Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại và trọng trài thương mại - Pdf 34

A, Lời mở đầu.
Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn hay bất đồng về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hợp đồng thương mại.
Trong điều kiện kinh tế thị trường đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, tự do hóa thương mại thì tranh chấp thương mại xuất hiện như một
hiện tượng kinh tế-xã hội tất yếu. Để giải quyết những tranh chấp này có bốn
phương thức chủ yếu trong đó trọng tài là một phương thức thể hiện được
nhiều ưu thế. Song thực tiễn áp dụng ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều hạn chế,
thiếu sót.
B, Nội dung.
I, Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại và trọng trài
thương mại.
1.1, Giải quyết tranh chấp thương mại.
1.1.1, tranh chấp thương mại.
Theo luật thương mại 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
mục đích sinh lời, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Các tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thương mại, chủ yếu là hoạt động của thuonwg
nhân được gọi là tranh chấp thương mại.
Hiểu một cách khái quát thì tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn
hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện
các hoạt động thương mại. Trong điều kiện kinh tế thị trường, đặc biệt là
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại thì tranh chấp
thương mại xuất hiện nhu một hiện tượng kinh tế- xã hội tất yếu.

1


1.1.2, Phương thức giải quyết tranh chấp.
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng tồn tại bốn phương thức
giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản đó là: thương lượng, hòa giải, trọng

các bên thỏa thuận lựa chọn đóng vai trò là trung gian giữa hai bên, phán xét
một cách công tâm trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Hai là, trọng tài thương mại là một hình thức giải quyết tranh chấp
thương mại thông qua thủ tục tố tụng chặt chẽ. Trong quá trình giải quyết
tranh chấp thương mại trọng tài viên và các bên đương sự pải tuyệt đối tôn
trong và tuôn thủ theo đúng trình tự, thủ tục nêu tại LTTTM 2010 và quy tắc
tố tụng của tổ chức trọng tài quy định.
Ba là, phán quyết cuối cùng của trọng tài đưa ra là sự kết hợp linh hoạt
giữa yếu tố thỏa thuận và yếu tố tài phán.
1.2.3, các hình thức trọng tài.
Hiện nay, trọng tài thương mại ở các nước nói chung tồn tại dưới hai hình
thức cơ bản là trọng tài vụ việc và trọng tài thương trực.
a) trọng tài vụ việc.
trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài hình thành trên sự thỏa thuận
của các bên để giải quyết tranh chap. Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại
trong thời gian giải quyết tranh chấp, sau khi tranh chấp được giải quyết
trọng tài vụ việc sẽ chấm dứt.
cơ cấu tổ chức của trọng tài vụ việc nhìn chung rất đơn giản và linh
hoạt. trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trưc, không có bộ máy điều
hành thường xuyên, liên tục và thậm chí không có danh sách trọng tài viên
riêng.
Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình. Do vậy khi
đưa ra vụ tranh chấp để giải quyết các bên có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ
quy tắc tố tục phổ biến nào, mà thông thường là quy tắc tố tụng của trung
tâm trọng tài uy tín ở trong nước và trên quốc tế.

3


b) trọng tài thường trực.

4


a) ưu điểm:
thứ nhất :giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đảm bảo được
bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp của các bên tranh chấp. theo điều 4
LTTTM 2010 giả quyết tranh chấp bằng trọng tài thưng mại được tiến hành
công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Đây là một ưu thế so
với nguyên tắc xét sử công khai của tòa án trong trường hợp giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực thương mại đầy nhậy cảm.
thứ hai :giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được thực hiện
theo trình tự tố tụng linh hoạt mềm dẻo LTTTM 2010 quy đinh thủ tục giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa
thuận của các bên, và đề cao sự thỏa thuận này. Các bên đương sự có thể
thỏa thuận về: ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài (khoản 2 điều 10
LTTTM 2010), địa điểm vụ tranh chấp (khoản 1 điều 11 LTTTM 2010), đối
với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài các bên có thể chọn luật áp dụng
(khoản 2 điều 14 LTTTM 2010).
Thứ ba : phán quyết của trọng tài thương mại có tính chung thẩm, tính
chung thẩm của phán quyết trọng tài được thể hiện khi các bên đưa tranh
chấp ra giải quyết tại trọng tài, vụ việc đó xẽ được xét xử ở một cấp duy
nhất, phán quyết của trọng tài đư ra có hiệu lực như bản bản án của tòa án và
có giá trị ràng buộc với các bên tranh chấp. khi bphans quyết đưa ra các bên
không thể chống án hay kháng án.
Thứ tư : giaỉ quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại giúp duy trì
được mối quan hệ đối tác của các bên. Trước khi đem vụ tranh chấp thương
mại để giải quyết bằng trọng tài, các bên cùng ngồi bàn bạc, nêu ý chí
nguyện vọng chủ quan của mình, từ đó xây dựng nhũng thỏa thuận nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích của đôi bên trong quâ trình tố tụng trọng tài chính sự



6


a) nguyên tắc về thỏa thuận
thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại có thể phát sinh hoặc không phát sinh.
Quyền lực của trọng tài hoàn toàn do các bên tự thỏa thuận, không có thỏa
thuận thì sẽ không có trọng tài.
Tại khoản 1 điều 4 LTTTM 2010 quy định điều kiện “tranh chấp được
giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận
trọng tài có thể thỏa thuận trước hoặc sau khi tranh chấp”. ngay khi kí kết
hợp đồng tức là khi tranh chấp chưa sảy ra, quyền và nghĩa vụ của các bên
chưa có bất kỳ mâu thuẫn gì, các bên đã có thể thỏa thuận dự liệu phương
thức giải quyết tranh chấp cho tương lai hoặc có thể lựa chọn phương thức
trọng tài sau khi tranh chấp đã được nảy sinh. Sau khi phát sinh tranh chấp,
thẩm quyền giải quyết tranh chấp xẽ thuộc về trọng tài. Tòa án phải từ chối
giải quyết nếu nhận được đơn khởi kiện. viêc ra hạn, thay đổi, hủy bỏ, vô
hiệu của hợp đồng không làm mất giá trị pháp lí của thỏa thuận trọng tài.
Hiệu lực của thỏa thuận được pháp luật ghi nhận tai điều 19 LTTTM 2010.
Về hình thức thỏa thuận trọng tài: LTTTM quy định cụ thể tai điều 16,
thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, có thể tồn tại là một điều
khoản trong hợp đồng hoặc điều khoản riêng trường hợp xác lập bằng hình
thức khác thì hình thức này phải có giá trị tương đương như văn bản như là:
Fax, telex.
Về thỏa thuận trọng tài vô hiệu: thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trường hợp
các bên thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng thỏa thuân
đó không được công nhân hiệu lực. các trường hợp thỏa thuận ttrongj tài vô
hiệu được quy định tai điêu 18 LTTTM 2010 bao gồm:
- tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng

quan trong vụ tranh chấp” ( khoản 1 điều 42 LTTTM 2010)

8


d) các bên tranh chấp đều biết được quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình (khoản 3 điều 4 LTTTM). Các bên tranh chấp
có địa vị pháp lí ngang nhau giữa các công dân, pháp nhân và tổ chức họ đều
có thể giải quyết bằng trọng tài đối với mọi tranh chấp thuộc thẩm quyền
giải quyết của trọng tài thương mại. trong quá trình giải quyết tranh chấp họ
được đảm bảo quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau.
e) giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại phải được tiến hành
công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Khi đưa vụ tranh chấp ra giải quyết, việc bảo đảm bí mật kinh doanh, uy
tín danh dự, thương hiệu doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhà
kinh doanh. Chính vì vậy pháp luật cho phép họ có thể tự thỏa thuận xét xử
kín.
2.2 thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thương
mại.
Theo LTTTM 2010, một tranh chấp xẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của
trọng tài khi đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:
Một là : nếu tranh chấp thỏa mãn một trong các trường hợp sau thì tranh
chấp đó thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại.
TH1: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
TH2: tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên hoạt động
thương mại.
TH3: tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết
bằng trọng tài thương mại.
Như vậy là so với pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì phạm vi vụ

trong tranh chấp sẽ chọn một trọng tài viên và hai trọng tài viên đó sẽ cùng
chọn ra một trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Nếu hết

10


hạn luật định mà bị đơn không chọn được trọng tài viên cho mình thì chủ
tịch trung tâm trọng tài sẽ chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.
Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, ngay từ khi
nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn họ đã chọn trọng tài viên cho mình và
bị đơn trong bản tự bảo vệ cũng đã chọn ra một trọng tài viên. Và hai trọng
tài đó sẽ bầu ra một trọng tài viên khác làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Điều
khác ở đây là nếu bị đơn không chọn trọng tài viên thì một hoặc các bên có
quyền yêu cầu tòa án chỉ định trọng tài viên cho các bị đơn. Căn cứ xác định
thẩm quyền của tòa án được quy định tại khoản 2 điều 7 LTTTM 2010.
d, chuẩn bị giải quyết vụ việc
Sau khi hội đồng trọng tài được thành laapj trành chấp thương mại sẽ
chính thức được chuẩn bị giải quyết. Quá trình này gồm các công việc:
nghiên cứu hồ sơ, xác định sự việc, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời.
e, hòa giải
Hòa giải là một trong những biện pháp tốt nhất cho việc giải quyết tranh
chấp tại trọng tài. Trong tố tụng trọng tài hòa giải không phải là thủ tục tố
tụng bắt buộc song hội đồng trọng tài phải tôn trọng việc tự hòa giải của các
bên.
f, tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài
Thời gian tiến hành, địa diểm giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận.
trong trường hợp các bên không thỏa thuận thì chủ tịch hội đồng trọng tài
quyết định thời gian mở phiên họp giải quyết tranh chấp và phải gửi giấy
triệu tập cho các bên đương sự tham gia phiên họp chậm nhất là 30 ngày

giả mạo…
- phán quyết của trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam.

12


b, Thi hành phán quyết trọng tài
Về nguyên tắc quyết định của trọng tài là quyết ddingj trung thẩm, có
hiệu lực từ ngày công bố, các bên buộc phải thi hành. Sau thời hạn 30 ngày
kể từ từ ngày thi hành nếu một bên không tự nguyện thi hành cũng không có
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật thì bên được
thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn gửi cơ quant hi hành án cấp
tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi cóa tài sản của bên thi hành, thi hành
quyết định của trọng tài.
III, Thực tiễn áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam và nguyên nhân giải pháp khắc
phục.
3.1, thực trạng giải quyết tranh chấp thưong mại bằng trọng tài ở Việt
Nam.
a, số lượng các vụ tranh chấp thương mại được giải quyết tại các trung
tâm trọng tài còn thấp.
Như chúng ta đã biết trọng tài được chính thức thành lập từ những năm
1960 với tên gọi là trọng tài king tế, qua những chặng đường phát triển hiện
nay cả nước ta có 7 trung tâm trọng tài tập trung ở các thành phố lớn, trung
tâm kinh tế chính trị-xã hội như: Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương.
Tuy số lượng của các trung tâm trọng tài không phải là quá ít nhưng số
vụ tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài lầ rất ít, theo bản
báo cáo của các trung tâm trọng tài các năm 2004,2005,2006 thì năm 2004

biến, chưa lấy được lòng tin của thương nhân, dẫn đến sự lựa chọn sử dụng
phương thức này thấp.
Số lượng các vụ tranh chấp giải quyết bằng trọng tài ít, các trọng tài viên
ít có cơ hội tích lũy kinh nghiệm nên tính chuyên nghiệp chưa cao.
Một số giải pháp khắc phục tình trạng này là:

14


Thứ nhất: tăng cường năng lực của trung tâm trọng tài và đội ngũ trọng
tài viên nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài, chiếm được sự tin cậy của các thương nhân. Vì trọng tài viên là
trung tâm, là hạt nhân quan trọng nhất của hoạt động này, tất cả những công
tác hỗ trợ khác như sửa đổi pháp luật, phổ biến tuyên ttruyeenf về trọng tài
sẽ không có hiệu quả nếu đội ngũ trọng tài viên còn thiếu về số lương, yếu
về chất lượng, trình độ chuyên môn.Dội ngũ trọng tài viên yếu kém sẽ không
thuyết phục được các doanh nghiệp rằng trọng tài là một phương thức giải
quyết các tranh chấp đáng tin cậy. vì vậy vấn đề cốt lõi hiện nay là phải tăng
cường năng lực của đội ngũ trọng tài viên, để làm được điều này các trung
tâm trọng tài cần phải:
- có chiến lược bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ trọng tài viên. Hiện nay lĩnh vực
chuyên sâu của đội ngũ trọng tài viên không đồng đều, số lượng đọi ngũ
trọng tài viên hoạt động trong lĩnh vực lao động, liên doanh, vận chuyển
hàng hóa, xây dựng kỹ thuật còn rất ít do đó phải có chiến lược đòa tạo đội
ngũ trọng tài viên trong các lĩnh vực này để đáp ứng được nhu cầu của thị
trường.
- Tăng cường cơ sở vật chất cần thiết cho các trung tâm trọng tài vì đó chính
là “bộ mặt” của các trung tâm trọng tài. Các trung tâm trọng tài phải chú ý
phát triển hoạt động của mình theo hướng chuyên nghiệp.
- có chính sách thu hút các trọng tài viên giỏ, giàu kinh nghiệm trong việc

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Đào Trí Úc – những vấn đề cơ bản của LTTTM - tạp chí nhà nước và
pháp luật số 1/2010
2, Nguyễn Thị Hải – những điểm mới của LTTTM 2010 so với pháp lệnh
TTTM 2003 – khóa luận tốt nghiệp – Hà Nội 2011
3, Đào Thị Thúy Hằng – thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài ở việt nam theo quy định của pháp luật hiện hành – khóa luận tốt
nghiệp 2010
4, Nguyễn Thị Thu Hoài – hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại và
tòa án ở việt nam hiện nay – từ góc độ so sánh – luận văn thác sĩ luật học –
Hà Nội 2011
5, Nông Quốc Bình ( chủ biên 2007 ) giáo trình luật thương mại quốc tế Trường ĐHL Hà Nội, NXB tư pháp
6, giáo trình luật thương mại 2 – Trường ĐHL Hà Nội, NXB công an nhân
dân
7, LTTTM 2010
8, pháp lệnh TTTM 2003

17


MỤC LỤC

18





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status