1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU
NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 643 CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
NĂM 2005 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập HÀ NỘI - 2013 3
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Minh Châu
1.1.2.
Quyền thừa kế
6
1.1.3.
Khái niệm chung về người thừa kế
7
1.1.3.1.
Người thừa kế theo di chúc
10
1.1.3.2.
Người thừa kế theo quy định của pháp luật
10
1.2.
Khái niệm về người thừa kế không được quyền hưởng di sản
11
1.2.1.
Người không được quyền hưởng di sản theo quy định của
pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ
11
1.2.1.1.
Thời kỳ phong kiến
11
1.2.1.2.
Thời kỳ Pháp thuộc
13
1.2.1.3.
Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1990
15
1.2.1.4.
Thời kỳ từ năm 1990 đến nay
khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ
người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân
phẩm của người đó
27
2.1.2.
Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để
lại di sản
32
2.1.3.
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của
người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di
sản của người thừa kế đó có quyền được hưởng
37
2.1.4.
Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người có
di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di
chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di
sản trái với ý chí người để lại di sản
40
2.2.
Những người không được quyền hưởng di sản theo khoản 1
Điều 643 nhưng vẫn được hưởng di sản theo di chúc
50
2.2.1.
Người không được hưởng di sản theo pháp luật nhưng vẫn
được hưởng theo di chúc tại khoản 2 Điều 643
50
2.2.2.
Phân biệt trường hợp người không được quyền hưởng di sản
do chết trước hoặc chết cùng thời điểm và người bị truất
73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
75 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thừa kế và xác định người được quyền hưởng di sản là một việc cần
thiết trước khi phân chia di sản, phân chia hàng thừa kế của cá nhân qua đời
để lại. Pháp luật đã xác định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật theo
các hàng thừa kế khác nhau và quyền hưởng di sản theo trình tự ưu tiên: hàng
gần loại trừ hàng xa, do vậy không phải toàn bộ những người có tên trong các
hàng thừa kế đều được hưởng di sản cùng một lúc vì Luật đã quy định thừa kế
theo pháp luật là việc phân chia di sản theo điều kiện và trình tự hàng thừa kế,
nhưng với đề tài "Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại
Điều 643 của Bộ luật Dân sự năm 2005", học viên nghiên cứu ở một khía
cạnh rất đặc thù là người không được quyền hưởng di sản do có các hành vi
được quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 là những
người theo quy định của pháp luật được hưởng di sản nhưng do hành vi trái
pháp luật của người này đã làm triệt tiêu quyền do Luật quy định.
Trong xã hội hiện đại đã có rất nhiều trường hợp người thừa kế có các
hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của người để lại di sản, hành
vi giết người thừa kế khác nhằm chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà
người thừa kế bị giết được hưởng hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi
dưỡng hoặc vì lợi ích cá nhân muốn chiếm đoạt di sản riêng cho mình do vậy
đã có hành vi hủy di chúc, bịa di chúc
Những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thừa kế ngày một gia
số quy định về thừa kế trong Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 hay trong Bộ luật
Dân sự năm 2005. Tất cả các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng,
mang tính toàn diện, bao quát cả chế định pháp luật về thừa kế, và đưa ra
những kiến nghị để ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về thừa kế.
9
Về quy định của pháp luật liên quan đến người thừa kế không có
quyền hưởng di sản, trong một số đề tài nghiên cứu, bài viết có đề cập đến nội
dung trên nhưng chủ yếu được nghiên cứu trên phạm vi rộng, chưa đi sâu
phân tích và làm rõ những nội dung quy định tại điều luật. Với đề tài "Người
không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 của Bộ luật
Dân sự năm 2005", tác giả chỉ đi sâu phân tích, làm sáng tỏ bản chất và các
quy định của pháp luật về vấn đề trên với mục đích làm rõ và đưa ra hướng
hoàn thiện quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005.
3. Phạm vi đề tài
- Tập trung nghiên cứu một số vấn đề về người thừa kế và người
không được quyền hưởng di sản.
- Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643
Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Thực trạng áp dụng pháp luật xác định người không được quyền
hưởng di sản và hướng hoàn thiện pháp luật.
4. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật về người
không được quyền hưởng di sản trong Bộ luật Dân sự năm 2005, có so sánh
với các quy phạm pháp luật liên quan đến với đề này qua các giai đoạn lịch sử,
đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước
về pháp luật. Đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về sở hữu tư
11
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGƢỜI THỪA KẾ
VÀ NGƢỜI KHÔNG ĐƢỢC QUYỀN HƢỞNG DI SẢN
1.1. KHÁI NIỆM VỀ THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ
1.1.1. Khái niệm thừa kế
Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người
đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trong thời kỳ
đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy những điều kiện về kinh tế, xã hội và
hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc. Chế độ
mẫu hệ với địa vị chủ đạo của người phụ nữ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kế
tài sản của các con và những người thân thuộc của người mẹ.
Tài sản của thị tộc do người mẹ quản lý, khi người mẹ chết đi thì di
sản được chuyển cho những người thân thích trong thị tộc và tài sản của thị
tộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đây chính là hình thức thừa kế
đầu tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm tiếp tục duy trì cuộc
sống chung cho thị tộc.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã làm thay đổi địa vị của người
phụ nữ. Sự ra đời của nhiều ngành nghề mới như: nông nghiệp, chăn nuôi,
trồng trọt đòi hỏi sức khỏe và trí tuệ của người đàn ông, sản phẩm lao động
mà người đàn ông làm ra không những đủ nuôi sống gia đình mà còn tạo ra
của cải dư thừa. Địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng bộ lạc
dần dần được thiết lập. Đặc biệt khi nhà nước ra đời và quy định chế độ hôn
nhân một vợ một chồng đã làm cho con cái biết rõ cha, mẹ của mình. Từ đó
trong quan hệ gia đình đã xác lập huyết thống theo họ cha và chế độ gia đình
phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ. Các con trong gia đình có huyết thống với
người cha sẽ mang họ cha và được thừa kế tài sản của cha.
13
quy định của pháp luật, quy định những trình tự để lại di sản, nhận thừa kế và
quyền khởi kiện dân sự yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi của người
để lại di sản và quyền của người người hưởng thừa kế di sản.
Thứ hai: Quyền thừa kế được hiểu là quyền của mỗi cá nhân trong
việc để lại di sản của mình cho những người thừa kế, quyền trong việc nhận
di sản thừa kế do người khác để lại và quyền trong việc khởi kiện để yêu cầu
bảo vệ quyền thừa kế của mình trong thời hạn và thời hiệu khởi kiện phù hợp
với các quy định của pháp luật.
1.1.3. Khái niệm chung về ngƣời thừa kế
Người thừa kế là một khái niệm đã xuất hiện từ khi xuất hiện chế định
pháp luật thừa kế, vì khi chế định này xuất hiện thì vần đề cần thiết đó là phải
có người thừa kế. Vậy, khái niệm người thừa kế xuất hiện trong lịch sử loài
người từ khi có bộ luật đầu tiên, trong pháp luật Việt Nam nó cũng đã được
xuất hiện trong Bộ luật cổ của nước ta.
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật thừa kế Việt Nam
chưa có quy định thế nào là người thừa kế. Về người thừa kế, qua các chế độ
xã hội khác nhau nhưng cùng theo quan điểm chung là những người đó được
hưởng di sản do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Trong đó, người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản của
người chết để lại theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt trước
khi họ chết. Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức tùy
theo sự định đoạt của người để lại di chúc. Người thừa kế có thể là người có
mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người chết hoặc
không có các mối quan hệ này, không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện về
quan hệ này.
Mặt khác, phạm vi những người thừa kế theo pháp luật còn phụ thuộc
vào quan điểm lập pháp của từng thời kỳ lịch sử của một quốc gia nhất định.
14
giải thích về người thừa kế là "Người được hưởng di sản theo di chúc hoặc
theo pháp luật" [38].
Hiện nay, trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 635 có quy định về
Người thừa kế:
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời
điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường
hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ
quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế [30].
Nhưng điều luật trên không phải là một khái niệm mà đó là quy định
về điều kiện của người thừa kế. Để có thể được hưởng thừa kế thì những
người thừa kế phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định của pháp luật, các
điều kiện đó có nội dung sau:
Điều kiện đặt ra đối với người thừa kế là cá nhân: Khi một người chết
đi thì có nghĩa là người đó không còn có năng lực chủ thể để tham gia vào các
quan hệ pháp luật của Việt Nam. Các chủ thể luôn luôn phải đáp ứng điều
kiện về năng lực chủ thể có nghĩa người đó phải còn sống vào thời điểm phát
sinh quan hệ đó. Trong quan hệ thừa kế cũng vậy, để được hưởng thừa thì
người đó phải có năng lực chủ thể tức người đó phải còn sống vào thời điểm
mở thừa kế. Người còn sống tức người đó đã được sinh ra và chưa chết vào
thời điểm mở thừa kế, theo Nghị định 158/2005 NĐ-CP của Chính phủ ngày
27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch Điều 23 có quy định: "Trẻ em sinh
ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh và
đăng ký khai tử" [7]. Như vậy, một đứa trẻ được xem như sinh và còn sống là
sau 24 giờ. Trong trường hợp một người sinh ra vào thời điểm mở thừa kế thì
người đó phải là người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và phải sinh
ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế.
16
Điều kiện đặt ra đối với người thừa kế là tổ chức: Để một cơ quan, tổ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh
ruột, chị ruột, em ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu
ruột, cô ruột, di ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết
là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà
người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
1.2. KHÁI NIỆM VỀ NGƢỜI THỪA KẾ KHÔNG ĐƢỢC QUYỀN HƢỞNG
DI SẢN
1.2.1. Ngƣời không đƣợc quyền hƣởng di sản theo quy định của
pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ
Sự phát triển của pháp luật thừa kế ở Việt Nam nói chung và pháp luật
về người không được quyền hưởng di sản nói riêng gắn liền với lịch sử truyền
thống, với chiều dài phát triển kinh tế, văn hoá của dân tộc Việt sử. Từ đó, có
thể chia làm các giai đoạn phát triển của các quy định pháp luật về người
không được quyền hưởng di sản qua các thời kỳ sau đây.
1.2.1.1. Thời kỳ phong kiến
Ở Việt Nam, thời kỳ phong kiến để điều chỉnh các vấn đề phát sinh
trong đời sống xã hội, Nhà nước đã sử dụng phương tiện hữu hiệu là pháp
luật. Bởi pháp luật phụ thuộc một cách trực tiếp đến chế độ sở hữu, đến sự
phát triển về kinh tế, văn hóa đến tư tưởng, tôn giáo đang thịnh hành ở thời kỳ
này. Những quy định pháp luật qua các thời kỳ luôn thể hiện một bản sắc dân
tộc, một tâm linh truyền thống đặc thù của con người Việt Nam.
Thời kỳ phong kiến ở Việt Nam còn chịu nhiều tác động của những tư
tưởng phong kiến lạc hậu nên pháp luật thời kỳ này còn mang đậm tính phong
18
kiến, trọng nam kinh nữ. Những quy định của pháp luật về người không được
quyền hưởng di sản cũng phải chịu những tác động nhất định. Pháp luật về
1.2.1.2. Thời kỳ Pháp thuộc
Ở Việt Nam, pháp luật của chế độ thực dân phong kiến cũng đã có
những quy định về người thừa kế không được quyền hưởng di sản của người
chết để lại (họ được gọi là những người thừa kế bất xứng). Và vấn đề này đã
được quy định trong Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 và Bộ luật Dân sự Trung
Kỳ 1936. Đây là những bộ luật được ban hành trong thời ký mà nhà nước
phong kiến Việt Nam đang nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp (chế độ
thực dân nửa phong kiến). Vì vậy, trong quy định về thừa kế nói chung và
quy định về người không được quyền hưởng di sản nói riêng, các bộ luật này
vừa mang tư tưởng ý thức hệ phong kiến vừa du nhập tư tưởng của Bộ luật
Dân sự Cộng hòa Pháp năm 1804. Ví dụ:
Người đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người mà
không tố giác với tòa án nhưng nếu kẻ sát nhân là cha, mẹ, anh, em,
vợ, chồng hoặc thân thuộc gần gũi với người thừa kế thì không bị
coi là có lỗi vì không tố giác; Người có hành vi vu khống người để
lại di sản hoặc vu khống ông, bà, cha, mẹ của người đó và người bị
vu khống đã bị phạt về trọng tội hay thường tội [16].
Tuy nhiên, với tư cách là pháp luật của nước phong kiến nên mọi quy
định thừa kế nói chung và các quy định về người không được quyền hưởng di
sản nói riêng trong hai bộ luật đều chú trọng và duy trì, củng cố chế độ sở hữu
phong kiến, bảo vệ quyền lợi của giai cấp bóc lột. Cụ thể, tại Điều 313 Dân
luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ đều dự liệu những trường hợp
người thừa kế không có quyền hưởng di sản:
Người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứng đáng
được hưởng di sản của người lập di chúc; Người có hành vi xâm
phạm đến tính mạng của người để lại di sản hoặc với danh nghĩa
20
chính phạm hoặc đồng phạm hoặc tòng phạm; Người đã trưởng
thành biết được hành vi cố ý giết người mà không tố giác với tòa án
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã gặp phải rất nhiều khó khăn về chính trị,
văn hóa, kinh tế xã hội. Việc ban hành những văn bản pháp luật để điều chỉnh
các quan hệ xã hội là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, trong một tình thế hết sức
khắc nghiệt với khoảng thời gian khá ngắn, Nhà nước đã không thể kịp thời
ban hành các văn bản để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội. Vì vậy, theo
Sắc lệnh 90/SL ngày 10/10/1945 về tạm giữ các luật lệ ban hành ở Việt Nam
để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật của chế độ mới của toàn cõi
Việt Nam, nếu nó không trái với nguyên tắc "độc lập của nước Việt Nam và
chính thể dân chủ cộng hòa".
Như vậy, khi giải quyết các tranh chấp về thừa kế trong thời kỳ này,
chủ yếu vẫn áp dụng những quy định trong các Bộ luật Dân sự trong thời kỳ
thực dân nửa phong kiến trên. Tuy nhiên, với thời gian và sự biết đổi nhanh
chóng, sâu sắc của tình trạng xã hội Việt Nam nhiều điều khoản trong các bộ
dân luật ấy trở nên lạc hậu, trái với tinh thần và sự tiến bộ xã hội. Do đó,
những quy định cũ đó chỉ được áp dụng đến năm 1959 - là năm Tòa án nhân
dân tối cao ban hành chỉ thị số 772/CT/TANDTC về việc đình chỉ áp dụng
luật lệ của chế độ cũ. Từ khi có chỉ thị 772/CT/TANDTC đến năm 1981 đã có
một số thông tư của ngành Tòa án hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế
ví dụ: Thông tư số 594… nhưng không có một nội dung nào về những người
thừa kế không có quyền hưởng di sản.
Thực trạng đó như một lỗ hổng của pháp luật thừa kế của nước ta. Các
Tòa án đã không thể giải quyết thỏa đáng những tranh chấp về thừa kế liên
quan đến thừa kế có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến
người để lại di sản hoặc người thừa kế khác. Do còn thiếu những quy định của
pháp luật điều chỉnh vấn đề này.
Như vậy, có thể nhận định rằng pháp luật về thừa kế của Nhà nước ta
trong giai đoạn này chưa được dự liệu được những tình huống phát sinh trong
22
đời sống xã hội; và trên thực tế hẳn vẫn còn tồn tại những hành vi trái pháp
hệ thống về lĩnh vực thừa kế nói chung và đã hoàn thiện những thiếu sót về
các trường hợp không được quyền hưởng di sản. Những quy định này đều dựa
trên những nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng quyền tự do ý chí của người để lại
thừa kế cũng như của người thừa kế trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể khác.
Cụ thể, khi Pháp lệnh Thừa kế được ban hành (30/8/1990) thì vấn đề
người thừa kế không có quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 7. Theo đó,
người thừa kế không được hưởng di sản khi có một trong các hành vi sau đây:
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại
di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để
lại di sản; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người
để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế
khác nhằm mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản
của người thừa kế khác cơ quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối,
cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc,
giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc
toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản [12].
Cùng với thời gian, các vấn đề trong lĩnh vực dân sự cũng sẽ sống
động, đa dạng và phức tạp hơn nhiều, các văn bản pháp luật với các nghị
định, Pháp lệnh không đủ khả năng bao quát để điều chỉnh một cách rộng
khắp các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ về thừa kế nói riêng. Nhà nước
đã kịp thời ban hành Bộ luật Dân sự (thông qua ngày 28/10/1995). Đến năm
2005, sau một thời gian áp dụng vào đời sống thực tiễn Bộ luật Dân sự năm
1995 đã bộc lộ khá nhiều bất cập, hạn chế nên nhà nước đã tiến hành thực
hiện việc sửa đổi Bộ luật Dân sự được sửa đổi và được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua. Tuy nhiên,
24
những vấn đề liên quan đến người không được quyền hưởng di sản quy định
Như vậy, quyền hưởng di sản không phụ thuộc và nội dung của di
chúc của những người thừa kế trong trường hợp trên là hoàn toàn phù hợp với
phong tục tập quán cũng như phù hợp với các quy tắc đạo đức trong đời sống
của người Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước
hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được
hưởng phần di sản mà cha mẹ cháu được hưởng nếu còn sống, nếu
cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di
sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ chắt được
hưởng hưởng nếu còn sống [30].
Dựa trên quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2005, người được
hưởng di sản là Nhà nước.
Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo
pháp luật hoặc có nhưng người thừa kế đó không được quyền
hưởng di sản, hoặc từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã
thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thì
tài sản thuộc về Nhà nước [30].
Như vậy, người có quyền hưởng di sản là những người thừa kế theo
pháp luật, theo di chúc, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc, người quản lý di sản, người được thừa kế thế vị và Nhà nước với tư
cách là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế.
1.2.2.2. Người thừa kế không được quyền hưởng di sản
Trong các quan hệ tồn tại trong xã hội bao giờ cũng có sự mâu thuẫn,
bất đồng, cái tôi của mỗi người rất cao. Vì vậy, dễ dẫn đến tình trạng có