và xã hội trong
nước và quốc tế. Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích
chung của quốc gia và lợi ích riêng của từng doanh nghiệp, từng cá nhân
2
và hộ gia đình, chính sách thuế xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ có thể
sẽ được xây dựng và thực hiện theo hướng thiên về mục tiêu bảo hộ; mục
tiêu tăng thu ngân sách và mục tiêu tự do hóa thương mại.
Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự tác động
hoàn toàn. Song, cần phải nhận thức thuế nhập khẩu vẫn có những tác
động đáng kể, nhất là đối với các nước đang trên con đường phát triển
như Việt Nam.
b, Yếu tố về xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế.
Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng quan
trọng đến nội dung, chính sách thuế xuất nhập khẩu của một quốc gia
trong từng giai đoạn cụ thể. Đối với Việt Nam, những thay đổi lớn lao và
3
quan trọng trong chính sách thuế xuất nhập khẩu thực sự đã được khởi
động từ năm 1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế theo quy định của
AFTA) và gần đây nhất là những thay đổi trong chính sách thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa
Kỳ, nhằm thực hiện các cam kết giảm thuế theo Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định WTO. Hầu hết những thay đổi này đều
được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho các
chính sách đó trong thực tiễn.
b.1 Cam kết của Việt Nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Cùng với việc gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
và cam kết thực hiện lộ trình giảm thuế theo CEPT, Việt Nam cũng triển
khai tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng bằng việc ký kết Hiệp
định Việt Nam - Hoa Kỳ (13/7/2000) và bắt đầu có hiệu lực (10/12/2001).
Hiệp định này được ký kết dựa trên những nguyên tắc cơ bản của tổ chức
thương mại thế giới WTO nên có thể coi là khuôn mẫu pháp lý cần thiết,
hữu ích cho Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO trong
suốt thời gian qua. Với ý nghĩa là một cam kết thương mại song phương,
các chuẩn mức pháp lý của Hiệp định liên quan đến nhiều vấn đề khác
+ Về vấn đề định giá tính thuế hải quan đối với hàng hoá nhập
khẩu: Việt Nam và Hoa Kỳ cam kết trong vòng 2 năm kể từ ngày Hiệp
định có hiệu lực, việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá nhập
khẩu giữa 2 nước sẽ được thực hiện theo các tiêu chuẩn được thiết lập bởi
Hiệp định về định giá hải quan của WTO. Vấn đề này được quy định tại
điều 3.4 và điều 4.5 chương I Hiệp định.
+ Vấn đề cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu: Việt Nam cam kết sẽ
cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ
Hoa Kỳ sau 3 năm và một số hàng hoá khác là 6 năm kể từ ngày Hiệp
định có hiệu lực.
b.2 Cam kết của Việt Nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ
Hiệp định WTO
Theo Công bố toàn văn cam kết WTO thì lộ trình giảm thuế nhập
khẩu của Việt Nam để gia nhập WTO có thể tóm tắt như sau:
Mức cam kết chung: Ta đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ
biểu thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ
mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình trong 57 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành
23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong 5-7 năm. Với hàng công nghiệp
từ 16,8% xuống còn 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5-7 năm (xin
tham khảo Biểu 1 kèm theo báo cáo).
Mức cam kết cụ thể: Có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt
giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu,
nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu
xây dựng, ôtô - xe máy... vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định.
Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá
và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện điện tử. Ta đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với
nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất là phương tiện vận tải.
Ta cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo
ngành của WTO giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp. Đây là hiệp định tự
nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số
trường. Như vậy, việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết gia
nhập WTO sẽ đem lại cho doanh nghiệp Việt Nam những thuận
lợi đáng kể.
Thuế nhập khẩu giảm sẽ góp phần làm giảm đáng kể chi phí cho
nguồn nguyên liệu đầu vào của một số ngành sản xuất góp phần làm hạ giá
thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm hàng hoá trong nước.
Trong đó, các doanh nghiệp công nghiệp chủ yếu có nguyên liệu sản xuất
chính là nhập từ nước ngoài. Với việc giảm thuế nhập khẩu sẽ là những tín
hiệu đáng mừng cho các doanh nghiệp trong những ngành này. Bên cạnh đó,
việc giảm thuế nhập khẩu sẽ thu hẹp bảo hộ quá mức với các ngành đang có
mức thuế MFN cao. Mà khi hội nhập thì biện pháp bảo hộ duy nhất là thuế
nhập khẩu, việc cắt giảm như trên rõ ràng là một mất mát lớn với nhiều doanh
nghiệp sản xuất trong nước.
Ảnh hưởng của cam kết đối với nhà nước:
1
/>
6
Việc giảm thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của
ngân sách tuy nhiên nếu có sự quản lý tốt thì số thu từ hoạt động nhập
khẩu vẫn có thể tăng trưởng cao. Do đó, cần phải rà soát lại tất cả các mặt
hàng nhập khẩu.
Tuy chúng ta phải cắt giảm thuế nhiều mặt hàng, nhưng cũng có rất
nhiều mặt hàng có thể điều chỉnh thuế suất, hoặc chỉ cắt giảm theo lộ
trình, một số mặt hàng trước đây thuộc diện cấm nhập khẩu, nay không
cấm mà lại thu thuế rất cao như thuốc lá điếu…
Việc điều hành thuế nhập khẩu góp phần quan trọng trong việc bảo
hộ có chọn lọc các ngành hàng có khả năng cạnh tranh đầu tư, mở rộng
tăng tương ứng các nguồn thu từ sắc thuế nội địa.
d. Yếu tố về nhu cầu ngân sách của nhà nước.
7
Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có hệ thống pháp
luật thuế chưa phát triển, hơn nữa lịa đang trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước đang phát triển nên thuế nhập khẩu là nguồn
thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Khối lượng thuế nhập khẩu là
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ nguồn thu của nước ta. Với một
thực tế ở nước ta hiện nay là tốc độ nhập khẩu luôn tăng nhanh hơn tốc
độ phát triển kinh tế thì thuế nhập khẩu càng đóng vai trò quan trọng.
Ngoài những yếu tố trên thì ý thức của người nộp thuế cũng là một
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về thuế nhập
khẩu.
II. Một số đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế
thu nhập doanh nghiệp.
1. Khái niệm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp.
a. Khái niệm.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp
vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh hàng hóa, dịch vụ sau khi
đã trừ các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập
chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh.
b. Vai trò.
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp góp phần tạo nguồn thu cho
ngân sách nhà nước.
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ góp phần bao quát và điều
tiết được tất cả các khoản thu nhập đã và sẽ phát sinh của cơ sở kinh
doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường theo định hướng của Nhà
nước.
nhập doanh nghiệp ở nước ta xuất hiện muộn hơn so với các nước trong
khu vực và thế giới. Các yếu tố kinh tế thay đổi sẽ có tác động đến việc
thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Ví dụ: Có nhiều thu nhập
tương tự những thu nhập bị tính thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng chưa
được pháp luật quy định, nên các doanh nghiệp sẽ trốn thuế bằng cách áp
dụng các loại thu nhập này.
b. Yếu tố về hội nhập kinh tế.
Việc hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, trong đó Việt Nam đã
gia nhập WTO (tổ chức thương mại thế giới) đồng nghĩa với việc Việt
Nam phải tham gia và thực hiện một số cam kết, trong đó có các thể chế
pháp luật về thuế bao gồm cả về thuế thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể các
cam kết này liên quan đến một số vấn đề như: xác định nghĩa vụ thuế đối
với doanh nghiệp nước ngoài để đảm bảo quyền thu thuế của Việt Nam,
quy định về tránh đánh thuế hai lần. Điều này đặt ra đối với Việt Nam
những thách thức và khó khăn mới trong việc thực thi pháp luật thu nhập
doanh nghiệp đang tồn tại.
c. Yếu tố từ phía các cơ quan nhà nước
Dưới các tác động của kinh tế xã hội nêu trên, các cơ quan nhà
nước sẽ là người quyết định phương hướng thực thi cơ bản của pháp luật
thuế thu nhập doanh nghiệp. Yếu tố tác động từ các cơ quan Nhà nước có
thể xem là kim chỉ nam cho các hoạt động thực thi thuế tiêu thụ đặc biệt.
Nếu có các chủ trương và phương hướng phù hợp sẽ góp phần tích cực
tới việc thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trên thực tế. Và
ngược lại, cũng có thể làm cho việc thực thi thuế khó được thực hiện và
nếu được thực hiện cũng sẽ gặp phải sự phản đối lớn trong xã hội, dẫn tới
việc không thực thi được hoặc thực thi không đúng, không đủ. Các chính
sách này được quy định cụ thể trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
9
đãi), khó thực hiện (ưu đãi mở rộng sản xuất kinh doanh...)
- Thực hiện các cam kết quốc tế mà phía Việt nam đã tham gia, ký
kết : như vấn đề bỏ ưu đãi thuế với hàng hóa xuất khẩu, xử lý ưu đãi
thuế đối với hàng dệt may gia dày ...
- Từng bước nới rộng chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế
(chi phí tiếp thị quảng cáo khuyến mại ... của doanh nghiệp mới 15 %
trong 3 năm), quy định rõ ràng hơn các khoản chi phí không được trừ (31
khoản)
10
- Khuyển khích đổi mới công nghệ thông qua quy định cho trích
lập quỹ phát triển công nghệ trước thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Trong quá trình thực hiện , Bộ tài chính đã kịp thời xem xét,
nghiên cứu sửa đổi bổ sung Thông tư số 18/2011/TT- BTC ngày
10/2/2011. Thông tư này đã xử lý được nhiều vướng mắc, bất cập của
doanh nghiệp có tác dụng tăng tính khả thi, phù hợp với tình hình thực
tiễn của người nộp thuế.2
b. Hạn chế.
Bên cạnh những ưu điểm đạt được, Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp hiện hành vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế sau:
- Về thuế suất:
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25% hiện đang ở mức trung
bình so với trong khu vực (bằng Trung quốc) nhưng còn cao hơn một số
quốc gia, vùng lãnh thổ như Hongkong, Singapore...nên chưa thực sự tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp tích tụ vốn tái đầu tư mở rộng sản xuất
kinh doanh.
-Xác định doanh thu, chi phí được trừ, không được trừ làm cơ sở
tính thuế thu nhập doanh nghiệp chưa cụ thể, chưa đảm bảo tính thực thi,
nước; do giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp chính là tạo điều
kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy tái đầu
tư, đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh. Khi doanh nghiệp phát triển sẽ tạo ra nhiều hàng hóa, của cải vật
chất cho xã hội, tạo thêm nhiều lợi nhuận và thuế thu nhập nộp cho ngân
sách nhà nước cũng sẽ tăng thêm.
Thứ hai, xác định doanh thu, chi phí được trừ, không được trừ làm
cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp cần cụ thể hơn nhằm đảm bảo tính
thực thi. Thời điểm xác định doanh thu, xác định doanh thu trong một số
trường hợp cụ thể; các khoản chi phí được trừ chức được trừ cần rõ ràng
hơn rõ ràng. Luật cũng cần tính đến một số khoản chi phí thực tế cần thiết
cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khi tính thuế để tránh tình
trạng doanh nghiệp phải chịu thuế nhiều hơn.
Ví dụ: Cần xác định rõ thời điểm xác định doanh thu của doanh
nghiệp.
Điều 2 Mục III Thông tư 130 quy định:
“2 . Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác
định như sau:
2.1. Đối với hoạt động bán hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở
hữu, quyền sử dụng hàng hoá cho người mua.
2.2. Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng
dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ.
Trường hợp thời điểm lập hoá đơn xảy ra trước thời điểm dịch vụ hoàn
thành thì thời điểm xác định doanh thu được tính theo thời điểm lập hoá
đơn.”
Như vậy, theo quy định này thì chưa quy định: trường hợp thời
điểm lập hoá đơn xảy ra trước thời điểm chuyển giao quyền sở hữu,
quyền sử dụng hàng hoá cho người mua thì thời điểm xác định doanh thu
được tính theo thời điểm lập hoá đơn. Trong thực tế, nếu lập hợp đồng
trước thì chưa giao hàng vẫn phải xác định doanh thu tính thuế.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thuế Việt Nam, Nxb.
Công an, Hà Nội, 2008.
3. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005.
4. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008.
5. Nghị định 87/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
6. Nghị định của chính phủ số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm
2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
thuế thu nhập doanh nghiệp.
7. />8. />
14