MỞ ĐẦU
Nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc lấy, ghép mô; bộ phận cơ thể
và tạo nguồn cung cấp mô, tạng dồi dào phục vụ cho việc cứu chữa người
bệnh và nghiên cứu khoa học, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp
luật điều chỉnh về việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể người mà tiêu biểu là
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác năm 2006, trong đó
có quy định cụ thể về điều kiện hiến xác; bộ phận cơ thể khi còn sống cũng
như điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện việc hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể cho
thấy pháp luật về vấn đề này còn khá nhiều điểm bất cập, đặc biệt là trong
các quy định về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết. Chính vì
vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện
hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết có cân nhắc, tiếp thu kinh nghiệm nước
ngoài là một nhu cầu cấp thiết.Trong bài này , em xin trình bày đề tài :
“Quyền hiến xác , bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết” .
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Quyền hiến bộ phận cơ thể trong hệ thống các quyền nhân thân
Cùng với sự phát triển của xã hội, các quyền con người, quyền của cá nhân
trong đó có quyền nhân thân ngày càng được tôn trọng và bảo vệ bằng
nhiều hình thức, biện pháp khác nhau. Một xu hướng đang diễn ra phổ biến
hiện nay là các giá trị nhân thân ngày càng được đề cao và được ghi nhận
ngày càng nhiều hơn trong pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế.
Sở dĩ như vậy vì xã hội càng phát triển, các quan hệ xã hội càng đa dạng,
phức tạp, nhu cầu của con người cũng ngày một tăng lên cả về vật chất và
tinh thần, đặc biệt là nhu cầu về tinh thần.
Giá trị nhân thân là những giá trị gắn liền với cá nhân mỗi con người,
chúng tồn tại không phụ thuộc vào mức độ và tính chất điều chỉnh của các
quy phạm pháp luật. Trong những năm gần đây, dưới ảnh hưởng của rất
nhiều yếu tố khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc tế…, hệ
thống các quyền nhân thân trong pháp luật các nước ngày càng được mở
rộng với sự ghi nhận nhiều quyền mới như quyền hiến bộ phận cơ thể,
pháp luật
Thứ tư, quyền nhân thân là một loại quyền tuyệt đối. Người có quyền này
đối kháng với một phạm vi không xác định các chủ thể có nghĩa vụ tôn
trọng giá trị nhân thân được bảo vệ.
Bên cạnh các đặc điểm chung của quyền nhân thân, quyền hiến bộ phận cơ
thể còn có đặc điểm riêng biệt, đó là: mục đích chủ yếu của việc thực hiện
quyền này không phải đem lại lợi ích cho chủ thể quyền như đại đa số các
quyền nhân thân khác, mà nhằm đem lại lợi ích cho người khác, lợi ích cho
toàn xã hội. Lợi ích mà chủ thể quyền đạt được chủ yếu là lợi ích tinh thần,
là niềm vui khi cứu sống được người khác đang mắc bệnh hiểm nghèo, đặc
biệt khi người bệnh lại là người thân thích, ruột thịt của mình; hoặc niềm
vui khi thấy mình cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Lợi ích
vật chất có thể có nhưng không phải là chính yếu, chẳng hạn như: được
chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí, được ưu tiên ghép mô, bộ phận cơ
thể người khi người đó có nhu cầu… Lợi ích của chủ thể quyền thực sự rất
khiêm tốn so với lợi ích to lớn mà xã hội nhận được từ việc người đó thực
hiện quyền của mình. Đặc trưng này chỉ có ở 2 quyền nhân thân đặc thù:
quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết.
Vậy tại sao lại coi “hiến bộ phận cơ thể” là một “quyền”, trong khi lợi ích
mà nó mang lại cho chủ thể quyền hầu như không đáng kể? Có thể lý giải
như sau: Nói đến “quyền” là nói đến sự tự do ý chí lựa chọn hành động của
chủ thể trong khuôn khổ pháp luật. Rõ ràng, mỗi cá nhân có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ có quyền tự quyết định đối với thân thể của mình, không
ai có quyền can thiệp hay ngăn cản. Khi một cá nhân đã có nguyện vọng
hiến bộ phận cơ thể của mình để chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học, thì
những người khác, kể cả những người thân thích, ruột thịt cũng không
được cản trở. Thông thường, việc hiến bộ phận cơ thể không chỉ là một
quyết định khó khăn đối với người hiến mà còn có thể tác động lớn về mặt
tinh thần đối với gia đình, với những người thân thích của người đó, bởi
không ai muốn bản thân mình và những người thân yêu của mình có một
Còn quyền hiến và quyền nhận bộ phận cơ thể người thực chất là hai mặt
của một quan hệ: một bên là chủ thể hiến có quyền hiến, một bên là chủ thể
nhận có quyền nhận. Quyền hiến là tiền đề cho quyền nhận. Tuy nhiên,
mặc dù hiến-nhận là hai mặt của một quá trình nhưng việc thực thi quyền
nhận sẽ phức tạp, nhạy cảm hơn quyền hiến, nếu không thực hiện tốt sẽ gây
phản ứng xã hội không tốt, ảnh hưởng trở lại đến chính quyền hiến của cá
nhân, làm mất ý nghĩa tốt đẹp của quyền hiến. Bởi vì ở bất cứ quốc gia nào
trên thế giới cũng xảy ra tình trạng mất cân bằng giữa nhu cầu lấy, ghép
mô, bộ phận cơ thể người với khả năng cung cấp các bộ phận này. Nhu cầu
luôn vượt xa so với khả năng đáp ứng. Nguyên nhân chính là do về mặt
tâm lý xã hội, mọi người đều muốn có một cơ thể toàn vẹn ngay cả khi đã
chết và họ thường rất e ngại khi quyết định hiến bộ phận cơ thể cho người
khác, trừ khi đó là người thân thích, ruột thịt của mình. Ngay cả khi bản
thân người đó đồng ý hiến bộ phận cơ thể thì những người thân trong gia
đình cũng phản đối và tìm cách ngăn cản. Vì vậy, mục đích chủ yếu của
pháp luật về hiến bộ phận cơ thể ở các quốc gia là thiết lập một cơ chế
phân bổ một cách công bằng, bình đẳng nguồn “tài nguyên” chữa bệnh quý
3
giá và khan hiếm này cho những bệnh nhân nguy kịch nhất, hiểm nghèo
nhất.
2.Sự cần thiết ghi nhận và bảo vệ quyền hiến bộ phận cơ thể bằng
pháp luật dân sự
Mục tiêu đến năm 2020, Việt nam có thể thực hiện được khoảng 1.000 ca
ghép thận, 80 – 100 ca ghép gan, 20 – 30 ca ghép tim và 10-15 ca ghép
phổi, 2.000 ca ghép giác mạc, phải cần nhiều mô, bộ phận cơ thể người
hiến mang tính chất tự nguyện. Nếu chỉ chờ vào nguồn hiến bộ phận cơ thể
người của người thân là không thể đủ, vì vậy, việc lấy mô, bộ phận cơ thể ở
người hiến tự nguyện ngoài huyết thống và đặc biệt là ở người hiến sau khi
quốc gia trên thế giới đều theo nguyên tắc nhân đạo, không mang tính
thương mại và nghiêm cấm việc mua, bán bộ phận cơ thể ngườiỞ Việt
4
nam, theo số liệu thống kê, nhu cầu được hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ
thể người ở nước ta là rất lớn và ngày càng gia tăng. Cụ thể là,cả nước có
khoảng 5.000 – 6.000 người suy thận mãn cần được ghép thận. Tại 5 bệnh
viện lớn ở Hà Nội đã có gần 1.500 người được chỉ định ghép gan nhưng
không có nguồn cho nên số bệnh nhân này đang trong tình trạng nguy hiểm
đến tính mạng. Ước tính, do không có nguồn của người cho thận, cho gan,
ở Việt Nam đã có hơn 200 người phải sang Trung Quốc và một số nước
khác để ghép thận, ghép gan .
Không chỉlà ghép thận, ghép gan, số bệnh nhân cần phải ghép giác mạc
cũng ngày càng tăng. Đến nay có khoảng hơn 5.000 người bệnh đang chờ
được ghép giác mạc. Riêng tại Viện Mắt Trung ương, mỗi năm nhu cầu
ghép giác mạc từ 500 ca/năm trở lên. Từ năm 1985 đến nay, Viện mới chỉ
ghép được 1.500 ca, riêng năm 2004 ghép được 103 ca, năm 2005 ghép
được 150 ca. Số giác mạc được dùng để ghép chủ yếu lấy từ nguồn viện trợ
của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (khoảng 50-100 giác mạc/năm),
số còn lại được lấy từ bệnh nhân bị bỏ nhãn cầu do chấn thương và các
nguyên nhân khác mà giác mạc có đủ tiêu chuẩn sử dụng.
Trước nhu cầu cấp bách trên, ngay từ năm 1992, Nhà nước đã đầu tư cơ sở
vật chất, phương tiện, cán bộ nên cho đến nay, Việt Nam đã có 10 bệnh
viện có đủ khả năng và điều kiện ghép thận và đã tiến hành thí điểm việc
ghép thận, gan. Tính đến 20/03/2006, các bệnh viện trên đã ghép thành
công được 161 ca, trong đó có 158 ca ghép thận và 04 ca ghép gan. Tất cả
các ca ghép này đều lấy thận, gan của người sống là cha, mẹ, anh, chị, em
trong gia đình, cùng huyết thống, có các chỉ số sinh học tương đương, chưa
có trường hợp nào lấy bộ phận cơ thể người hiến sau khi chết. Những thành
Việt Nam có cơ sở pháp lý vững chắc triển khai các hoạt động này. Trong
đó, trước hết pháp luật phải khẳng định, ghi nhận quyền hiến và nhận bộ
phận cơ thể người là quyền dân sự của cá nhân, từ đó tạo cơ sở pháp lý để
ban hành văn bản pháp luật chuyên ngành về vấn đề hiến và nhận bộ phận
cơ thể người.
3. Khái quát về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết trước khi có
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác năm 2006
3.1 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 và văn bản hướng dẫn
Theo số liệu của Bộ Y tế cho thấy, từ những năm đầu của thập kỷ 50, nước
ta đã có những ca ghép mô, bộ phận cơ thể người đầu tiên như: ghép da,
ghép giác mạc từ tử thi vô thừa nhận và đặc biệt vào đầu những năm 70,
việc ghép gan và tim đã được thực hiện trên lợn do Giáo sư Tôn Thất Tùng
và một số bác sĩ khác tiến hành. Tuy nhiên, thời kỳ này chưa có một băn
bản pháp lý nào của Nhà nước quy định về điều kiện hiến, lấy ghép mô, bộ
phận cơ thể người. Đến cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90
những ca lấy, ghép thử nghiệm thận, gan đã cho những kết quả đáng mừng.
Và do nhu cầu của nhân dân về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe ngày càng tăng,
đồng thời để tạo hành lang pháp lý cho việc lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể
có hiệu quả, năm 1989 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (Luật BVSKND)
được Quốc hội thông qua. Để chủ động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân, trong Luật quy định rất nhiều vấn đề về phòng ngừa bệnh, khám
chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng… trong đó lần đầu tiên có
quy định về điều kiện hiến mô, bộ phận cơ thể người: “1, Thầy thuốc chỉ
tiến hành lấy mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng
vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân
người chết hoặc người chết có di chúc để lại. 2, Việc ghép mô hoặc một bộ
phận cho cơ thể người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân
nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên…”
Phân tích quy định trên ta thấy, Luật này không trực tiếp quy định về quyền
và điều kiện đối với người hiến mô, bộ phận cơ thể mà chỉ quy định trong
chữa bệnh và phục hồi chức năng số 23-HĐBT ngày 24/1/1991 tại Điều
10: “Về lấy và ghép mô bộ phận cơ thể người
1- Việc lấy mô, bộ phận cơ thể người sống phải được người đó tự nguyện
và viết thành văn bản.
2- Việc lấy mô hoặc một bộ phận của cơ thể người chết được tiến hành
trong các trường hợp:
- Người chết có di chúc để lại đồng ý cho mô hoặc một bộ phận cơ thể của
họ.
- Người chết không có di chúc nhưng được thân nhân người chết đồng ý
cho bằng văn bản.
- Người chết vô thừa nhận.
…
4- Các thủ tục, tiến hành ghép mô hoặc một bộ phận cơ thể con người được
tiến hành như các trường hợp phẫu thuật ghi trong Điều 8 của Điều lệ này
…”.
Trong Điều lệ này đã có những quy định cụ thể hơn về cơ sở y tế khi tiến
hành lấy mô, bộ phận cơ thể sau khi chết (khoản 1 Điều 10), ngoài hai
trường hợp Luật đã quy định là trường hợp người chết có di chúc để lại và
trường hợp không có di chúc, nhưng được thân nhân người chết đồng ý thì
Điều lệ này có quy định cụ thể hơn, trong trường hợp người chết không có
di chúc để lại thì thân nhân người chết có quyền đồng ý hiến mô, bộ phận
cơ thể sau khi chết, nhưng phải thể hiện bằng văn bản (khoản 2 Điều 10).
Mặt khác, Điều lệ cũng quy định cơ sở y tế có thẩm quyền cũng được sử
dụng xác, bộ phận cơ thể người chết vô thừa nhận để phục vụ cho mục đích
7
chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học mà thực tế trong những năm vừa qua
là việc sử dụng mô (giác mạc, kết mạc) để chữa trị cho người bệnh; sử
dụng bộ phận cơ thể, xác tử thi vô thừa nhận phục vụ cho việc giảng dạy
quyền hiến bộ phận cơ thể của mình hoặc hiến xác sau khi chết vì mục đích
chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học…”. Tuy nhiên, quy định tại Điều 34
của BLDS 2005 về cá nhân được hiến trước khi có Luật Hiến, lấy ghép mô,
bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác 2006, thì còn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Có cách hiểu cho rằng, cá nhân ở đây có thể là bất kỳ ai không phân biệt họ
bao nhiêu tuổi, miễn là họ không bị nhược điểm về thể chất, tâm thần và tự
nguyện, quan điểm khác lại cho rằng cá nhân hiến bộ phận cơ thể ở đây
phải là người đã thành niên – mới có đầy đủ khả năng nhận thức và điều
khiển hành vi. Sở dĩ có các cách hiểu khác nhau như vậy bởi vì trong Bộ
luật chưa quy định điều kiện cụ thể với cá nhân ở đây là gì về độ tuổi, về
năng nhận thức, về sức khoẻ… Như vậy, chúng ta thấy Bộ luật quy định
cũng rất chung chung về việc cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể
8
khi còn sống hoặc sau khi chết mà không quy định cụ thể về độ tuổi, sức
khoẻ đối với người hiến.
4. Chủ thể và đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể
4.1. Chủ thể quyền
Giống như chủ thể của các quyền nhân thân khác, chủ thể của quyền hiến
bộ phận cơ thể người chỉ có thể là cá nhân. Theo Điều 33 Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005, cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình
vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Pháp
luật không có bất kỳ một sự phân biệt nào đối với các chủ thể quyền, có
nghĩa là xét về mặt năng lực pháp luật, mọi cá nhân có quyền hiến bộ phận
cơ thể và quyền này được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Thậm chí, dù một cá
nhân có bị pháp luật tước một số quyền công dân vì những lý do khác nhau
thì quyền hiến bộ phận cơ thể của người đó vẫn được pháp luật thừa nhận
bởi vì quyền này là quyền năng của cá nhân với tư cách là một con người,
là một cá thể trong cộng đồng xã hội chứ không phải với một tư cách nào
4.2. Đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể
Đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể là “bộ phận cơ thể” người. Trong
thực tế đời sống, khi nhắc đến bộ phận chúng ta thường hình dung đó là
phần cấu tạo nên một chỉnh thể nào đó. Có thể hiểu bộ phận cơ thể người là
phần cấu tạo nên chỉnh thể con người về mặt sinh học. Dưới góc độ sinh
học cơ bản, tất cả những gì thuộc về cơ thể con người, cấu tạo nên cơ thể
con người được gọi chung trong một khái niệm thống nhất “bộ phận cơ thể
người” (như: răng, tóc, máu, tay, chân, xương…).
Dưới góc độ y học, khái niệm “bộ phận cơ thể người” có thể được hiểu ở
hai cấp độ. Hiểu theo cấp độ rộng thì nó hẹp hơn so với cách hiểu dưới góc
độ sinh học – không bao gồm răng, tóc. Còn hiểu theo cấp độ hẹp, chỉ đặt
trong giới hạn của kỹ thuật cấy, ghép điều trị cứu người thì “bộ phận cơ thể
người”còn không bao hàm cả noãn/trứng, tinh trùng, phôi (nó được xếp
nằm trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản). Đặt khái niệm “bộ phận cơ thể người”
ở Điều 33 trong tương quan với Điều 35 – “Nghiêm cấm việc nhận, sử
dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại” – chúng ta sẽ
thấy “bộ phận cơ thể người” loại trừ cả máu (máu thực tế vẫn được bán
như một thứ hàng hoá từ người cho máu chuyên nghiệp). Trên thực tế,
người ta thường hiểu về “bộ phận cơ thể người” theo chính cấp độ hẹp này,
có nghĩa là bộ phận cơ thể người chỉ bao gồm chủ yếu các loại mô (nhóm
tế bào thường) và tạng người. Trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ
thể người và hiến, lấy xác, thuật ngữ “bộ phận cơ thể người” được giải
thích như sau: “Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình
thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất
định”, trong đó “Mô là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại
khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người”. Mặt
khác, tại Khoản 2 Điều 1 Luật này ghi nhận: “Việc truyền máu, ghép tủy
không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này”.
Một vấn đề đặt ra nữa là bộ phận cơ thể người có bao gồm những bộ phận
Như chúng ta đã biết, điều kiện về độ tuổi là một dấu hiệu định lượng quan
trọng để xem xét cá nhân đó có đủ khả năng thực hiện quyền hiến mô, bộ
phận cơ thể hay không. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở các nước
trên thế giới có sự quy định khác nhau về độ tuổi đối với người hiến bộ
phận cơ thể khi còn sống, đặc biệt là hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết.
Ở Pháp, đủ 13 tuổi trở lên mới có quyền đăng ký từ chối hiến xác, bộ phận
cơ thể sau khi chết (tức là sau khi một người bị chết đi, cơ sở y tế có thẩm
quyền sẽ kiểm tra xem người đó có thẻ từ đăng ký từ chối hiến xác không,
nếu không có thì cơ sở y tế có thẩm quyền gián tiếp suy luận là người đó đã
đồng ý hiến).Ở nước ta, Điều 5 của Luật Hiến, lấy ghép mô bộ phận cơ thể
người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên, có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình
khi còn sống, sau khi chết và hiến xác”.
Phân tích quy định trên ta thấy, cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới có
quyền hiến bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết. Sở dĩ có quy định như
vậy bởi các nhà làm luật nước ta quan niệm rằng ở tuổi đó, người hiến mới
phát triển đầy đủ về tâm, sinh lý cũng như về mặt pháp lý họ là người có
đầy đủ năng lực hành vi dân sự có thể bằng hành vi của mình tham gia xác
lập các quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật. Nếu độ
tuổi là một dấu hiệu định lượng, là điều kiện cần để hiến mô, bộ phận cơ
thể thì khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là dấu hiệu định tính để
xác định xem cá nhân đã hoàn thiện về mặt tâm lý, về khả năng nhận thức
hay chưa.
Tuy nhiên, đối với trường hợp hiến, nhận tế bào mà cụ thể là hiến nhận tinh
trùng thì Luật lại quy định khác, tuỳ thuộc vào người hiến là nam hay nữ
mà Luật có quy định khác nhau, nếu chủ thể hiến là nam giới phải đạt độ
tuổi từ đủ 20 tuổi trở lên và phải không bị nhược điểm về thể chất tinh thần
có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên,
nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến,
nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo theo quy định của pháp
được thông tin của người hiến mô, bộ phận cơ thể, cơ sở y tế có trách
nhiệm thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể
người. Sau khi nhận được thông báo về trường hợp hiến xác, bộ phận cơ
thể người, Trung tâm điều phối quốc gia về bộ phận cơ thể có trách nhiệm
thông báo cho cơ sở y tế có đủ điều kiện về trang thiết bị, về đội ngũ cán
bộ y tế để tiến hành các thủ tục đăng ký cho người hiến. Khi nhận được
thông báo của Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người,
cơ sở y tế quy định tại Điều 16 của Luật này có trách nhiệm trực tiếp gặp
người hiến để tư vấn thông tin có liên quan đến hiến, lấy mô, bộ phận cơ
thể và hướng dẫn việc đăng ký hiến theo mẫu đơn; thực hiện việc kiểm tra
sức khoẻ cho người hiến .Đến đây, người hiến mô, bộ phận cơ thể người để
được hiến phải đảm bảo được điều kiện về sức khoẻ. Còn trường hợp hiến
xác sau khi chết thực hiện theo quy định điều 19 của Luật.
Một vấn đề đặt ra là liệu điều kiện hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi
chết vào mục đích nghiên cứu khoa học có khác gì với điều kiện hiến xác,
bộ phận cơ thể sau khi chết vì mục đích chữa bệnh không? ở đây, chúng ta
có thể dễ dàng trả lời được là giữa chúng có sự khác nhau bởi mục đích của
chúng là khác nhau. Vì vậy, có thể thấy có nhiều trường hợp không đủ điều
12
kiện để hiến mô, bộ phận cơ thể vì mục đích chữa bệnh, nhưng vẫn có thể
hiến và được sử dụng và mục đích nghiên cứu khoa học.
5.3 Điều kiện về sức khỏe
Việc hiến mô, bộ phận cơ thể nói chung cũng như việc hiến xác, bộ phận
cơ thể sau khi chết nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc
mang lại hay kéo dài sự sống cho người bệnh. Thực tế trên thế giới và ở
Việt Nam cũng đã xảy ra những trường hợp việc lấy, ghép nhầm mô, bộ
phận cơ thể của người hiến bị bệnh (nan y) cho người bệnh đã gây ra
những cái chết rất thương tâm hoặc trường hợp bác sĩ lấy nhầm bộ phận cơ
đình người hiến đồng ý thì cơ sở y tế có thẩm quyền vẫn được nhận .
Một vấn đề đặt ra là, những người sau khi chết không có thẻ đăng ký hiến
xác, sau khi chết mà gia đình người đó đồng ý hiến bằng văn bản thì có bắt
buộc người chết đó phải từ đủ 18 tuổi trở lên không? Trong trường hợp
người chết 17 tuổi không có thẻ đăng ký hiến mà gia đình họ đồng ý hiến
13
cho y học bằng văn bản thì giải quyết vấn đề này thế nào, Luật cũng chưa
có quy định.
6. Một số kiến nghị để hoàn thiện hơn nữa luật hiến , lấy ghép mô ,bộ phận
cơ thể người và hiến , lấy xác
6.1 Về trình tự, thủ tục đối với người hiến xác, bộ phận cơ thế sau khi
chết
- Cần phải sớm có quy định pháp luật về trình tự thủ tục đối với việc hiến
mô, bộ phận cơ thể người cho mục đích nghiên cứu khoa học cũng như quy
định về điều kiện đối với các tổ chức nhận xác, bộ phận cơ thể người để
nghiên cứu khoa học. Quy định này rất quan trọng bởi, hiến xác, bộ phận
cơ thể người vì mục đích chữa bệnh là biện pháp ngăn chặn hậu quả, thì
nghiên cứu khoa học lại giúp phát hiện và phòng ngừa bệnh tật.
- Về thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sống; thủ tục đăng ký
hiến bộ phận cơ thể người hiến xác sau khi chết, ở khoản 4 Điều 12 cũng
như khoản 4, Điều 18 của Luật về trách nhiệm của cơ sở y tế là trực tiếp
gặp người hiến để tư vấn về các thông tin có liên quan là không khả thi, vì
người dân sẽ hiểu theo nghĩa các cơ sở y tế phải có trách nhiệm cử cán bộ
tới nhà gặp trực tiếp người hiến để tư vấn, mà cơ sở y tế thì không đủ
người để có thể làm được điều đó. Vì vậy, cần phải sửa đổi khoản 4, Điều
12, Điều 18 theo hướng sau: “Cơ sở y tế có trách nhiệm mời người hiến
đến cơ sở y tế để trực tiếp cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan cho
người hiến biết”.
đặt ra, bởi cho dù người đó có thể bị rơi vào trường hợp bị tâm thần hoặc
mất năng lực hành vi đi chăng nữa thì cũng không có nghĩa là bộ phận cơ
thể nào của họ cũng bị ảnh hưởng hoặc không sử dụng được để cứu chữa
người bệnh. Do đó, chúng ta không nên đặt ra vấn đề khả năng nhận thức
cũng như năng lực hành vi của người hiến trong những trường hợp như
trên.
6.3 Về sức khỏe đối với người hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết
Sức khỏe là điều kiện vô cùng quan trọng đối với người hiến trong quá
trình hiến mô, bộ phận cơ thể người nhằm cứu chữa người bệnh. Do vậy có
thể dễ dàng nhận thấy sức khỏe là điều kiện tiên quyết và quan trọng đối
với mục đích cứu chữa bệnh, bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của
người hiến mà nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người nhận ghép. Tuy
vậy, nếu sử dụng xác, bộ phận cơ thể vào mục đích nghiên cứu khoa học
thì không nhất thiết phải bắt buộc điều kiện về sức khỏe của người hiến,
bởi vì đích cuối cùng của nghiên cứu khoa học là nhằm tìm nguyên nhân
và cách thức phòng ngừa bệnh tật để cứu chữa người bệnh. Vì vậy, dù là
người có bệnh hay không có bệnh mà hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết
nhằm mục đích giảng dạy và nghiên cứu khoa học thì đều có thể nhận
được.
6.4 Một số kiến nghị liên quan khác
Bên cạnh những kiến nghị trên để hoàn thiện pháp luật về điều kiện hiến
xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết, chúng ta cần phải quan tâm đến
những vấn đề sau:
Nhu cầu về cấy, ghép mô, tạng ở nước ta ngày càng lớn nên pháp luật đã
điều chỉnh nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc cấy, ghép mô, tạng và tăng
nguồn hiến mô, tạng trong nhân dân. Tuy nhiên, Luật vẫn chưa đề cập đến
vấn đề hiến bộ phận cơ thể, hiến xác của tử tù nhằm phục vụ cho chữa
bệnh và nghiên cứu khoa học nên rất khó khăn cho các cơ sở y tế có thể
nhận xác trong trường hợp người có án tử hình muốn hiến xác của họ cho y
học. Vào ngày 25/10/2007, tử tù Nguyễn Phước Đỉnh, ngụ tại xã Tân
không được thực hiện, thì gia đình người hiến có thể được lấy lại xác để
mai táng theo nghi lễ truyền thống hoặc hoả thiêu.
- Điều 11 của Luật đề cập đến các hành vi bị pháp luật cấm trong lĩnh vực
này như: cấm mua, bán, lấy trộm mô, tạng; cấm sử dụng mô, tạng vì mục
đích thương mại… Tuy nhiên, Luật lại chưa đưa ra chế tài áp dụng khi vi
phạm một trong những hành vi trên. Trong khi đó, Bộ luật Hình sự cũng
chưa có điều khoản nào điều chỉnh về loại tội phạm này. Đây là một khó
khăn cho quá trình áp dụng và ngăn chặn những loại tội phạm đó trên thực
tế.
- Thực tế những năm vừa qua cho thấy, việc dùng tử thi vô thừa nhận đã
góp phần cứu chữa được nhiều người bệnh, đặc biệt là những người mắc
bệnh về mắt (ghép giác mạc, kết mạc).. Tuy nhiên, Luật cũng chưa định
nghĩa thế nào là tử thi vô thừa nhận; tử thi vô thừa nhận khác gì với tử thi
không hoặc chưa xác định được người thân thích là ai. Nếu một người đến
nơi khác làm ăn nhưng lại chết ở đó mà Uỷ ban nhân dân xã không xác
định được người thân thích của họ là ai hoặc không xác định được nơi
thường trú của họ, liệu Uỷ ban nhân dân xã có quyền hiến cho cơ sở y tế
không? Luật không có câu trả lời cụ thể. Về điều kiện đối với việc lấy xác
người không có địa chỉ cư trú cuối cùng (Điểm 6, khoản 1, Điều 22), đây là
vấn đề rất nhạy cảm và không hề đơn giản. Chúng ta cần có sự phân biệt
giữa tử thi vô thừa nhận và tử thi chưa xác định được người thân thích. Nếu
trường hợp là tử thi vô thừa nhận không có người thân thích thì cần thời
gian lưu xác để xác định chính xác điều đó trước khi lấy mô, bộ phận cơ
thể hoặc lấy xác của họ. Còn nếu trường hợp tử thi mà chưa xác định được
người thân thích là ai thì theo quan điểm của TS. Phùng Trung Tập, Uỷ ban
nhân dân xã nơi người đó chết không có quyền được hiến cho cơ sở y tế, vì
nó có thể dẫn đến nhiều sự phức tạp như sự lạm dụng, che giấu tội phạm,
16
cho thấy ở nước ta, số lượng chuyên gia pháp y là không nhiều, đặc biệt là
ở một số bệnh viện, cơ sở y tế trung bình. Nếu quy định như điểm c, khoản
2, Điều 27 của Luật sẽ có nhiều trường hợp phải chờ sự có mặt của các
chuyên gia pháp y. Do đó, sẽ kéo dài thời gian vàng cho phép lấy những bộ
phận tạng được hiến ở điều kiện tốt nhất, chỉ bảo quản được trong thời gian
ngắn. Ví dụ như tim chỉ được ghép tối ưu nhất trong vòng 24h kể từ khi lấy
ra khỏi lồng ngực của người hiến, còn thận thì tuy bảo quản để ghép được
có dài thời gian hơn, nhưng cũng không quá 72h. Việc xác định chết não
nên giao cho một hội đồng độc lập gồm các chuyên gia thuộc chuyên khoa
hồi sức, hồi sức tích cực nội – ngoại thần kinh đánh giá dựa trên dấu hiệu
lâm sàng và cận lâm sàng của khoa học kỹ thuật y học hiện đại. Sau khi hội
đồng có kết luận thống nhất thì thủ trưởng sẽ ra quyết định cuối cùng.
- Về điều kiện đối với người được ghép mô, bộ phận cơ thể người, khoản 1,
Điều 30 của Luật không nên quy định chung chung về người có quyền chỉ
17
định ghép mà nên xác định cụ thể người có quyền chỉ định ghép là người
đứng đầu cơ sở y tế có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác. Như vậy sẽ đảm bảo được sự nhanh nhạy trong việc quyết định cấy,
ghép, mặt khác nó còn đảm bảo tính trách nhiệm với từng người cụ thể.
- Về chế độ bảo hiểm y tế và viện phí đối với người ghép: Vì quan hệ cấy,
ghép mô là quan hệ dân sự nên chi phí cho cấy, ghép mô, bộ phận cơ thể
người là do người được cấy, ghép phải trả. Chi phí cho việc cấy, ghép rất
lớn nên nó cần được sự hỗ trợ từ cơ quan bảo hiểm. Tuy nhiên, nếu quy
định như trong Luật thì vấn đề này sẽ rất khó được giải quyết triệt để vì
thực tế, Quỹ bảo hiểm y tế hiện không đủ nguồn để đáp ứng cho nhu cầu
khám chữa bệnh của nhân dân và có nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm. Do đó, để
giảm gánh nặng cho Nhà nước, chúng ta nên ban hành văn bản pháp luật
cho phép các loại hình bảo hiểm mới chuyên về lĩnh vực này hoạt động,