BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
A. LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội trong đó hôn nhân là cơ sở. Hôn nhân một
vợ một chồng xuất hiện trong xã hội dân chủ, nam nữ bình quyền. Hiện nay,
trong luật hôn nhân và gia đình 2005 cũng quy định nguyên tắc hôn nhân là hôn
nhân một vợ - một chồng. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn không tránh khỏi những
tình trạng hôn nhân trái pháp luật vi phạm nguyên tắc kết hôn một vợ một
chồng. Vậy nguyên nhân vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng là do
đâu, và liệu có biện pháp nào để xử lý sự vi phạm này? Để có thể hiểu rõ vân đề
này nhóm đã tìm hiểu về vấn đề “Vi phạm nguyên tắc hôn nhân 1 vợ, một
chồng. Thực trạng nguyên nhân và biện pháp xử lý”
B. NỘI DUNG
1. Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
1.1 Một số thuật ngữ và khái niệm chung
Trước tiên chúng ta cần phải hiểu chế độ hôn nhân và gia đình là gì? kết hôn là
gì và thế nào là kết hôn trái pháp luật.
Theo điều 8, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì:
− Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết
hôn, ly hôn, nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các
thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con, con nuôi,
giám hộ, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề
khác liên quan đến hôn nhân và gia đình;
− Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp
luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn;
− Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn
nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định.
Khoản 1 điều 2 Luật hôn nhân gia đình 2000 quy định: “hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.”
1
−
Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về
hôn nhân và gia đình nhưng chưa li hôn.
2
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
−
Người đang chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày
03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết
hôn.
−
Người chung sống với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến
trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống như vợ chồng mà có đủ điều kiện
kết hôn nhưng không đăng kí kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày nghị
quyết này có hiệu lực cho đến 01/01/2003)
Theo pháp luật Việt Nam, chỉ có những người chưa kết hôn hoặc những
người tuy đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng đã chết hoặc hai người đã li hôn thì
mới có quyền kết hôn với người khác. Quy định cấm những người đang có vợ
có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhằm xóa
bỏ tận gốc chế độ đa thê phong kiến đảm bảo hạn phúc và sự bền vững gia đình
Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn chế độ một chồng hai vợ tồn tại ở Việt
càng trở nên phổ biến ở nhiều địa phương và ngoại tình đã trở thành nguyên
nhân chính của nhiều cuộc li hôn. Trong công tác xét xử của Toà Án Nhân Dân
thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh năm 2009 cho thấy số vụ ly hôn vì ngoại
tình là 36 vụ trên tổng số 323 vụ ly hôn, chiếm 11%.
Theo số liệu tìm hiểu được, năm 2000 ở Hà Nội có 152 trường hợp vi
phạm nguyên tắc hôn nhân 1 vợ 1 chồng; Kiên Giang là 1.450 trường hợp
và ở Thành Phố Hồ Chí Minh con số này lên tới 4.418 trường hợp. Đặc biệt
tại các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có dân trí thấp thì tình
trạng đa thê đa thiếp vẫn còn tồn tại ở thế kỷ 21.
Ví dụ: vụ án đang gây nhiều tranh cãi một ông ba bà. Ông N quê ở xã Tân
Bửu - Bến Lức - Long An cưới người vợ đầu tiên năm 1994 (có đăng ký kết
hôn), sau một thời gian, đường ai nấy đi. Năm 1996, khi chưa ly hôn, ông N đã
làm đám cưới rồi chung sống không hôn thú với bà vợ hai. Một năm sau, họ
sinh được một con chung. Rồi do mâu thuẫn, họ xin ly hôn. Lẽ ra phải xác định
đây là hôn nhân trái pháp luật thì năm 1999, TAND huyện Bến Lức lại cho ông
N ly hôn bà vợ hai và giải quyết các yêu cầu về tài sản chung, quyền nuôi con,
cấp dưỡng. Năm 2000, ông N lại tổ chức đám cưới và sống chung với bà vợ ba,
có một con chung, đến năm 2004 thì được chính xã Tân Bửu cho đăng ký kết
hôn.
4
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
Theo nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, những người
vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có thể có hai trường hợp sau:
Thứ nhất, người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp vi phạm nguyên tắc
hôn nhân một vợ một chồng.
hoặc có chồng bất kể là công khai hay không công khai thì đều là vi phạm
nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Thứ hai, nam nữ chung sống như vợ chồng, được coi là có quan hệ vợ
chồng nhưng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Việc nam nữ chung sống như vợ chồng được công nhận là có quan hệ vợ
chồng khi mà cả hai bên nam, nữ chung sống dựa trên cở sở tình yêu thương,
muốn chăm sóc, giúp đỡ nhau và thực sự mong muốn thành vợ chồng, cùng
nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc; đồng thời họ đã chung sống công
khai, cùng nhau thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau như vợ chồng và
được họ hàng, xã hội sung quanh thừa nhận là vợ chồng.
Theo quy định của luật HN&GĐ, người đang chung sống như vợ chồng
được coi là có quan hệ vợ chồng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng khi họ kết hôn hoặc lại chung sống như vợ, chồng với người thứ ba. Bởi
vì, mặc dù trong quan hệ đầu tiên, giữa nam và nữ chỉ chung sống như vợ chồng
và không có đăng kí kết hôn nhưng nó đã thỏa mãn các yếu tố của một cuộc hôn
nhân, được pháp luật công nhận và bảo hộ như các quan hệ vợ chồng hợp pháp
khác. Vì thế, giữa nam và nữ chung sống như vợ chồng cũng nảy sinh quyền và
nghĩa vụ đối với nhau nên phải tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng. Do đó,
khi họ kết hôn thì lần kết hôn đó là vi phạm nguyên tắc này và được coi là trái
pháp luật.
Một số trường hợp đặc biệt: hiện nay, vẫn tồn tại một số trường hợp một
chồng hai vợ hoặc một vợ hai chồng. Đó là các trường hợp của cán bộ, bộ đội
miền Nam đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết ra Bắc lại xây dựng gia
đình. Theo hướng dẫn của thông tư 60/DS ngày 22/2/1978 của tòa án nhân dân
tối cao thì đây là trường hợp đặc biệt, là hậu quả chiến tranh, một vấn đề phức
tạp. Do vậy, mặc dù là vi phạm nhưng những trường hợp này không phải do ảnh
hưởng của chế độ hôn nhân phong kiến mà là do ảnh hưởng của chiến tranh.
2.2 Thực trạng giải quyết các trường hợp vi phạm.
Không những thế, các đương sự thường có tâm lý muốn che đậy, giấu diếm phần
vì họ ngại dư luận xã hội, muốn giữ cho gia đình yên ấm, con cái hòa thuận, phần
vì “xấu chàng hổ ai..”
Thứ ba, hiện nay, tình trạng nam nữ chung sống với nhau mà không có
đăng ký kết hôn diễn ra ngày càng phổ biến, được coi là bình thường, nhất là ở
7
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
các thành phố lớn. Đặc biệt ở các vùng núi, vùng dân tộc ít người tình trạng nam
nữ chung sống như vợ chồng xuất hiện ngày càng diễn biến phức tạp, khó kiểm
soát. Các trường hợp vi phạm không có chiều hướng giảm mà ngày càng tăng
xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó một phần là do hoàn cảnh xã
hội. Ở nước ta do tác động từ nền kinh tế thị trường đã hình thành trong xã hội
một bộ phận dân cư khá giỏi, có lối sống tiêu xài. Cùng với đó là lối sống gấp,
sống thực dụng, buông thả trong tầng lớp thanh niên làm cho các trường hợp vi
phạm nguyên tắc một vợ một chồng xuất hiện ngày càng phức tạp, với nhiều biến
tướng như: góp gạo thổi cơm chung, chấp nhận làm cô vợ hờ không thân phận
chỉ để được bao ăn ở. Tuy nhiên đáng buồn là hiện tượng này đang dần trở nên
bình thường, vốn thế; đó cũng là vấn đề bức xúc hiện nay của xã hội.
Thứ tư, một thực tế cho thấy là hiện nay có quan hệ hôn nhân hợp pháp vẫn
ngang nhiên có quan hệ ngoài hôn nhân. Vì thế, làm cho người còn lại trong quan
hệ hôn nhân hợp pháp cảm thấy căng thẳng, đời sống vợ chồng không thể tiếp
tục, nên chính họ - người không vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
lại đâm đơn yêu cầu ly hôn. Chính điều này đã giải thoát cho người vi phạm
nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tiếp tục được thực hiện hành vi vi phạm,
thậm chí hợp lý hóa quan hệ pháp luật của mình theo quy định tại Nghị quyết
02/2000/NQ-HĐTP
bên đương sự dành ít thời gian để tìm hiểu nhau và rồi mau chóng đi tới quyết
định sẽ kết hôn với nhau, nó có chút gì đó bồng bột, hời hợt. Việc đó dẫn đến họ
chưa hiểu nhau, chưa tìm được những tiếng nói chung trong đời sống vợ chồng,
dễ tạo nên tư tưởng ngoại tình.
Nguyên nhân thứ ba: Ngoại tình. Ngày nay người ta đề cao cái tôi cá
nhân đến độ ích kỉ. Trong đời sống hôn nhân sự ích kỉ làm cho các cặp vợ
chồng khó chấp nhận những sai phạm, những khuyết điểm của nhau. Họ thiếu
sự hi sinh cho nhau, thiếu đi sự lắng nghe và thấu hiểu nhau điều đó làm cho
những mâu thuẫn trở nên khó giải quyết. Họ sẽ hướng tới chuyện đi tìm một
người khác biết lắng nghe và chia sẻ với họ khi học gặp những khó khăn, rắc rối
trong cuộc sống. Trong trường hợp đó đã dẫn đến hiện tượng ngoại tình. Cũng
có những khi người ta ngoại tình khi cuộc sống hôn nhân trở nên quá nhàm
chán và đơn điệu, hoặc không may nếu vợ, chồng vì công tác phải xa nhau trong
một thời gian dài khiến họ gặp nhiều khó khăn trong việc chia sẻ những niềm
vui, nỗi buồn và nhiều khi “xa mặt cách lòng”. Khi đó gặp những cái mới họ dễ
dàng bị hấp dẫn và không thể chối từ.
9
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
Nguyên nhân thứ tư: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng không phải vì
tình yêu mà là vì một mục đích khác. Hiện nay, có nhiều trường hợp các đôi
nam nữ kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không phải vì
tình yêu mà là vì một mục đích khác như: do cha mẹ, họ hàng hai bên ép buộc;
vì tài sản; vì ham muốn vật chất... Có những cô gái do muốn tìm một cuộc sống
đầy đủ hơn mà đã chấp nhận là vợ hờ của các đại gia. Do không xuất phát từ
tình yêu thương thực sự và mong muốn được cùng nhau xây dựng gia đình nên
khi chung sống, hai bên dễ gặp phải những mâu thuẫn và do vậy, họ dễ dàng rời
không đạt được”. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan xét xử áp dụng
pháp luật để giải quyết các trường hợp vi phạm trong thực tế, đồng thời tránh
việc các đương sự lợi dụng quyết định này để hợp pháp các quan hệ trái pháp
luật.
Ngoài ra, pháp luật cần phân định rõ: Trường hợp nam, nữ chung sống
như vợ, chồng trước ngày 3/1/1987 theo nghị quyết 35/2000/NQ – QH 10 mà vi
phạm một trong các điều kiện hôn nhân như giữa người có quan hệ cùng dòng
máu trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, người đang có vợ,
đang có chồng sống với người khác…thì không thể công nhận là có quan hệ vợ
chồng.
Hai là, cần sửa đổi các quy định về hình phạt đối với các trường hợp vi
phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Theo Điều 8 nghị định 87/2001/NĐ – CP của chính phủ, mức xử phạt
hành chính đối với các trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
là từ 100.000 đồng – 500.000 đồng. Với điều kiện kinh tế ngày nay, mức xử
phạt đó còn nhẹ và hầu như không có ý nghĩa ngăn đe đối với vi phạm.
Ba là, việc xử lý đối với những hành vi vi phạm nguyên tắc chế độ hôn
nhân một vợ một chồng cần được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nghiêm
túc, kịp thời và đúng pháp luật để phát huy tác dụng giáo dục ý thức tuân thủ
pháp luật hôn nhân và gia đình.
Mục đích của những biện pháp xử lý không phải là trừng phạt, bắt người
vi phạm phải chịu chế tài của pháp luật mà nhằm giáo dục đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật để họ không tiếp tục vi phạm pháp luật, đồng thời
giáo dục những cá nhân khác có ý thức tôn trọng pháp luật, từ đó không vi
phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Có như vậy, pháp luật mới phát huy hết
11
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
Thứ hai, cần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật Hôn nhân và gia
đình đến với nhân dân, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu
số.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chỉ có thể phát huy được hiệu
quả điều chỉnh khi được tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi
người dân tuân thủ một cách triệt để. Muốn vậy, việc phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục Luật hôn nhân và gia đình phải được tiến hành nghiêm túc tới mọi đối
tượng. Luật hôn nhân và gia đình cần sớm được đưa vào trong chương trình
giáo dục ở phổ thông. Tuy nhiên cần chú ý việc giáo dục pháp luật đối với
những đối tượng này phải đồng thời với việc giáo dục đạo đức, truyền thống
trong gia đình. Việc tuyên truyền, phổ biến Luật hôn nhân và gia đình cần được
tiến hành song song với việc vận động nhân dân đấu tranh chống lại những tàn
dư của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, xóa bỏ những phong tục, tập
quán lạc hậu, tự giác chấp hành những quy định của Luật.
Thứ ba, cần sử dụng có hiệu quả những chuẩn mực đạo đức và dư
luận xã hội bên cạnh những quy định pháp luật để ngăn hạn chế tối đa hiện
tượng vi phạm này.
Từ xưa đến nay, xã hội luôn lên án gay gắt tình trạng vi phạm hôn nhân
một vợ một chồng và cho đó là hiện tượng cần bài trừ trong xã hội. Do vậy, có
thể sử dụng dư luận xã hội như một kênh thông tin để có thể vận động, tuyên
truyền chống vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, đồng thời qua đó
phát hiện được các trường hợp vi phạm để kịp thời xử lí.
Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý
thức của người dân về việc chấp hành quy định của pháp luật hôn nhân gia
đình trong đó có nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
1.Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt
14
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –
NHÓM 1 - NO4
Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Luật hôn nhân và gia đình 1959, 1986, 2000
3. Các nghị định, thông tư, nghị quyết:
- Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP.
- Thông tư 60/DS ngày 22/2/1978.
- Nghị quyết 35/2000/NQ – QH 10.
- Nghị định 87/2001/NĐ – CP.
4. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2010, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
5. Khóa Luận tốt nghiệp: Các trường hợp cấm kết hôn – cơ sở lý luận và thực
tiễn áp dụng pháp luật, Tô Thị Thu Trang, Người hướng dẫn TS.Nguyễn Văn
Cừ, Hà Nội 2011.
6. Khóa luận tốt nghiệp: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc giải quyết
các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Trần Thị Thu
Huyền, Người hướng dẫn TS.Nguyễn Phương Lan, Hà Nội 2010.
7. Các website:
www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com
www.diendansinhvienluat.vn
15
BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 –