A.
Đặt vấn đề
Thành phố Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, diện tích hơn
3300 km2, nằm tiếp giáp với 8 tỉnh. Ở vị trí thuận lơi như vậy, nên nhiều đời nay
Hà Nội luôn là một trong những tâm kinh tế, văn hóa của đất nước. Những năm
gần đây, thực tiễn xét cử cho thấy, tình hình tội CĐCĐTS trên địa bàn thành phố
Hà Nội đã và đang có xu hướng gia tăng, vì thế mà giải pháp đấu tranh phòng ngừa
tôi phạm là rất cần thiết. Do đó, em đã lựa chọn Luận văn luật học của Thạc sĩ Ngô
Toàn Thắng về: “Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố
Hà Nội” để nghiên cứu về kết quả của tình hình tội phạm, và sau đó rút ra những
nhận xét của bản thân về kết quả tình hình nghiên cứu.
Về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội,
tác giả đã chia ra làm bốn phần lớn.
Phần thứ nhất là thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên
địa bàn thành phố Hà Nội. Ở phần này, luận văn lại chia thành hai mục nhỏ. Mục
đầu tiên là số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS đã được xét xử trong thống kê. Từ
nguồn của TAND thành phố Hà Nội thống kê theo mẫu 1A, tác giả đã lập ra bảng
thống kê về số vụ và số bị cáo phạm tội LĐCĐTS đã bị xét xử sơ thẩm trên địa bàn
thành phố Hà Nội (2007 – 2011). Theo số liệu cho ta thấy, trung bình mỗi năm có
hơn 250 vụ án với gần 350 bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được đưa ra
xét xử. Năm thấp nhất có 194 vụ với 257 bị cáo, năm cao nhất có 291 vụ và 399 bị
cáo. Trong 5 năm 2007 – 2011, trên đọa bàn thành phố Hầ Nội có tất cả 1716 bị
cáo bị đưa ra xét xử trong 1283 vụ án, trung bình khoảng 1,34 bị cáo/vụ. Theo đó,
tác giả đã đưa ra biểu đồ về số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn
thành phố Hà Nội (2007 – 2011). Thông số về số vụ và số người phạm tội bị xét xử
sơ thẩm có trong số liệu thống kê đã phản ánh cơ bản về lượng của tình hình tội
phạm LĐCĐTS. Đây là phần tội phạm rõ, có trong thống kê chính thức của TAND
Nội chiếm tỉ lệ khá cao với xấp xỉ 15% toàn quốc mặc dù dân chỉ chiếm khoảng
8% dân số cả nước. Như vây, chúng ta có thể rút ra kết luận: tình hình dân trí
không ảnh hưởng nhiều đến tội phạm LĐCĐTS, tỉ lệ người phạm tội ở Hà Nội
chiếm tỉ lệ cao bởi do sự hoạt động giao lưu kinh tế của thủ đô Hà Nội vừa đa
dạng, phức tạp, nên có nhiều điều kiện cho tội LĐCĐTS phát sinh.
Mục thứ hai trong phần thực trạng đó là số vụ và số người phạm tội
LĐCĐTS không có trong số liệu thống kê. Phần này gồm sai số do thống kê về số
vụ án và phần ẩn của tội phạm LĐCĐTS. Về sai số do thống kê, có vụ án một
người phạm tội nhưng có rất nhiều nạn nhân bị LĐCĐTS thực hiện trên địa bàn
không chỉ thành phố Hà Nội mà có thể lan sang các xã, huyện lân cận thành phố
Hà Nội. Trong thực tế, sai số thống kê là điều không thể tránh khỏi, có thể do lỗi
chủ quan hoặc khách quan. Chúng ta chỉ có thể hy vọng sự chính xác tương đối
của các số liệu thống kê, chúng ta không có cơ sở để xác định tỉ lệ chính xác của
các con số thống kê này. Về phần ẩn của tội phạm LĐCĐTS, tác giả đã phân tích
được nguyên nhân xuất phát từ một vài lí do sau:
Một là, do người bị hại không tố giác tội phạm, không trình báo do thiệt hịa
không lớn…
Hai là, lợi dụng đặc điểm tâm lí của người bị hại muốn lấy lại tài sản, người
phạm tội LĐCĐTS thường hứa hen với nạn nhân nên đã không tố giác.
Ba là, do cơ quan bảo vệ pháp luật thiếu trách nhiệm trong việc điều tra, xử
lí tội phạm…
Phần thứ hai là diễn biến của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn thành phố
Hà Nội (2007-2011). Phần này được chia làm hai mục nhỏ. Mục thứ nhất đó là
diễn biến về số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội
(2007-2011). Diễn biến được thể hiện qua mức tăng, giảm bình quân hàng năm và
mức tăng, giảm bình so với năm 2006 về số vụ và số bị cáo LĐCĐTS, được tác giả
phản ánh qua bảng số liệu thống kê và được biểu diễn bằng biểu đồ thể hiện xu
hướng diễn biến của số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS (2007-2011). Dựa vào
nguy hiểm của vụ phạm tội, qua số liệu thống kê của tác giả có thể đánh giá chung
trong giai đoạn 2007-2011 có khoảng 84% số vụ phạm tội LĐCĐTS là tội phạm ít
nghiêm trọng và khoảng 16% số vụ phạm tội là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng. Tuy số vụ phạm tội này không chiếm tỉ lệ cao về số vụ nhưng lại
gây hậu quả rất lớn về tài sản khi có vụ chiếm đoạt hàng tram tỉ đồng như vụ Lê
Hồng Bàng.
Mục thứ hai tác giả nói về cơ cấu phản ánh qua hình thức thực hiện tội
phạm. Điều này không được các cơ quan Tư pháp thống kê đánh giá. Theo khảo
sát thực tế và những số liệu đã có tại luận văn này cho thấy số vụ có tính chất đồng
phạm không nhiều, những vụ án đồng phạm thường chỉ tập trung vào lừa đảo
chiếm đoạt tiền hụi, họ, ngoài ra đó là các vụ ánLĐCĐTS của người có nhu cầu đi
lao động tại nước ngoài… Ở những vụ án này cần nhiều khâu, nhiều công đoạn
khác nhau nên cần có hơn 1 người tham gia và có sự phân công trong khi thực hiện
tội phạm.
Mục thứ ba, tác giả phân tích vấn đề cơ cấu phản ánh qua thủ đoạn phạm tội.
Tác giả đã dung phương pháp chọn ngẫu nhiên, nghiên cứu 110 bản án lấy trong 5
năm từ 2007 đến 2011 để làm rõ hơn về cơ cấu, tính chất của tội phạm LĐCĐTS,
qua đó tác giả đã lập nên bảng thống kê tỉ lệ các thủ đoạn lừa dối thực tế qua
nghiên cứu 110 bản án này và biểu đồ cơ cấu về phương thức, thủ đoạn phạm tội
LĐCĐTS. Trên thực tế, thủ đoạn lừa dối của tội phạm LĐCĐTS rất đa dạng và
phụ thuộc vào rất nhiều tình huống cụ thể. Cùng với những hình thức lừa đảo như
nhau nhưng tùy vào tình huống khách quan cụ thể mà các bị cáo đã có những cách
thức khác nhau để lừ người bị hại. Qua nghiên cứu thực tế, chúng ta nhận thấy rằng
không có sự biến động hay thay đổi lớn về thống kê hình thức lừa đảo qua các
năm. Trong đó, nổi trội là hình thức giả thuê, mượn ô tô, xe máy để chiếm đoạt tài
sản (gần 21%); lừa đảo chiếm bằng cách làm giả giấy tờ nhà đất… (16%); hình
thức giả danh người có chức vụ, quyền hạn để lừa đảo (hơn 15%) và lừa đảo qua
tuyển dụng lao động (gần 27%). Các hình thức này đều là những hình thức dễ dàng
nhanh (từ 2% đến 3% 1 năm). Còn đối với người chưa thành niên, việc thực hiện
tội LĐCĐTS khó khan hơn so với những người đã thành niên, do vậy những người
chưa thành niên phạm tội này khá thấp, năm thấp nhất là năm 2008 với 1,79%, mặc
dù những năm sau cao hơn năm 2008 nhưng không có xu hướng tăng. Như vậy,
đối tượng nữ giới và người chưa thành niên phạm tội chiếm tỉ lệ khá thấp trong số
những bị cáo bị xét xử về tội LDCĐTS, nên chúng ta không cần tập trung vào đối
tượng này trong công tác phòng ngừa.
Về đặc điểm nghề nghiệp: Trong thống kê của TAND thành phố Hà Nội chỉ
có số liệu về cán bộ công chức nói chung, không có số liệu về nghề nghiệp khác.
Từ năm 2007-2011, số lượng cán bộ công chức thực hiện hành vi phạm tội
LĐCĐTS là 11 người chiếm 0,64%, đây là tỉ lệ nhỏ. Chứng tỏ đời sồng của công
nhân viên chức đang dần được cái thiện và họ đã giữ gìn được bản thân mình hơn.
Ngoài dấu hiệu là nghề nghiệp cán bộ công nhân viên chức, tác giả còn lập bảng
thống kê cơ cấu về người phạm tội theo nghề nghiệp, qua đó chúng ta thấy được
những người không có việc làm chiếm tỉ lệ lớn trong số những người thực hiện
hành vi lừa đảo, tiếp đến là những người kinh doanh buôn bán nhà đất, cầm cố tài
sản, tiếp đến là tổng hợp nhiều ngành nghề khác. Do đó chúng ta nhận định cần tập
trung vào những đối tượng này trong công tác phòng ngừa.
Một số đặc điểm khác về nhân thân người phạm tội: Về trình độ văn hóa và
địa điểm phạm tội có ảnh hưởng đến giải pháp tuyên truyền, giáo dục người phạm
tội và số lượng người phạm tội tập trung cao chủ yếu trong vùng nội thành Hà Nội.
Do vậy, công tác phòng ngừa tội phạm cần tập trung hơn vào địa điểm phạm tội.
Mục cuối cùng trong cơ cấutình hình tội phạm, tác giả nói đến người bị hại
trong tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Hà Nội. Ta có thể nhận thấy rằng, những nạn
nhân này phần lớn đều không có công ăn việc làm ổn định, không có trình độ cao
trong nhận thức. Ngoài ra, nạn nhân của tội này còn là những người chuyên kinh
doanh các hình thức dịch vụ, chiếm tỉ lệ cũng khá cao.
Phần thứ tư của tình hình tội phạm đó là tính chất của tình hình tội LĐCĐTS
lí do khác nhau như cả tin, tư lợi hoặc có lòng tham là những nguyên nhân góp
phần thúc đẩy tội phạm được thực hiện, họ đóng vai trò rất lớn trong việc có hay
không tội phạm xảy ra.
Qua tình hình phạm tội LĐCĐTS diễn ra ở địa bàn thành phố Hà Nội, ta
thấy được rằng tình hình tội phạm LĐCĐTS diễn ra chung ở cả nước với diễn biến
rất phức tạp, thủ đoạn lừa dối ngày càng đa dạng, tinh vi và xảo quyệt, nhiều vụ án
lừa đảo có quy mô lớn với giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày càng cao. Trong một
số lĩnh vực tội phạm LĐCĐTS xảy ra rất nghiêm trọng. Ví dụ tình hình LĐCĐTS
tiền thuế giá trị gia tăng, lừa đảo người có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài...
nhiều vụ án LĐCĐTS có giá trị đặc biệt lớn như vụ Nguyễn Đức Chi LĐCĐTS tài
sản của Nhà nước, các doanh nghiệp tại Nha Trang – Khánh Hoà lên đến trên 160
tỉ đồng đang được điều tra xử lí v.v…Có thể nói tội phạm LĐCĐTS đã và đang
gây ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân, trật tự an ninh
xã hội. Để có thể phòng ngừa tội phạm LĐCĐTS, chúng ta còn cần phải nghiên
cứu THTP và đánh giá đúng đặc tính về lượng của THTP LĐCĐTS, ngoài việc
nghiên cứu những vụ phạm tội đã được phát hiện và xét xử, thì một phần quan
trọng cần phải được xem xét, nghiên cứu, đó là phần ẩn của THTP. Hiện nay một
số cơ quan Công an nhận tin báo hoặc phát hiện vụ phạm tội lừa đảo CĐTS, nhưng
cho rằng khả năng không điều tra khám phá được, nên không thực hiện việc thống
kê, báo cáo. Đây có thể vì bệnh thành tích nên một số cơ quan Công an địa phương
đã không khởi tố vụ án LĐCĐTS để từ đó cơ quan điều tra tính thành tích điều tra
khám phá đạt tỉ lệ cao. Vì vậy, chúng ta phải đưa ra các biện pháp phòng ngừa để
giảm tình hình phạm tội cũng như kịp thời phát hiện để tránh gây ra những hậu quả
nghiêm trọng cho xã hội:
+ Các cơ quan Tư pháp cần động viên khuyến khích tuyên truyền cho công
dân, mở nhiều lớp phổ biến về vấn đề này.
Do đặc điểm của tội lừa đảo CĐTS xảy ra dưới vỏ bọc “gian dối” và nhiều
khi có một phần lỗi của người bị hại. Cho nên việc tố giác kịp thời, không chỉ
nhận tin báo tội phạm. Từ đó, nhằm tạo ấn tượng tốt, sự tin tưởng cao của nhân dân
vào cơ quan Tư pháp. Đồng thời cơ quan Tư pháp phải tích cực nâng cao hiệu quả
điều tra, xử lí thu hồi tài sản cho người bị hại. Có như vậy, mới có thể động viên
khuyến khích người bị hại cũng như những nhân chứng tích cực mạnh dạn trình
báo cơ quan Công an để điều tra và rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm bổ
sung tuyên truyền cho người dân. Nếu việc báo tin đến cơ quan Tư pháp mà tội
phạm không bị xử lí, tài sản không được thu hồi thì sẽ dẫn đến tâm lí mất niềm tin
vào cơ quan Tư pháp và do đó mức độ phạm tội sẽ tăng cao. Mặt khác phải tuyệt
đối giữ bí mật người nhân chứng tố giác tội phạm, trong những trường hợp cần
thiết phải có kế hoạch bảo vệ nhân chứng, coi đây là trách nhiệm của cơ quan
Công an đối với công dân tích cực tố giác tội phạm.
+ Cơ quan Công an cần sử dụng các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa và
phát hiện kịp thời nhanh chóng tội phạm LĐCĐTS.
Lực lượng Công an phát huy cao độ các giải pháp chuyên sâu trong công tác
nghiệp vụ như xây dựng mạng lưới bí mật, cơ sở đặc tình… trong các cơ quan
doanh nghiệp, địa bàn có nhiều nguy cơ mà tội LĐCĐTS có thể xảy ra nhằm phát
hiện kịp thời, chính xác hành vi phạm tội, góp phần giảm mức độ tình hình tội
LĐCĐTS. Nếu các vụ án được phát hiện kịp thời và xử lí công minh làm tăng lòng
tin của nhân dân đối với cơ quan Tư pháp, từ đó họ tích cực tham gia đấu tranh
phòng, chống tội phạm và do vậy, hiệu quả phát hiện, ngăn ngừa tội phạm sẽ đạt
được kết quả cao.
Mặt khác, cần có giải pháp cảnh báo và khuyến cáo các thủ đoạn LĐCĐTS
đến tận các gia đình trong địa bàn quản lí, điều này không những có ý nghĩa phòng
ngừa tội phạm mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện tội LĐCĐTS và
nâng cao nhận thức của nhân dân, từ đó kịp thời phát hiện hành vi phạm tội
LĐCĐTS từ phía nhân dân.
Cơ quan Công an cần có cơ chế khuyến khích tặng thưởng người tích cực tố
giác tội phạm LĐCĐTS, coi như nguồn kinh phí “mua tin báo” tội phạm. Cơ chế
giảm thiểu mức độ của tội phạm LĐCĐTS có yếu tố quốc tế.
Hạn chế thấp nhất tình hình tội phạm LĐCĐTS có ý nghĩa quan trọng nhằm
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này, đồng thời góp phần thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.