A. Đặt vấn đề:
Vốn là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc thành lập bất kỳ một loại hình
doanh nghiệp nào. Nó góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh
nghiệp nào. Không chỉ vậy, nó còn là cơ sở để quyết định khả năng gánh chịu những
nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, quyết định phần quyền mà các chủ đầu tư và chủ sở
hữu doanh nghiệp được hưởng cũng như phần nghĩa vụ mà họ phải gánh chịu khi tham
gia đầu tư hoặc thành lập ra doanh nghiệp đó. Với ý nghĩa như vậy nên em xin chọn làm
đề tài cho bài tập lớn của mình là: “Phân tích quy định của pháp luật đối với hoạt động
góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam”.
Do kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, hơn nữa nguồn tài liệu tham khảo còn
hạn chế, nên bài viết của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong
thầy cô thông cảm và góp ý để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
B. Giải quyết vấn đề:
I. Cơ sở lí luận về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam:
1. Khái niệm doanh nghiệp:
Theo khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 quy đinh: “Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh”.
2. Khái niệm vốn góp:
Vốn góp là toàn bộ lượng tiền, tài sản và quyền tài sản trị giá được thành tiền
cũng như những tài sản khác không trị giá được thành tiền mà các chủ thể kinh doanh
thỏa thuận đóng góp để phục vụ sản xuất, kinh doanh sẽ vận động và chuyển hóa hình
thái, biểu hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh.
3. Khái niệm hành vi góp vốn:
Theo Khoản 4, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định: “Góp vốn là việc
đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sỡ hữu chung của công ty.
Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền
sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác
Theo quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005, những đối tượng có quyền
góp vốn là :
“Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập
và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh
nghiệp tại Việt Nam:
2
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài
sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
mình;
b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong
các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu
nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn
góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự;
e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh
doanh;
g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.
3. Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
Quy định của pháp luật đối đối với hoạt động góp vốn thành lập doanh
nghiệp tại Việt Nam :
1. Những quy định của pháp luật về hoạt động định giá vốn góp:
Góp vốn để thành lập doạnh nghiệp là một trong những điều đầu tiền cần làm khi
muốn thành lập lập một doạnh nghiệp. Vấn đề ở đây là nhiều người tham gia góp vốn
bằng tài sản khác những tài sản thông dụng để góp vốn. Do đó, cần phải có những quy
định cụ thể thể về vấn đề định giá các tài khác một cách cụ thể. Điều 30 Luật Doanh
nghiệp 2005 quy định về định giá tài sản góp vốn như sau:
“1. Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng
phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định
giá.
2. Tài sản khi góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên hoặc cổ
đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao
hơn so với giá trị thực tế tại thời đểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên
đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số
chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết
thúc định giá.
3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn
thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp
tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp
vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị
thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị
thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.”
4
tài sản theo giá thị trường tại thời điểm định giá. Mẫu biên bản định giá được đính kèm
tại mục lục A (xem Phụ Lục).
5
Đối với tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu trí tuệ như quyền sở hữu công
nghiệp( Thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa…) việc định giá được tiến hành theo hướng
dẫn của Bộ tài chính.
1.3. Thẩm quyền định giá
* Quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về những người có thẩm quyền định giá
tài sản góp vốn:
Luật Doanh nghiệp quy định người thực hiện việc định giá tài sản góp vốn là các
thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá:
- Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được thành viên, cổ đông sáng
lập định giá theo nguyên tắc nhất trí.
- Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn
thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức
chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh
nghiệp chấp thuận.
Như vậy, ta có thể thấy, có hai thời điểm đó là khi thành lập doanh nghiệp và thời
điểm trong quá trình hoạt động doanh nghiệp. Khi thành lập doanh nghiệp chỉ có các
thành viên, cổ đông sáng lập định giá, nhưng trong quá trình hoạt động, để đảm bảo việc
định giá đúng giá trị tài sản góp vốn, các bên cũng có thể thỏa thuận thuê một tổ chức
định giá chuyên nghiệp để xác định giá. Tuy nhiên, giá do tổ chức chuyên nghiệp định
giá chỉ mang tính chất tham khảo; mà việc quyết định giá là do các bên góp vốn quyết
định và thỏa thuận.
* Nhận xét về quy định trên của Luật Doanh nghiệp:
Quy định trên về cơ bản là phù hợp nhưng tồn tại hai vấn đề đó là:
Thứ nhất, theo khoản 2 điều 30 luật Doanh nghiệp, thì các sáng lập viên không thể
trường hợp cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế (Khoản 4). Theo
như thực tế, rất ít có trường hợp định giá tài sản thấp hơn so với thực tế, vì thế, ta sẽ chủ
yếu quan tâm đến việc xử lý trong trường hợp định giá cao hơn so với giá trị thực. Điều
30 luật doanh nghiệp 2005 quy định cách thức xử lí theo hai trường hợp: người định giá
là thành viên sáng lập và người định giá là tổ chức định giá chuyên nghiệp. Cụ thể như
sau:
Một là, đối với tài sản góp vốn được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá.
Nếu tài sản định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành
viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của
tài sản định giá tại thời điểm kết thúc định giá.
Hai là, đối với trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Nếu tài sản
góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn
hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới
chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số
7
chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm
kết thúc định giá.
* Nhận xét về quy định trên của Luật Doanh nghiệp:
Quy định này trên còn tồn tại những hạn chế nhất định đó là:
Thứ nhất, luật doanh nghiệp năm 2005 không quy định rõ về phía doanh nghiệp,
việc định giá do hội đồng thành viên (hoặc đại hội đồng cổ đông đối với công ti cổ
phần), chủ tịch hội đồng thành viên ( chủ tịch đại hội đồng cổ đông hoặc chủ tịch hội
đồng quản trị đối với công ti cổ phần) hay giám đốc thực hiện mà lại xác định người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm . Theo quan điểm
của em, quy định như vậy là chưa được hợp lý và cụ thể, cần phải quy định rõ về phía
doanh nghiệp ai là người thực hiện. Mặc dù ta biết người đại diện theo pháp luật của
chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm
kết thúc định giá” phải được thực hiện ngay ở thời điểm phát hiện vi phạm. Nếu sửa đổi
theo hướng này sẽ vừa thực hiện được mục đích bảo vệ quyền lợi của chủ nợ vừa đảm
bảo thực hiện hiệu quả nguyên tắc “hậu kiểm”, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về
đăng kí kinh doanh.
1.5. Ý nghĩa của việc định giá tài sản vốn góp:
Việc định giá tài sản vốn góp có những ý nghĩa nhất định như bằng việc góp vốn,
người góp vốn được nhận phần vốn góp có giá trị tương ứng với giá trị tài sản góp vốn.
Việc góp vốn nhiều hay ít sẽ quyết định đến quyền năng của chủ sở hữu. Đặc biệt là
trong công ty cổ phần. Tuy nhiên, riêng đối với chủ nợ của pháp nhân công ty, tài sản
khi được đem góp vốn sẽ thuộc về sản nghiệp của công ty, nằm trong khối tài sản có của
công ty và được dùng để đảm bảo cho các khoản nợ của công ty. Nếu tài sản được định
giá cao hơn so với giá trị thực tế, các chủ nợ sẽ bị thiệt hại do giá trị của tài sản đảm bảo
không tương xứng với giá trị của nghĩa vụ mà công ty phải thực hiện.
2. Những vấn đề về hoạt động chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty:
2.1 Những quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về việc chuyển quyền sở hữu
tài sản góp vốn vào công ty:
Điều 29 luật doanh nghiệp 2005 quy định về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn
vào công ty như sau:
“1. Thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp danh và cổ đông công ti
cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ti theo quy định sau đây:
a ) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn
phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất công ti tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước
bạ;
b) Đối với tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực
hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.
9
* Chuyển quyền sở hữu tài sản đối với một số tài sản khác :
Đối với cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam,
ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi chuyển quyền sở
hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ti.
10
Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân, do loại hình doanh nghiệp này chỉ có một
chủ sở hữu góp vốn và thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp được sở hữu toàn bộ
số vốn mà doanh nghiệp có, vì thế, tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra để thành
lập doanh nghiệp không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp.
2.2 Những điểm đáng lưu ý trong việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào
công ty.
* Thời hạn chuyển quyền sở hữu tài sản vào công ty:
Theo lẽ dĩ nhiên, bên cạnh quy định về việc chuyển quyền sở hữu tài sản vào công
ty thì có một câu hỏi đặt ra đó là thời hạn chuyển quyền sỡ hữu tài sản vào công ty là
bao lâu, nếu quá thời hạn đó thì như thế nào? Nhưng Luật Doanh nghiệp 2005 chưa có
quy định cụ thể về điều này. Luật doanh nghiệp 2005 mới chỉ quy định “thành viên phải
góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản như đã cam kết” (Điều 39 – LDN), quy
định này chủ yếu mang tính lý thuyết suông mà chưa nhìn nhận đến thực tế sẽ có những
hậu quả gì đằng sau nó, việc giá trị góp vốn thay đổi sẽ góp phần tạo nên sự tranh chấp
giữa thành viên góp vốn. Đây là mặt hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2005. Vì quy định
như vậy sẽ không phù hợp với quy luật tự nhiên, sẽ tạo điều kiện cho sự chần chừ, cơ
hội của không ít người tham gia góp vốn.
Tuy nhiên, cho đến tận năm 2010, khi Nghị định 102/2005/NĐ-CP của Chính phủ
ban hành đã khắc phục hạn chế trên của Luật Doanh nghiệp. Có nghĩa là mất 5 năm tồn
tại kẽ hở.
Nghị định này đã quy định về thời hạn chuyển giao quyền sở hữu vốn góp vào
công ti như sau:
“1. Thành viên phải góp vốn đầy đủ, đúng tiến độ đã cam kết trong Danh sách
Việc pháp luật hiện hành quy định chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công
ty là một điều cần thiết. Bởi lẽ khi đã góp vốn, người ta không thể góp một cách suông
được, phải có cái gọi là đảm bảo và thực tế thì mới tạo được lòng tin.
Ví dụ như một người muốn góp vốn bằng quyền sử dụng đất, nếu anh ta chỉ nói là
anh ta muốn góp vốn bằng quyền tài sản của mình, mà không có giấy tờ gì chuyển
quyền tài sản của anh ta sang doanh nghiệp thì quyền sử dụng đất đó vẫn thuộc về anh
ta, coi như chưa có hợp đồng chuyển giao tài sản nào ở đây cả. Như vậy, việc quy định
chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty không chỉ là quy định, mà nó còn là
một lẽ thường tình, bắt buộc phải có khi đã có hai từ “góp vốn” vào công ty.
3. Cấp Giấy chứng nhận góp vốn:
3.1 Đối với nhà đầu tư trong nước:
Theo Luật doanh nghiệp 2005, khi thành viên sáng lập công ty hoàn thành nghĩa
vụ góp vốn thì được cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp (đối với công ty trách nhiệm
hữu hạn..) và Cổ phiếu (đối với công ty cổ phần). Giấy chứng nhận vốn góp và các cổ
phiếu có nội dung sau đây:
- Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
12
- Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh;
- Vốn điều lệ của công ty;
- Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu
hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân; tên, địa chỉ
thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng kí kinh doanh đối với thành
viên là tổ chức;
- Phần vốn góp, giá trị vốn góp của thành viên hoặc số lượng cổ phần và loại cổ
phần, giá trị mệnh giá cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu;
- Số và ngày cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp hoặc số đăng kí tại sổ đăng kí cổ
đông và ngày phát hành cổ phiếu;
- Họ, tên, chữ kí của người đại diện theo pháp luật của công ty; với công ty cổ
một cách chủ động và có những phương pháp tối ưu nhất. Có thể nói, pháp luật hiện
hành đã có những mặt phù hợp nhất định của nó trong việc quy định hình về các hoạt
động góp vốn vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế nhất định. Vì
vậy, cần có các biện pháp khắc phục hạn chế và phát huy những ưu điểm để hoàn thiện
them pháp luật về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.
14