Vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng - Thực trạng, nguyên nhân và biện pháp xử lý - Pdf 34

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường
quan trọng trong việc hình thành và giáo dục nhân cách. Hôn nhân là mối quan
hệ đặc biệt trong quan hệ gia đình. Hiện nay, ở Việt Nam, nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng được xem là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam. Hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện trong xã hội dân chủ,
nam nữ bình quyền, xã hội dân chủ xuất hiện từ thời kỳ cận đại. Nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng là nguyên tắc hôn nhân duy nhất được pháp luật bảo hộ
và được công nhận là tiến bộ. Và trong giai đoạn hiện nay thì việc vi phạm
nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng không phải là chuyện lạ mà nó đã và
đang dần ăn sâu vào trong xã hội, trong các gia đình Việt Nam. Trong khuôn
khổ bài viết xoay quanh nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhóm chúng
em xin chọn đề tài: “ Vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng - Thực
trạng, nguyên nhân và biện pháp xử lý. ”.
B. NỘI DUNG CHI TIẾT
1. Khái quát nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng.
1.1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn hình thành và phát triển nguyên tắc.
Thể hiện ở quan điểm của Mác về hôn nhân gia đình là cơ sở hình thành và
phát triển nguyên tắc:
- Chủ nghĩa Mác-Lê nin nhìn nhận về hôn nhân và gia đình là hiện tượng xã hội
có quá trình phát sinh và phát triển do các điều kiện về kinh tế xã hội quyết
định. Trong tác phẩm nổi tiếng của Mác và Ăng ghen đã phân tích và chứng
minh khoa học rằng: “ Lịch sử gia đình là lịch sử phát triển của quá trình xuất
hiện chế độ quần hôn thành gia đình đối ngẫu và phát triển lên thành 1 vợ 1
chồng và không ngừng hoàn thiện hình thức gia đình trên cơ sở sự phát triển
các điều kiện sinh hoạt vật chất của con người.”.
- Mác và Ăng ghen chỉ ra hình thức hôn nhân 1 vợ 1 chồng ra đời trên cơ sở
xuất hiện chiễm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những tài sản khác trong xã
hội cung cấp bởi chính sách và pháp luật của giai cấp thống trị bóc lột ngay từ



luật pháp để thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Vì đây là mục tiêu
quan trọng của cách mạng XHCN.
Trong thời đại nay, Luật Hôn nhân và gia đình quy định vị trí của người phụ
nữ được tôn trọng, họ có những quyền ngang với nam giới, không còn ở địa vị
phụ thuộc, nên trong quan hệ hôn nhân, họ được tự do để quyết định, không ai
có quyền ép buộc, kể cả cha mẹ, ông bà. Trong xã hội XHCN, hôn nhân và gia
đình đã trở thành mối quan tâm của xã hội. Nhà nước dùng luật pháp điều chỉnh
các quan hệ về hôn nhân phát triển theo hướng phù hợp với lợi ích của mọi công
dân, Nhà nước sử dụng luật hôn nhân và gia đình trong đó có nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng như một phương tiện để xây dựng các quan hệ xã hội
mới, nền văn hóa mới và con người mới phù hợp với bản chất xã hội.
2. Thực trạng về vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Trong giai đoạn hiện nay việc vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng không phải là vấn đề lạ lẫm, mới mẻ trong xã hội mà là một vấn đề rất
nóng, một vấn đề mà được cả xã hội quan tâm đến. Với những biểu hiện như
ngoại tình; một người chồng có đến hai, ba người vợ hay ngược lại một người
vợ có đến hai, ba người chồng,… Dưới đây chúng ta sẽ cùng nhau nguyên cứu
về tình trạng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng hiện nay.
Hiện nay, có thể nói việc ngoại tình không còn là vấn đề xa lạ đối với chúng
ta. Một thực tế đặt ra là việc ngoại tình là một hành vi trái pháp luật, nó là minh
chứng cho việc một người đang có vợ hoặc chồng nhưng vẫn chung sống như
vợ, chồng với người khác. Chuyện ngoại tình hoàn toàn không phải mới lạ mà
dường như nó tồn tại rất rõ nét trong đời sống hàng ngày. Rất dễ dàng chúng ta
có thể bắt gặp thông tin về những vụ việc bê bối này chỉ bằng một cú click trên
mạng. Các trang báo sẽ cung cấp đầy đủ cho chúng ta về những vụ việc ngoại
tình từ người nổi tiếng đến những tâm sự của những người trong cuộc cần sự
chia sẻ. Có thể nói ngoại tình như một mốt mới nếu xét mốt này theo mức độ


lan truyền và cả giá trị trang điểm cho người theo mốt này. Hầu hết những

trong luật hôn nhân nhưng họ vẫn làm, và thực tế cho thấy chuyện này vẫn diễn
ra hàng ngày trong xã hội hiện nay.
Đặc biệt, việc vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng còn thể hiện rõ
qua tình trạng đa thê.
Ví dụ như: ở xã Xa Dung (Điện Biên Đông, Điện Biên), có 20 bản, trong đó
người Mông chiếm khoảng 80% và người Thái chiếm khoảng 20% sinh sống
vẫn còn tồn tại phong tục đa thê. Bởi người Mông quan niệm “mười gái chẳng
bằng một trai”. Một ví dụ cụ thể được báo đưa tin, đó là trường
hợp của ông Lầu Chứ Di với 3 vợ và 8 đứa con. Ông Di đã bước sang tuổi 60.
Vào năm 18 tuổi, ông Di kéo bà Chá Thị Dua (SN 1956) về làm vợ. Lấy nhau
về được 3 năm thì bà Dua sinh cho ông hai đứa con gái . Không có con trai, họ
hàng lên tiếng phải kéo thêm vợ hai về đẻ để kiếm con trai nối dõi. Ông Di là
trưởng họ Lầu nên dứt khoát phải có con trai vì thế ông Di tiếp tục đi kéo thêm
vợ nữa. Vào năm 1972, sau nhiều ngày tán tỉnh, cô Chá Thị Mỵ (SN 1965) ở
cùng bản đã ưng cái bụng. Nhưng sau đó, cái miệng “dẻo” của ông Di khiến bà
Sồng Thị Mỵ (SN 1963) dính vào lưới tình. Rồi họ đẻ cho ông 8 người con (3
trai 5 gái).
Việc đa thê ngỡ tưởng rằng đó là chuyện của những dân tộc vùng thiểu số,
dân trí thấp, chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu, nhưng thực tế là
ngay tại thành phố Hà Nội vẫn còn tình trạng có cả một ngôi làng đa thê. Xã
Vân Côn vốn là vùng sâu, vùng xa của huyện Hoài Đức.
Một chị cán bộ Trạm y tế xã Vân Côn cứ cười ngặt nghẽo: “Đúng là đàn
ông xã tôi có phong trào lấy vợ bé thật. Tôi kể ra cho anh thì sợ người ta mắng
cho, nhưng anh cứ đi thực tế dọc ngôi làng Vân Côn mà dò hỏi xem, ngõ nào,
ngách nào cũng có một vài ông năm thê bảy thiếp. Đàn ông Vân Côn dẻo mồm
dẻo miệng, đi đến đâu là gái chết rạp đến đấy”.
Ở đây đã có không biết bao câu chuyện tưởng như chỉ có ở thời phong kiến
nhưng lại diễn ra hàng ngày trên mảnh đất Vân Côn. Có người thì lấy rất nhiều
vợ và quan hệ với cả người tình ở bên ngoài như trường hợp của ông Phạm Văn



dẫn đến những hạn chế trong việc áp dụng nguyên tắc này. Chúng ta có thể đi
tìm hiểu cụ thể vấn đề này như sau:
Về nguyên nhân sâu xa thì: Trước hết ta khẳng định rằng, chế độ hôn nhân
một vợ một chồng chỉ thực sự là chính nó dựa trên cơ sở của tình yêu chân
chính giữa nam và nữ chỉ có được trong chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa và chế
độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà thôi, trong các xã hội này, hôn nhân không
dính dáng, không bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế mà hoàn toàn dựa trên cơ sở
tình yêu chân chính giữa nam và nữ.
Do đó ta thấy nguyên nhân sâu xa ở đây chính là bản chất của xã hội, trong
tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước” Ăngghen đã đặt ra câu hỏi: Vậy thì gia đình tương lai ( tức là gia đình xã
hội chủ nghĩa) sẽ như thế nào khi không còn những nguyên nhân kinh tế, tức là
chế độ tư hữu – cái mà đã đẻ ra gia đình cá thể ấy? Gia đình một vợ một chồng
liệu có mất đi không khi không còn những nguyên nhân kinh tế ấy nữa? có thể
trả lời như sau mà không phải là không có cơ sở, chế độ đó sẽ không mất đi, mà
trái lại chỉ đến lúc bấy giờ mới được thực hiện trọn vẹn. Nhưng điều đó chỉ có
thể trở thành hiện thực trong xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ
nghĩa như đã nói ở trên.
Nhìn vào thực tế chúng ta thấy rằng Việt Nam hiện nay mới đang ở giai đoạn
đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội chứ chúng ta chưa chính thức bước
vào những xã hội lý tưởng này, nghĩa là chỉ khi nào một thế hệ đàn ông không
bao giờ phải dùng tiền hoặc dùng những phương tiện quyền lực để mua một
người đàn bà , và một thế hệ đàn bà không bao giờ phải hiến mình cho một
người đàn ông vì một lí do nào khác ngoài tình yêu chân chính, hoặc từ chối
không dám hiến mình cho người yêu vì sợ những hậu quả kinh tế của việc hiến
thân đó, chỉ khi nào những con người như thế ra đời thì chế độ hôn nhân một vợ
một chồng mới không bị vi phạm, còn đối với xã hội như ở nước ta hiện nay thì



thể trở thành một tài sản để thừa kế. Như vậy người phụ nữ có thể trở thành vợ
của bố, anh, em, hoặc con của anh, con của em chồng khi chồng qua đời.
Thứ hai: Do lối sống sa đọa, ham hưởng thụ, sự xuống cấp của lối sống đạo
đức ở một số bộ phận người. Lối sống gấp, sống thực dụng, buông thả cũng làm
cho các trường hợp vi phạm nguyên tắc 1 vợ 1 chồng xuất hiện ngày càng phức
tạp với nhiều biến tướng như: góp gạo thổi cơm chung, chấp nhận thân phận
làm cô vợ hờ để được bao ăn bao ở...Đặc biệt khi những người có chức có
quyền đua nhau có “bồ nhí”, nuôi “vợ bé”. Trong nhiều trường hợp, nhận thức
của việc đảm bảo và áp dụng nguyên tắc này trên thực tế của người dân còn
chưa đúng đắn. Người vợ, chồng biết người chồng hay vợ của mình chung sống
như vợ chồng với người khác nhưng che giấu, bỏ qua thậm chí do yếu tố tâm lí,
sự phụ thuộc vào người kia hay vì hoàn cảnh gia đình, con cái. Tệ hơn khi có
nhiều trườncg hợp chung sống không hạnh phúc, “ông ăn chả bà ăn nem”, tình
trạng li thân để chung sống với người khác.
Thứ ba: những hạn chế trong việc áp dụng nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng do nhận thức về việc đảm bảo thực hiện và áp dụng nguyên tắc này trên
thực tế của người dân còn chưa đúng đắn. Ý nghĩa của việc thực hiện nguyên
tắc hôn nhân một vợ một chồng chưa được nhận thức đầy đủ. Nhiều trường hợp
vợ, chồng biết người cồng, người vợ của mình chung sống như vợ chồng với
người khác trái pháp luật nhưng không tố giác hành vi này mà còn che giấu, bỏ
qua yếu tố tâm lý hoặc hoàn cảnh gia đình. Về hành vi này thì cũng có thể lí
giải vì lí do họ có tình cảm với nhau, hoặc có thể vì một mục đích kinh tế nào
đó có lợi cho cả hai bên nên họ bất chấp việc mình đang thực hiện những hành
vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Ví dụ: một người chưa có vợ,
có chồng, biết rõ người kia đang có vợ có chồng nhưng vẫn chung sống như vợ
chồng với người đó vì người đó có nhiều tiền, có thể lo cho cuộc sống của
mình, đáp ứng nhu cầu ăn chơi, mua sắm của mình….., còn người có tiền thì có
thể lại mê mẫn người kia vì nhan sắc của họ, hoặc vì một điểm nào đó trong tính



nâng cao nhận thức của người dân trong việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng một cách triệt để nhất trong cuộc sống.
4. Biện pháp xử lý.
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng là một
trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Để bảo vệ chế
độ hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình quy định cấm người đang
có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc
người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng
với người đang có chồng, có vợ. Người nào có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân
một vợ, một chồng tùy theo mức độ vi phạm đối với từng trường hợp cụ thể có
thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
4.1. xử phạt hành chính việc vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng.
Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, trong
đó có hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng, chủ yếu nhằm mục đích giáo
dục để cá nhân vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện sửa chữa, thực
hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật
và để răn đe, phòng ngừa chung.
Để răn đe, phòng ngừa tình trạng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001
về việc xử phạt Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia
đình.
Tại điểm a, điểm b, khoản 1 và Điều 8 và Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày
21/11/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình quy định mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối
với một trong các hành vi sau đây:


a, Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng
với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng.

chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà
còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc
phạt tù từ ba tháng đến một năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết
hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ
một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm.
Theo hướng dẫn tại khoản 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCATANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng các
quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của
Bộ luật Hình sự năm 1999 thì:
Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống
với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với
người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không
công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như
vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và
xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ
quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...
Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một
chồng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu
quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ
dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...


- Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi
này mà còn vi phạm.
Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc
buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status