Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở việt nam - Pdf 38


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Những số liệu
nghiên cứu trình bày trong Luận án được trích dẫn từ nguồn cụ thể, có độ tin cậy. Những kết
quả nghiên cứu của Luận án là trung thực.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN


1
1

LÊ QUANG THÀNHMỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN

Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO

CHIÉM ĐOẠT TÀI SẢN DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN 28 Ở VIỆT
NAM

2.1. Nhận thức chung về phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người 28 nước
ngoài thực hiện

2.2. Nội dung và biện pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do 47 người nước
ngoài thực hiện

Chương 3. THỰC TIỄN PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIÉM ĐOẠT TÀI


4. 57.

PHỤ LỤCBẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

4.1.


4.58.

4.59.

4.75
. 3
.5

4.81
. 3
.7

4.84
. 3
.8

4.76.

DANH MỤC

BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU CÓ TRONG LUẬN ÁN



4.97.
3.12

4.98.

Tình hình công tác khám phá, điều tra, truy tố, xét xử

4.99.
177

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện

4.10
0. 3
.13

4.11
5. 3
.18

4. 3.
4.124.

4.101.

Thống kê điển hình tội phạm do người nước ngoài

thực hiện ở Việt Nam và tỷ lệ tội lừa đảo do người nước


giới, nhằm thực hiện chủ trương công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Với xu thế này, ngày càng có nhiều
người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống và làm việc. Phần lớn trong số họ đều chấp hành tốt
kỷ cương pháp luật của nước mà họ là công dân, cũng như pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, lợi
dụng chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta, cũng có không ít các đối
tượng là người nước ngoài đã vào Việt Nam để hoạt động phạm tội. Từ đầu năm 2010 đến nay
đã xuất hiện nhiều phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm người nước ngoài, đặc biệt là
những hoạt động hết sức tinh vi của các đối tượng người nước ngoài thực hiện các hành vi lừa
đảo CĐTS.

4.127. Theo thống kê của Cục Thống kê tội phạm & CNTT - Viện KSNDTC và Bộ
Công an, từ năm 2000 đến năm 2010 đã phát hiện, điều tra xử lý khoảng 1.300 vụ với gần 3000
đối tượng người nước ngoài thực hiện tội phạm ở Việt Nam. Trong đó, phát hiện và xử lý 130
vụ người nước ngoài phạm tội lừa đảo CĐTS, chiếm khoảng 10% tổng số vụ án. Từ đầu năm
2010 đến nay, tình hình người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam diễn biến khá phức tạp. Trong
năm 2014, Công an TPHCM đã phát hiện, xử lý 137 vụ việc do người nước ngoài thực hiện,
với 151 đối tượng, trong đó có 18 vụ lừa đảo CĐTS, với 39 đối tượng. Chỉ riêng 6 tháng đầu

8
8


năm 2015, Công an TPHCM đã phát hiện, xử lý được 52 vụ với 127 đối tượng người nước
ngoài phạm pháp hình sự và trong tổng số 52 vụ đó đã có tới 13 vụ với 32 đối tượng thực hiện
các hoạt động lừa đảo CĐTS. TAND TPHCM, trong năm 2014 đã xét xử 37 vụ án do người
nước ngoài gây ra, trong đó có 8 vụ lừa đảo CĐTS. Tại Hà Nội, từ tháng 12/2011 đến tháng
11/2015, toàn thành phố Hà Nội đã phát hiện 117 vụ tội phạm có yếu tố nước ngoài, tăng 52 vụ
(89%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó hoạt động lừa đảo, CĐTS do người nước ngoài thực
hiện cũng có xu hướng gia tăng. Tháng 10/2014, tại Hội nghị tăng cường hợp tác quốc tế về
phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao xâm phạm TTATXH, Trung tướng Phan Văn

khăn trong công tác điều tra, xử lý; trình độ năng lực chuyên môn và ngoại ngữ, tin học của cán
bộ làm công tác phòng ngừa, điều tra, xử lý đối với tội phạm người nước ngoài còn hạn chế;
đối tượng phạm tội đa dạng, nhiều quốc tịch. Mặt khác, hoạt động phòng ngừa, điều tra xử lý
gặp vướng mắc vì các đối tượng người nước ngoài ngày càng tinh vi, xảo quyệt và chủ yếu lợi
dụng những sơ hở, điểm yếu trong các lĩnh vực mới như chứng khoán, tín dụng, ngân hàng... để
lừa đảo CĐTS. Những lý do nói trên càng làm cho công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo
CĐTS do người nước ngoài thực hiện gặp nhiều khó khăn.

4.129. Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội
phạm người nước ngoài nói chung, tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói
riêng, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Hình sự, TTHS, tạo cơ sở pháp
lý vững chắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là tội lừa đảo CĐTS do
người nước ngoài thực hiện; đảm bảo xử l đối tượng phạm tội một cách nghiêm minh trước
pháp luật, tạo niềm tin đối với nhân dân về uy tín của Nhà nước đồng thời không làm ảnh
hưởng đến đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong xu thế hội nhập toàn cầu
hóa, NCS chọn nghiên cứu đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do
người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học.
2. Mụ c đ ích và nhiệ m vụ nghi ên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu

4.130. Luận án đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện lý luận
và nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở
Việt Nam trong thời gian tới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

10
10


11


ngoài thực hiện; tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện và thực tiễn hoạt
động phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam,chủ yếu trên
phương diện hoạt động của lực lượng CAND.

- Về địa bàn: Toàn quốc (Tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, trọng điểm về
kinh tế - thương mại).

- Về thời gian: Từ năm 2005 - 2014.
4.

Phương phá p 1 uận và phương phá p nghi ên cứu của luận án

4.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện
chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối,
quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội
phạm trong tình hình mới.

4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp điều tra chọn mẫu theo lát cắt ngang

4.133. NCS đi vào phân tích điển hình số liệu các vụ việc lừa đảo CĐTS do người nước
ngoài thực hiện từ năm 2005 đến năm 2014 với các tiêu chí về loại hành vi phạm tội; quốc tịch
bị can; những vụ việc đã áp dụng chế tài hình sự, các bị can đã bị áp dụng chế tài hình sự; các
vụ việc và bị can chưa bị áp dụng hoặc không bị áp dụng chế tài hình sự; nguyên nhân của việc
chưa áp dụng chế tài hình sự đối với những hành vi phạm tội? Từ đó đưa ra những đánh giá về
hiệu quả thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện.
Phương pháp này được áp dụng tại Chương 3 của Luận án.

hạn chế, yếu kém cần khắc phục và nguyên nhân của chúng; đề xuất giải pháp và kiến nghị
trong Chương 4 của luận án.

- Phương pháp điều tra điển hình: NCS lựa chọn địa bàn điển hình là Thành phố Hồ
Chí Minh và những địa bàn, lĩnh vực xảy ra nhiều vụ án lừa đảo CĐTS do người nước ngoài
thực hiện; chỉ ra nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực
hiện; đưa ra sự liên quan, tính quy luật về sự phát sinh, tồn tại và phát triển của loại tội phạm

13
13


này và trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét, đánh giá chung và đưa ra những kết luận về vấn đề
nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để làm sáng tỏ các nội dung ở Chương 3,
Mục 3.2.
5. Đóng góp m ới về khoa học của luận án

- Luận án góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS do
người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam;

- Chỉ ra các nguyên nhân, điều kiện của loại tội này và đưa ra dự báo về đặc điểm của
tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua;

- Làm rõ những ưu điểm trong nhận thức và thực tiễn áp dụng lý luận về phòng ngừa
tội phạm; các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS trong phòng ngừa, đấu tranh với
tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện, đồng thời chỉ ra những điểm còn hạn chế;

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận, nâng cao hơn nữa
hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện
ở Việt Nam trong thời gian tới.



4.138.
Chương 4. Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài
thực hiện ở Việt Nam trong thời gian tớiChương 1
4.139. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐÉN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

4.140. Từ những công trình của nhiều nhà nghiên cứu đã công bố có thể thấy rằng liên
quan đến đề tài luận án cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau của các nhà khoa học. Phần lớn các tác giả nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý
luận của Tội phạm học; nghiên cứu về tội lừa đảo CĐTS theo quy định của pháp luật Hình sự;
hoặc nghiên cứu tội phạm lừa đảo CĐTS dưới góc độ tội phạm học và điều tra tội phạm như về
diễn biến của tình hình tội lừa đảo CĐTS; về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo
CĐTS; đặc điểm hình sự của tội lừa đảo CĐTS; về hoạt động phòng ngừa, hoạt động điều tra tố
tụng của lực lượng CSND, hoạt động xử lý đối với loại tội phạm này. Có thể khái quát như sau:

- Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý luận của Tội phạm học và
phòng ngừa tội phạm, điển hình là: Sách chuyên khảo “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa
tội phạm”, Nxb CAND, Hà Nội, 2001 do GS, TS Nguyễn Xuân Yêm chủ biên; Sách chuyên
khảo “Phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới”, của tập thể tác giả, Nxb CAND, Hà Nội
2001; Giáo trình Tội phạm học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1999, (tái bản năm 2011) của GS, TS Võ
Khánh Vinh; Sách chuyên khảo, Viện NCNN&PL (2004), Tội phạm học, luật hình sự và luật tố
tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Sách chuyên khảo “Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa” của GS,TS Nguyễn Xuân
Yêm và PGS, TS Nguyễn Minh Đức, Nxb CAND, năm 2011; Giáo trình Tội phạm học của GS,
TS Đỗ Ngọc Quang, năm 2012 - Trường ĐH CSND; Giáo trình Tội phạm học, Nxb CAND
năm 2013 của GS, TS Võ Khánh Vinh viết cho Đại học Huế 2013; Giáo trình Đặc điểm tội
phạm học của tội phạm về trật tự quản lý kinh tế - chức vụ và biện pháp phòng ngừa, của

Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, Đề tài khoa học cấp Bộ của PGS, TS
Trịnh Văn Thanh, năm 2009;

- Những nghiên cứu về lý luận và phương pháp điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, theo chức năng của lực lượng CSND hoặc theo từng lĩnh vực, cụ thể như:

17
17


“Phươngpháp điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Mạo Anh năm 1996, bảo vệ tại Trường Đại học CSND; “Tổ chức hoạt động điều tra vụ án lừa
đảo chiếm đoạt tài sản”, Đề tài khoa học cấp Bộ của Nguyễn Văn Yên, Trường Đại học CSND
năm 1997. Trong số này có một số đề tài đi sâu vào nghiên cứu hoạt động của lực lượng CSND
trong điều tra, xử lý đối với tội phạm trong các lĩnh vực cụ thể về ngân hàng, thuế, xuất khẩu
lao động... như: Đề tài “Phát hiện, điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt
động đưa người đi lao động ở nước ngoài của lực lượng Công an nhân dân ”, của Đinh Anh
Tuấn, Học viện CSND năm 2005; Đề tài “Tội phạm lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng trong
giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta - Thực trạng và các giải pháp đấu tranh
của lực lượng Cảnh sát kinh tế”, Đề tài khoa học của Học viện CSND năm 1999; Hoạt động
lừa đảo trong việc thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh của
lực lượng Cảnh sát nhân dân ”, Đề tài khoa học của Học viện CSND 2005; hoặc về phương
diện hợp tác quốc tế phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm có yếu tố nước ngoài của lực lượng
CSND có công trình “Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố
nước ngoài của lực lượng Cảnh sát nhân dân

-

Lý luận và thực tiễn”, Đề tài cấp Bộ của ThS Nguyễn Giang Nam, năm 2010;


nghiên cứu, cũng như những công trình nghiên cứu sau này.

4.141. Bên cạnh các công trình nêu trên còn có những bài báo khoa học đăng trên các
tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí TAND, Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ pháp luật,
Tạp chí CAND... đề cập tới một số vấn đề có liên quan đến người nước ngoài, tội lừa đảo
CĐTS ở các góc độ khác nhau như: “Bàn về việc giải quyết những vụ lừa đảo trên thẻ của
người nước ngoài”, của tác giả Vũ Trọng Thưởng, Tạp chí Kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, số tháng 02/2011, tr. 58 - 59, 62; “Xác định ranh giới các tội lừa đảo, lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản với giao dịch dân sự”, của tác giả Vũ Quốc Thắng, tạp chí Kiểm sát,
số 6/1999. và một số bài báo, tạp chí khoa học khác.

4.142. Những công trình, kết quả nghiên cứu của các tác giả mà chúng tôi tham khảo,
nghiên cứu, hệ thống lại cho thấy không nhiều công trình có hướng nghiên cứu với nội dung
chuyên sâu về lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm người nước ngoài, đặc biệt là lý luận
và thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam. Nhiều
công trình nghiên cứu chủ yếu là trên phương diện tội phạm và điều tra tội phạm lừa đảo
CĐTS; những nội dung chủ yếu mà các tác giả nghiên cứu hầu hết đều liên quan đến công tác

19
19


hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CAND. Hoạt động phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội)
của các chủ thể có thẩm quyền như TAND, VKSND, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể,
quần chúng nhân dân còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức; không nhiều nghiên cứu
chuyên sâu về áp dụng pháp luật Hình sự, pháp luật TTHS đối với người nước ngoài. Bên cạnh
đó, vấn đề hoàn thiện quy trình phối hợp trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm
lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện cũng chưa được khai thác, nghiên cứu một cách
hệ thống. Mặt khác, đa số các công trình mà các tác giả nghiên cứu cũng đã diễn ra khá lâu từ
đầu những năm 2000, hiện nay đã gần 20 năm. Điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội trong xu

- Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
xã hội chủ nghĩa theo quy định của BLHS 1985 và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định
của BLHS 1999 như: mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể của tội
phạm; trách nhiệm hình sự, đường lối xử l đối với người thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo
CĐTS... Những vấn đề nói trên đã được các tác giả đề cập tương đối đầy đủ, rõ ràng với cơ sở
lý luận khá vững chắc và có thể sử dụng để tham khảo khi nghiên cứu các công trình tiếp theo;

4.145. Thứ hai, về người nước ngoài và chế độ pháp lý người nước ngoài

4.146. Những vấn đề lý luận về người nước ngoài và chế độ pháp lý của người nước
ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam; về thực trạng tình hình người nước ngoài ở Việt
Nam; về việc quản lý xuất nhập cảnh, cư trú của nười nước ngoài. đã được một số công trình đề
cập khá đầy đủ, chi tiết. Các công trình đã đưa ra và làm rõ thêm một số khái niệm: về người
nước ngoài; về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quản l nhà nước đối với người nước ngoài ở
Việt Nam; làm rõ địa vị pháp l của người nước ngoài và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà
nước đối với họ ở Việt Nam. Các công trình đã khái quát thực tiễn quản lý nhà nước đối với
người nước ngoài, tình hình vi phạm pháp luật của người nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động
xử l vi phạm của các cơ quan chức năng trong những năm cuối 1990 của thế kỷ XX. Từ đó, đưa
ra những định hướng, kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản l người nước
ngoài; nâng cao thức pháp luật, văn hóa pháp l ; đổi mới bộ máy, cán bộ, cơ chế quản l nhằm
thực hiện quản l nhà nước có hiệu quả đối với người nước ngoài ở Việt Nam. Chẳng hạn như
công trình "Quản lý nhà nước về an ninh đối với người nước ngoài tại Việt Nam", Luận án Tiến
sĩ của NCS Ngô Phúc Thịnh - Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 2002. Một số kiến nghị có
tính khả thi của một số tác giả về sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đã ban hành khi đó,
tập trung vào một số điều của Bộ luật Hình sự, đặc biệt là kiến nghị: "Cần bổ sung hình phạt

21
21



lừa đảo CĐTS theo chức năng của các chủ thể tham gia phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo

23
23


CĐTS. Cũng đã có công trình đưa ra khái niệm “phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS do người
nước ngoài thực hiện” theo phương diện hoạt động của lực lượng CAND. Chẳng hạn như Đề
tài cấp Bộ của GS, TS Trịnh Văn Thanh “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại
các tỉnh, thành phố phía Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, TP HCM
năm 2009. Theo đó, phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS là hoạt động sử dụng các biện pháp
phòng ngừa xã hội và biện pháp phòng ngừa chuyên biệt phù hợp với chức năng và nhiệm vụ
của từng chủ thể, trong khuôn khổ quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu là làm hạn
chế, tiến tới loại trừ nguyên nhân và điều kiện tội phạm lừa đảo CĐTS.

4.154. Các công trình nghiên cứu như chúng tôi đã hệ thống trước đây, cũng đã đề cập
nhiều đến những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý, nguyên tắc hoạt động cũng như thực trạng việc
tổ chức lực lượng, hoạt động đấu tranh phòng, chống của các chủ thể, nhất là của lực lượng
CSND trong phòng ngừa, điều tra, xử lý với loại tội phạm lừa đảo CĐTS, tội phạm lừa đảo
CĐTS có yếu tố nước ngoài; về thực tiễn phòng ngừa, điều tra tội phạm do người nước ngoài
thực hiện; việc xác định trách nhiệm hình sự và áp dụng chế tài hình sự đối với các hành vi
phạm tội của các chủ thể là người nước ngoài ở Việt Nam. Tiêu biểu là công trình nghiên cứu
của PGS,TS Trần Phương Đạt “Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa
tội phạm do người nước ngoài gây ra ở Việt Nam”, năm 2001; hoặc Đề tài khoa học cấp Bộ của
GS, TS Trịnh Văn Thanh “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh,
thành phố phía Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”năm 2010.

4.155. Thứ sáu, về các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm lừa đảo CĐTS và tội phạm có yếu tố nước ngoài


nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

4.158. Những kết luận, giải pháp và kiến nghị khoa học đó phần nào cũng là căn cứ để
các nghiên cứu tiếp theo tham khảo, trong đó có luận án của NCS. Mặt khác, tiếp tục nghiên
cứu những vấn đề mà các công trình trước đây còn chưa đề cập tới hoặc đã đề cập tới song theo
một hướng tiếp cận khác.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoà i nước

25
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status