Phân tích quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quảng cáo thương mại - Pdf 50

A. MỞ ĐẦU
Mua bán hàng hóa ra đời cũng mở ra nhiều cơ chế mới, có thể nói đến
quảng cáo. Quảng cáo đã bắt đầu có từ khi những người bán hàng rao hàng
nhằm thu hút khách mua hàng của mình.
Trong xã hội ngày nay, khi vấn đề cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh
ngày càng gay gắt thì yêu cầu đặt ra đối với thương nhân là không chỉ phải tạo
ra mặt hàng mới, có hiệu quả, năng suất cao mà còn phải đưa hàng hóa, dịch vụ
của mình đến với mọi người một cách nhanh chóng, vì vậy quảng cáo là sự lựa
chọn đầu tiên.
Tuy nhiên, hàng hóa, dịch vụ nào được quảng cáo, ai là chủ thể quảng cáo
và các hành vi nào bị cấm quảng cáo thì cần phải có pháp luật can thiệp để điều
chỉnh một cách chặt chẽ. Từ nhu cầu thiết yếu đó, đáp ứng sự cạnh tranh mà
không tiêu cực thì pháp luật nước ta đã cho ra đời Luật quảng cáo, ngày nay luật
quảng cáo 2012 là luật đang có hiệu lực. Bên cạnh đó, quy định về dịch vụ
quảng cáo còn được ghi nhận trong Luật thương mại 2005 của pháp luật nước ta.
Trong bài viết này, tôi xin đưa ra sự phân tích của bản thân về quảng cáo
thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện hành, trong quá trình nghiên cứu còn
nhiều thiếu sót kinh mong thầy cô bỏ qua!

1


B. NỘI DUNG
I. Hệ thống lý luận chung
Quảng cáo là một trong những hoạt động của xúc tiến thương mại, bên
cạnh khuyến mại; trưng bày, giới thiệu hàng hóa; hội chợ, triển lãm thương mại
thì quảng cáo có một chức năng quan trọng, là sự lựa chọn đầy tiền năng cho các
chủ thể nếu muốn xúc tiến thương mại.
Vậy, xúc tiến thương mại là “hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán
hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo
thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm

đặc điểm của hoạt động xúc tiến thương mại.
Quảng cáo trên thế giới có lịch sử từ khá lâu đời, tính từ cuối thế kỷ XIX
tới nay đã trả qua năm giai đoạn, gắn liến với sự ra đời của các chiến lược quảng
cáo. Ở Việt Nam, theo ghi chép trong các tài liệu thì quảng cáo xuất hiện khi xã
hội có nhu cầu mua và bán. Phương thức hoạt động quảng cáo sơ khai nhất ở
nước ta chính là các lời rao hàng của những người bán hàng rong trên phố.
Còn hoạt động quảng cáo ở báo chí có lẽ xuất hiện sớm nhất trên 2 tờ báo xuất
bản ở Nam Kỳ là tờ Gia Định báo & tờ Nông Cổ mín đàm từ cuối thế kỷ 19.
Một thời gian sau đó, khi nhu cầu ngày một mở rộng cũng như sự phát triển của
khoa học kỹ thuật thì quảng cáo quyền hình cũng phát triển mạnh mẽ. Vậy,
quảng cáo là gì?
Theo Điều 102 Luật thương mại 2005 thì quảng cáo là “hoạt động xúc tiến
thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng, về hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”
Trong khái niệm này, mới chỉ đề cập đến chủ thể là thương nhân tự mình
thực hiện hoạt động quảng cáo, chứ chưa bao quát được cả loại chủ thể kinh
doanh dịch vụ xúc tiến thương mại, chưa thể hiện được bản chất của dịch vụ xúc
tiến thương mại.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật quảng cáo 2012 thì quảng cáo “là việc sử dụng
các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá
nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự;
chính sách xã hội; thông tin cá nhân”. Khái niệm quảng cáo trong luật quảng
cáo này nghiêng về phía đối tượng quảng cáo hơn là chủ thể như khái niệm trên.
Dù có hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì quảng cáo là mong muốn giới
thiệu đến công chúng hàng hóa, dịch vụ, tức là đưa sản phẩm của mình đến với
nhiều người hơn, phạm vi rộng hơn và khả năng kinh doanh cao hơn. Vấn đề
nghiên cứu của bài này xoay quanh quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, nhằm
mục đích sinh lợi.
3

chóng và ít người sử dụng có thể bỏ được.
Ba là, rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên. Rượu là một chất kích thích,
khi sử dụng quá nhiều, con người sẽ không làm chủ được hành vi gây ra những
hậu quả xấu. Rượu có nồng độ là 15 độ trở lên là rượu mạnh, việc cấm quảng

4


cáo sản phẩm này là hoàn toàn hợp lý, nhằm hạn chế sự phổ biến của rượu đến
mọi người.
Bốn là, Sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản
phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm
nhân tạo. Đối với những trẻ em dưới 06 tháng tuổi, thức ăn duy nhất là sữa mẹ,
sữa mẹ đã đủ cung cấp cho trẻ những chất dinh dưỡng cần thiết, nếu quảng cáo
các loại sản phẩm thay thế sữa mẹ, nhiều người biết đến và sử dụng có thể sẽ
gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường của trẻ nhỏ. Việc cấm đối
tượng này là để bảo vệ sức khỏe cho trẻ em.
Năm là, Thuốc kê đơn; thuốc không kê đơn nhưng được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khuyến cáo hạn chế sử dụng hoặc sử dụng có sự giám sát của
thầy thuốc. Điều này là dễ hiểu bởi những loại thuốc kê đơn, tùy vào đối tượng,
loại bệnh, tình trạng bệnh mà uống với những đơn thuốc khác nhau, nếu cứ
quảng cáo loại thuốc đó mà sử dụng bừa bãi thì không những không chữa được
bệnh, còn gây ra tác dụng xấu. Đối với những thuốc không kê đơn nhưng bị hạn
chế sử dụng hoặc cần có sự giám sát của thầy thuốc thì cũng tương tự như vậy,
quảng cáo mà người sử dụng không thông qua khám chữa, không có sự theo dõi
thì có thể sẽ gây ảnh hưởng đến sức khẻ, thậm chí là mất mạng.
Sáu là, các sản phẩm, hàng hóa có tính chất kích dục. Đây là đối tượng cấm
bán trên thị trường nên sẽ không được phép quảng cáo. Hơn thế nữa, hàng hóa
có tính chất kích dục làm cho con người bị mất khả năng làm chủ hành vi của
mình, điều hướng suy nghĩ của con người ta theo một hướng khác, gây ra những

Theo quy định tại Điều 106 Luật thương mại 2005, phương tiện quảng cáo
thương mại là “công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo
thương mại”
Bao gồm các loại công cụ sau:
Một là, các phương tiện thông tin đại chúng. Là các phương tiện được sử
dụng để truyền đạt thông tin một cách đại chúng, rộng rãi. Ví dụ như báo in, tạp
chí, phát thanh, truyền hình, sách, internet…
Hai là, các phương tiện truyền tin. Ví dụ như điện thoại, email, fax…
Ba là, các loại xuất bản phẩm. Ví dụ như quảng cáo qua báo chí, tạp chí,
bài viết…
Bốn là, các loại bảng, biển, băng, pa-nô, áp-phích, vật thể cố định, các
phương tiện giao thông hoặc các vật thể di động khác. Ví dụ như khi lưu thông
trên đường, ta sẽ thường bắt gặp ở hai bên xe bus có dán các pa-nô hình ảnh một
loại hàng hóa, dịch vụ nào đó để quảng cáo loại sản phẩm đó.
Năm là, các phương tiện quảng cáo thương mại khác.
Ngoài ra, phương tiện quảng cáo còn bao gồm: Trang thông tin điện tử,
thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác; các sản phẩm
in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác, bảng quảng cáo, băngrôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo; hội chợ, hội thảo, hội nghị,
tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao; người chuyển tải sản
phẩm quảng cáo; vật thể quảng cáo (Điều 17 Luật quảng cáo 2012).
Để thực hiện được quảng cáo, chủ thể phải tiến hành lựa chọn sản phẩm và
phương tiện phù hợp với sản phẩm của mình nhất, giúp cho sản phẩm đến được
với mọi người một cách nhanh, dễ hiểu, dễ tiếp cận.

7


4. Chủ thể quảng cáo thương mại
Tùy vào mục đích, cách thức quảng cáo khác nhau mà có các chủ thể khác
nhau.


hành quảng cáo đưa sản phẩm quảng cáo lên phương tiện quảng cáo của mình
với mục đích là thu phí từ công việc đó.
5. Quảng cáo thương mại bị cấm
Các hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm theo quy định tại Điều 109
Luật thương mại 2005 nhằm mục đích thực hiện theo những chính sách của nhà
nước, nhằm đảm bảo giữ gìn trật tự xã hội và ổn định đời sống của người dân.
Theo đó, các quảng cáo bị cấm là, quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước,
phương hại đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội;
các quảng cáo có sử dụng sản phẩm quảng cáo, phương tiện quảng cáo trái với
truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và trái với
quy định pháp luật; quảng cáo hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước cấm hoặc hạn chế
kinh doanh, quảng cáo; quảng cáo thuốc lá, rượu có nồng độ cồn từ 30 độ trở
lên; lợi dụng quảng cáo thương mại gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước; so sánh
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình với người khác để
quảng cáo; quảng cáo sai sự thật về hàng hóa, dịch vụ như số lượng, giá, công
dụng, chất lượng…; sử dụng các sản phẩm quảng cáo vi phạm quyền sở hữu trí
tuệ, sử dụng hình ảnh của cá nhân, tổ chức khác mà chưa được sự đồng ý; quảng
cáo vù mục đích cạnh tranh không lành mạnh.
6. Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại
Nếu chủ thể là người quảng cáo tự mình thực hiện quảng cáo cho hàng hóa,
dịch vụ của mình thì họ chỉ phải xem xét các quy định của pháp luật, và thực
hiện quyền và nghĩa vụ theo luật quy định. Tuy nhiên, nếu có từ hai chủ thể trở
lên, các chủ thể sẽ kí kết hợp đồng dịch vụ quảng cáo.
Loại hợp đồng này phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác
có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và
các hình thức khác theo quy địng của pháp luật.
Nội dung hợp đồng cũng giống như các loại hợp đồng khác, có chủ thể, đối
tượng hợp đồng, thời gian, địa điểm, quyền và nghĩa vụ của các bên…


kiếm văn bản được thống nhất. Bởi bản chất của quảng cáo thương mại là hoạt
động thương mại và cần được điều chỉnh bằng luật thương mại.

10


Thứ hai, xuất phát từ bản chất kinh tế của quảng cáo nên cần phân cấp rõ
thẩm quyền quản lý hoạt động quảng cáo thuộc về cơ quan quản lý nhà nước về
thương mại, để đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

11


C. KẾT LUẬN
Như vậy, quảng cáo trong hoạt động xúc tiến thương mại là một vấn đề rát
thiết thực và cần có sự hiểu biết nhất định để được sử dụng trong đời sống. Vai
trò của quảng cáo thương mại là không thể phủ nhận, nhưng để sử dụng hoạt
động này cần có sự hiểu biết pháp luật và đáp ứng được các điều kiện cơ bản
nhất. Quảng cáo nhìn xa và rộng hơn còn là một sự phát triển của xã hội, tiến
gần hơn đến công cuộc hiện đại hóa đất nước, giúp ổn định đời sống nhân dân,
kinh tế vững mạnh và xã hội phát triển.

12


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.


14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status