Quyền định đoạt của người lập di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS)
2005
Lời mở đầu
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật, xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu
và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Mặt khác, quan hệ sở
hữu là quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã
hội, trong quá trình sản xuất lưu thông phân phối của cải vật chất. Sự chiếm hữu
vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với
tập đoàn người khác, đó là tiền đề đầu tiên để làm xuất hiện quan hệ thừa kế.
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật của
các quốc gia ghi nhận. Tuy vậy, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau sự quy định cũng
khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu trong xã hội đó. Sự thừa kế,
tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác là quy luật khách quan, nhưng các quan hệ
thừa kế ở mỗi chế độ xã hội được giải quyết như thế nào là do chủ quan con người
quyết định.
Để góp phần giúp các bạn hiểu hơn về các quy định của pháp luật về thừa kế ở
nước ta, tôi xin được trình bày với các bạn vấn đề: “Quyền định đoạt của người
lập di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) 2005”.
A. Vài vấn đề lý luận
I. Sự phát triển của chế định thừa kế
Chế định thừa kế ở Việt Nam đã được điều chỉnh từ thời phong kiến Việt Nam qua
các bộ luật, chiếu, chỉ dụ, lệnh của vua…, đặc biệt là Bộ luật Hồng Đức (1483) và
Bộ luật Gia Long (1815).
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, để đảm bảo cho các quan hệ xã hội về dân sự
phát triển bình thường, Nhà nước cần phải có hệ thống pháp luật. Do đó, ngày
22/5/1950 Hồ chủ tịch đã ký Sắc lệnh 97/SL. Riêng trong lĩnh vực thừa kế đã quy
định vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền
thừa kế di sản của cha, mẹ; chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin
chia di sản; con, cháu hoặc vợ góa, chồng góa không bắt buộc phải nhận thừa kế
của người đã chết; các chủ nợ của người đã chết không có quyền đòi người thừa kế
phải thanh toán nợ quá phần di sản mà người đó nhận được.
tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và các điều kiện
có hiệu lực của di chúc nói riêng. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của
mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di
chúc.
Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác
còn sống theo quyết định của người đó trước khi người đó chết được thể hiện trong
di chúc. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế (cá
nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài
sản,….
III. Người lập di chúc
Theo quy định của pháp luật tại điều 647 BLDS, người có thể lập di chúc là:
- Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm
thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức được và làm chủ được hành vi
của mình.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu
được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Pháp luật nước ta công nhận người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Vì
vậy, không phân biệt nam, nữ, tôn giáo, thành phần,… Người từ đủ 18 tuổi đều có
quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho ngưòi thừa kế.
Tuy nhiên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (người có năng lực hành vi một
phần) có thể lập di chúc nhưng với điều kiện “lập thành văn bản và phải được cha,
mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”. Sự đồng ý ở đây là sự đồng ý cho họ lập di chúc.
Còn về phần nội dung di chúc, họ được toàn quyền quyết định.
B. Quyền định đoạt của người lập di chúc
I. Các điều luật trong bộ luật dân sự bảo vệ quyền định đoạt của người lập di
chúc
Tôn trọng và bảo vệ quyền năng của một cá nhân đối với tài sản của họ, BLDS
2005 của nhà nước ta đã ghi nhận quyền của người lập di chúc tại các điều luật sau
Thông thường, một người bao giờ cũng mong muốn rằng, sau khi chết, tài sản của
mình sẽ được dịch chuyển cho những người gần gũi, thân thiết nhất. Mong muốn
này thường được thể hiện trong di chúc mà họ đã lập trước khi chết. Ngay cả khi
người để lại di sản không có di chúc, di sản của họ được dịch chuyển cho những
người thừa kế theo hàng, điều kiện và trình tự thừa kế mà pháp luật đã quy định thì
chúng ta vẫn có thể nới rằng việc dịch chuyển tài sản đó đã hoàn toàn đúng với ý
muốn của người để lại di sản bởi việc quy định về thừa kế theo pháp luật được xem
như là sự phỏng đoán của pháp luật về ý chí của người để lại di sản.
Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào. Họ
có thể là con, cha, mẹ, vợ, chồng… của người thuộc diện thừa kế theo luật dựa trên
các quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ huyết thống; và cũng có
thể là người nằm ngoài phạm vi nói trên, như Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội…
Vì đó là ý chí thực sự tự nguyện của người lập di chúc.
2. Truất quyền hưởng di sản
Quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ có thể
truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật (như: Cha, mẹ, vợ,
chồng, con, anh, em ruột…) mà không nhất thiết phải nêu lý do, người lập di chúc
có thể chỉ định một hay nhiều người thừa kế theo luật không được hưởng di sản
thừa kế của mình.
Tuy nhiên, do pháp luật không quy định cụ thể như thế nào là truất nên hiện nay
còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng người lập di chúc không
cho người thừa kế nào hưởng di sản theo di chúc thì người đó là người bị truất
quyền. Theo quan điểm này thì có hai cách truất quyền khác nhau:
+ Truất quyền hưởng di sản được nói rõ: Là việc người lập di chúc tuyên bố một
cách minh bạch trong di chúc rằng một hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật
không có quyền hưởng di sản.
+ Truất quyền hưởng di sản không được nói rõ: Là việc người lập di chúc chỉ định
một hoặc nhiều người để hưởng toàn bộ di sản nhưng lại không nói gì đến những
người thừa kế theo pháp luật không được chỉ định. Khi đó người thừa kế không
được chỉ định trở thành người bị truất quyền hưởng di sản không được nói rõ. Tác
2005).
4. Quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế
Nghĩa vụ được xét đến trong mục này là những nghĩa vụ về tài sản.
Theo sự chỉ định trong di chúc, người thừa kế phải thực hiện một công việc vì lợi
ích chất của người khác mà đáng lẽ khi còn sống, người để lại di sản phải thực hiện
như trả nợ, bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, người thừa kế không phải thực hiện
những nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản.
Cũng giống như việc phân định tài sản, việc phân định nghĩa vụ cũng được hiểu
theo ba góc độ sau đây:
+ Trong trường hợp người để lại di sản có để lại một nghĩa vụ về tài sản nhưng
trong di chúc không nói rõ người thừa kế nào phải thực hiện nghĩa vụ đó thì theo
quy định của pháp luật, ai hưởng thừa kế người đó phải thực hiện. Tuy nhiên,
người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm
vi di sản thừa kế.
+ Trong trường hợp hợp để lại thừa kế đã xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ mà từng người
thừa kế phải thực hiện thì mỗi người phải thực hiện phần đó trong phạm vi di sản
mà mình được hưởng. Phần nghĩa vụ vượt quá di sản người này được hưởng sẽ
chia đều cho những người thừa kế khác thực hiện tương ứng với phần dí sản mà họ
đã nhận.
+ Nếu người lập di chúc đã giao nghĩa vụ cụ thể cho người thừa kế thì riêng người
được giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, nếu có phần nghĩa vụ
vượt quá số di sản mà người đó được hưởng thì những người thừa kế khác phải
thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ được hưởng. Ví dụ: Ông A lập di chúc
để định đoạt khối tài sản của mình trị giá 120 triệu đồng như sau: cho M hưởng 30
triệu đông, N hưởng 30 triệu đồng, P hưởng 60 triệu đồng. Khi ông A chết còn nợ
của người khác một khoản tiền là 54 triệu đồng. Ông A giao cho M phải thay ông
trả khoản nợ đó. Như vậy, trong thực tế coi như M không được hưởng di sản theo
di chúc. Ngoài 30 triệu đồng mà M được hưởng đã dùng để thanh toán nghĩa vụ,
thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người
đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được
chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những
người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc
thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ
cúng thì những người thừa kế của một người quản lý di sản thờ cúng.
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di
sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số
những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa
vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ
cúng”.
Như vậy, việc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng là do ý muốn của
người để lại thừa kế. Không ai có thể buộc một người phải dành một số di sản khi
chết để con cháu lo việc cúng giỗ cho họ và tổ tiên của họ nhưng nếu bằng di chúc,
người để lại di sản thể hiện ý nguyện như vậy thì ý nguyện đó phải được tôn trọng.
Ý nguyện thật sự của người để lại di sản thờ cúng là phần di sản đó phải được
những người về sau này lưu giữ mãi mãi, truyền từ đời này sang đời khác, những
người thừa kế chỉ thay nhau quản lý để phục vụ cho công việc phụng tự. Phỏng
đoán theo ý chí truyền thống, pháp luật nước ta quy định: phần di sản dùng vào
việc thờ cúng không được chia thừa kế.
Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của người lập di chúc, pháp luật nước ta
cho phép người đó dành một phần di sản để dùng việc thờ cúng và cũng không cần
quy định cụ thể “phần” đó là tỷ lệ bao nhiêu so với giá trị khối tài sản. Tuy nhiên,
để đảm bảo quyền lợi cho những người có quyền tài sản liên quan đến di sản của
người đã chết, pháp luật nước ta cũng đã hạn chế quyền dành di sản vào việc thờ
cúng của người lập di chúc bằng việc quy định tại Khoản 2 Điêu 670 BLDS:
“Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ
tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ
Trong di chúc có thể có những câu khó hiểu hoặc có từ được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau. Người lập di chúc có quyền sửa đổi những câu, chữ cho rõ ràng, tránh
sự hiểu nhầm sau này ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kê.
Bổ sung di chúc là việc người lập di chúc quy định thêm một số vấn đề mà trong di
chúc đã lập chưa nói đến nhằm làm cho di chúc cụ thể, chi tiết hơn, rõ hơn. Vì vậy,
khi người lập di chúc bổ sung di chúc thì cả di chúc đã lập và cả phần bổ sung đều
có hiệu lực như nhau. Trong trường hợp di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn
nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật (lúc này việc bổ sung di chúc đã
chuyển hóa thành sự sửa đổi di chúc).
Hủy bỏ di chúc là người đã lập di chúc lại bằng ý chí tự nguyện của mình truất bãi
di chúc đã lập. Theo Khoản 3 Điểu 662 BLDS 2005 thì pháp luật chỉ xác định một
trường hợp được coi là hủy bỏ di chúc: khi người lập di chúc thay thế di chúc đã
lập.
8. Quyền thay thế di chúc
Theo nguyên tắc: “Di chúc chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế” nên khi còn
sống, một người tuy đã lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người khác
nhưng sau đó nếu họ thấy việc định đoạt của mình chưa phù hợp (hoặc không còn
phù hợp) thì có quyền lập một di chúc khác để thay di chúc đã lập trước. Tại
Khoản 3 Điều 22 Pháp lệnh Thừa kế đã quy định “Trong trường hợp người lập di
chúc đã thay thế di chúc thì coi như không có di chúc trước”. Điều đó được quy
định lại trong BLDS 2005 tại Khoản 3 Điều 662: “Trong trường hợp người lập di
chúc thay thế di chúc bằn di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ”. Như vậy, theo
quy định của pháp luật, người lập di chúc đã thay thế di chúc thì những di chúc
trước hoàn toàn không có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên bản chất của việc thay thế di chúc là gì, trường hợp nào mới được coi là
thay thế di chúc có một ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực trong việc giải
quyết đúng đắn một vụ án.
Trước hết, cần thống nhất về bản chất của thay thế di chúc là: Việc một người bằng
bố di chúc.
Để di sản của người lập di chúc để lại không bị mất mát, hư hỏng, pháp luật đã dự
liệu nhiều trường hợp cụ thể nhằm qua đó xác định người quản lý di sản là ai. Tôn
trọng ý chí của người lập di chúc nên trước hết người quản lý di sản phải là người
được chỉ định trong di chúc, khi nào trong di chúc không xác định người quản lý di
sản thì sẽ xác định người quản lý di sản theo một trong các trường hợp sau:
- Là người được những người thừa kế cùng thỏa thuận cử ra để quản lý di sản trong
thời gian di sản chưa được chia.
- Người đang chiếm giữ, quản lý di sản là người quản lý di sản trong thời gian
những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản mới. Ví dụ: Ông A có ba
người con thừa kế theo luật là M, N, P, khi ông A chết M, N đã thoát ly và đang
công tác tại một tỉnh khác, P đang ở cùng với ông tại ngôi nhà là di sản thừa kế mà
ông để lại. Trong thời gian M, N, P chưa cử được người quản lý di sản thì P được
xác định là người quản lý di sản theo quy định của pháp luật.
- Người đang chiếm giữ, sử dụng di sản thừa kế theo hợp đồng mà họ đã ký kết với
người để lại di sản là người quản lý di sản cho đến khi hết hạn hợp đồng.
- Di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý khi chưa xác định được người
thừa kế và di sản chưa có người quản lý.
Quyền chỉ định người quản lý di sản của người lập di chúc không bị giới hạn về
diện những người được chỉ định. Vì vậy, người được chỉ định trong di chúc về việc
quản lý di sản có thể là một trong những người thừa kế theo luật của người đó
nhưng cũng có thể là một người bất kỳ hoặc một cơ quan hay tổ chức nào đó. Ý chí
này của người lập di chúc luôn luôn được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực
hiện, nếu đúng là ý chí tự nguyện và không trái với pháp luật.
Thông thường, khi xác định ai quản lý di sản thì người lập di chúc cũng chỉ định
luôn người đó phân chia tài sản. Tuy nhiên, cũng có thể người lập di chúc chỉ định
hai người khác nhau để cùng thực hiện. Dù là ai thì người phân chia di sản đều là
người trong thực tế đứng ra phân chia di sản khi người để lại di chúc chết. Việc
phân chia di sản phải tuân theo di chúc. Trong trường hợp di chúc không xác định
cách phân chia di sản thì phải chia theo sự thỏa thuận của những người thừa kế.
chúc chỉ định hưởng di sản.
Trong trường hợp người để lại di sản lập di chúc trong đó xác định người thừa kế
theo di chúc của mình thì những người thừa kế theo pháp luật nào không có tên sẽ
là người không được hưởng di sản theo di chúc. Ngoài ra, cũng có trường hợp,
người lập di chúc đã định đoạt hết tài sản thì những người thừa kế theo luật không
được người lập di chúc định đoạt cho phần tài sản nào cũng là người không được
hưởng di sản theo di chúc. Nói tóm lại, người thừa kế không được hưởng di sản
theo di chúc là ngưởi có quyền hưởng di sản của người chết để lại theo quy định
của pháp luật nhưng thực tế họ không được hưởng bởi di sản không còn vì người
lập di chúc đã định đoạt hết cho người khác. Vì vậy, nếu có một phần di sản nào đó
được chia theo pháp luật thì họ sẽ được hưởng vì họ là người thừa kế theo pháp
luật của người để lại di sản.
Từ những vấn đề được giải quyết trên đây, chúng tôi mong rằng để không còn tình
trạng có nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một vấn đề luật định, khi ban hành các
văn bản giải thích luật và hướng dẫn thi hành BLDS cần quy định rõ như thế nào là
truất quyền hưởng di sản; có coi người thừa kế theo pháp luật không được hưởng
di sản khi người lập di chúc đã phân định hết tài sản cho những người thừa kế khác
là bị truất quyền hay không?
2. Vấn đề dành một phần di sản thừa kế để di tặng
Theo quy định của pháp luật thì người được di tặng có nhiều ưu tiên, như khi thực
hiện nghĩa vụ về tài sản, thì người được di tặng chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi
toàn bộ di sản không đủ để thanh toán.Vì vậy, chúng ta cần xem xét xem có áp
dụng Khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 với người di tặng hay không?
Theo tôi, dù người được di tặng không phải là người thừa kế nhưng về bản chất,
người được tặng là người được hưởng một phần di sản theo di chúc. Vì vậy, người
đó sẽ bị tước quyền hưởng di tặng nếu có những hành vi được quy định tại điều
luật nói trên.
3. Vấn đề để lại di sản vào việc thờ cúng
nhiều ý kiến, dù thực hiện bằng cách nào chăng nữa nhưng nếu đó là ý chí tự
nguyện của người lập đều được coi là hủy bỏ di chúc. Do đó các cơ quan có thẩm
quyền cần có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Có thể giải quyết vấn đề trên như
sau, trong những trường hợp đó, nếu người để lại di sản không thực hiện ý chí mới
về việc dịch chuyển di sản cho ai thì việc thừa kế sẽ được giải quyết theo pháp luật.
C. Kết luận
Trên đây, tôi đã trình bày với các bạn về quy định “Quyền định đoạt của người lập
di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) 2005”. Tôi mong rằng qua bài
viết của tôi, các bạn sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về pháp luật dân sự nói riêng
và pháp luật nước ta nói riêng, pháp luật đã có những quy định rất cụ thể, tiến bộ
nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều điểm thiếu sót. Do đó, tôi và các bạn, những nhà
làm luật tương lai hãy hoàn thiện những điểm thiếu sót của pháp luật, góp phần xây
dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tài liệu tham khảo
1. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam , Nxb. CAND.
Hà nội – 2006.
2. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , Nxb. Thống kê –
2007.
3. TS. Phạm Văn Tuyết, Thừa kế - quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng,
Nxb. CTQG, Hà nội – 2007.
4. TS. Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Hà nội
– 2008.
5. TS. Nguyễn Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam ,
Nxb. Trẻ, thành phố HCM, 2001.
6. Đỗ Văn Chỉnh, Di sản không có người thừa kế hoặc từ chối nhận di sản – vấn đề
cần có hướng dẫn, Tạp chí tòa án nhân dân, số 20/2006.
7. Phùng Trung Tập, Quy định về người lập di chúc”, Tạp chí tòa án nhân dân, số
3/2005.
8. Phùng Trung Tập, Pháp luật thừa kế Việt Nam hiện đại – Một số vấn đề cần
được bàn luận”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7/2008.