MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển mình một cách rõ rệt
theo hướng xây dựng một nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế phát triển thì sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp cũng gia tăng theo. Dưới sức ép của cạnh tranh, nhà kinh doanh
luôn tìm cách nâng cao năng lực kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển. Mỗi doanh
nghiệp lại có cách thức riêng để nâng cao năng lực kinh doanh, có thể là nâng cao năng lực
tài chính, cải tiến tổ chức quản lý, phát triển công nghệ mới, thay đổi chiến lược sản xuất
kinh doanh và cũng có thể là tiến hành tập trung kinh tế. Về lí luận sự, tập trung kinh tế
làm xuất hiện các ông lớn làm thay đổi cơ cấu của thị trường có thể dẫn tới việc hình thành
những doanh nghiệp giữ vị trí thống lĩnh thị trường, những doanh nghiệp độc quyền gây
hạn chế cạnh tranh. Chính vì vậy, nhà nước đã có những biện pháp nhằm kiểm soát hành vi
tập trung kinh tế, được quy định cụ thể trong Luật cạnh tranh năm 2004.
II. NỘI DUNG CHÍNH
1. Khái quát chung về tập trung kinh tế.
1.1. Khái niệm.
Luật cạnh tranh năm 2004 ghi nhận hành vi hạn chế cạnh trnah là hành vi của doanh
nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm ba nhóm cơ bản đó
là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và
tập trung kinh tế. Khái niệm hành vi tập trung kinh tế được bình luận ở nhiều góc độ khác
nhau trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý.
Dưới góc độ kinh tế học, tập trung kinh tế được xem như một quá trình gắn liền với
việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, hành vi tập trung kinh tế trên thị trường
được hiểu là việc giảm số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường thông
qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh
nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất (1).Cách hiểu tập trung kinh tế này đã chỉ ra
nguyên nhân của tập trung kinh tế (thông qua việc sáp nhập, tăng trưởng nội sinh của
Thứ ba, tập trung kinh tế đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng
hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, từ đó làm thay đổi cấu trúc
thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường. Cho dù tập trung được thực
hiện theo mô hình tích tụ hay liên kết năng lực kinh doanh thì cuối cùng đều dẫn đến kết
quả là tương quan cạnh tranh trên thị trường sau khi tập trung kinh tế sẽ khác so với trước
đó. Bởi lúc này, thị trường đột ngột xuất hiện doanh nghiệp, hoặc nhóm doanh nghiệp có
tiềm lực kinh doanh lớn hơn trước mà không phải trải qua quá trình tích tụ tư bản. Vị trí
của các doanh nghiệp còn lại trong quá trình cạnh tranh sẽ giảm đi trước doanh nghiệp
được hình thành từ tập trung kinh tế (2).
1.3. Phân loại các hình thức tập trung kinh tế.
Việc phân chia các hình thức tập trung kinh tế phải dựa vào nhiều tiêu chí ở nhiều góc
độ khác nhau. Xét các tiêu chí khác nhau, ta có các hình thức tập trung kinh tế sau:
1.3.1. Theo mức độ liên kết:
Dựa vào mức độ liên kết, hành vi tập trung kinh tế được chia làm hai loại là tập trung
kinh tế chặt chẽ (tổ hợp) và tập trung kinh tế không chặt chẽ.
Hình thức tập trung chặt chẽ (tổ hợp) là việc các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh
tế chấm dứt tồn tại để hình thành nên một doanh nghiệp thống nhất cả ở phương diện pháp
2()
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật cạnh tranh, t.p Hồ
Chí Minh, 2010.
3
lý lẫn quản trị doanh nghiệp, thường được thực hiện bằng các biện pháp sáp nhập, hợp nhất
các doanh nghiệp.
Hình thức tập trung không chặt chẽ là việc các doanh nghiệp tham gia vẫn là những chủ
thể độc lập dưới góc độ pháp luật, song chúng chịu sự chi phối bởi các doanh nghiệp khác.
Bằng các hành vi mua lại hoặc liên doanh, các doanh nghiệp đã thiết lập được mối quan hệ
của hành vi. Các hình thức này được quy định tại Điều 16 và 17 Luật cạnh tranh năm 2004.
4
2.1.1. Sáp nhập doanh nghiệp :
Khoản 1 Điều 17 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc
một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản quyền, nghĩa vụ, và lợi ích hợp pháp
của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị
sát nhập.” Mô hình A + B = A’.
Như vậy, cũng giống như việc sáp nhập được quy định trong luật doanh nghiệp, sau khi
sáp nhập, doanh nghiệp bị sáp nhập không còn tồn tại và bị xóa tên trong hồ sơ đăng ký
kinh doanh. Công ty nhận sáp nhập được hưởng quyền, lợi ích hợp và chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập. Định nghĩa về hành vi sáp nhập doanh nghiệp tại
khoản 1 Điều 17 Luật cạnh tranh về cơ bản là phù hợp với quy định của Điều 94 của
BLDS; Điều 152 Luật doanh nghiệp 2005. Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp trong Luật
cạnh tranh tương tự khái niệm sát nhập doanh nghiệp quy định trong Luật doanh nghiệp
nhưng mục tiêu điều chỉnh hoạt động sát nhập trong hai văn bản này là khác nhau. Trong
Luật doanh nghiệp sáp nhập được điều chỉnh với tư cách là một hình thức tổ chức lại
doanh nghiệp nên pháp luật quy định chủ yếu là về tư cách pháp lý của doanh nghiệp sau
khi sáp nhập, quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp sau khi sáp nhập. Trong Luật cạnh
tranh sáp nhập là một hình thức tập trung kinh tế nên bị kiểm soát nhằm ngăn ngừa khả
năng hình thành doanh nghiệp có sức mạnh trên thị trường và có khả năng thực hiện hành
vi gây cản trở cạnh tranh.
2.1.2. Hợp nhất doanh nghiệp:
“Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm
dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.” (Khoản 2 Điều 17 Luật cạnh tranh
2004). Mô hình A + B = C
Sau khi hợp nhất các doanh nghiệp, các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt sự tồn tại.
bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông. Hồi đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của
pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi
phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được
lợi ích từ kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát.”
Tuy nhiên, có một số trường hợp mua lại doanh nghiệp khác không bị coi là tập trung
kinh tế. Đó là trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp
khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài nhất là một năm không bị coi là tập trung
kinh tế nếu doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh
nghiệp bị mua lại, hoặc thực hiện quyền này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được
mục dích bán lại đó.
2.1.4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp:
Theo khoản 4 Điều 17 Luật cạnh tranh 2004: “Liên doanh giữa các doanh nghiệp là
việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.”
Nếu góp thêm vốn để tăng vốn điều lệ thì không coi là tập trung kinh tế nhưng góp vốn
để thành lập một doanh nghiệp chung (doanh nghiệp liên doanh) nhằm thực hiện các chức
năng của một chủ thể kinh tế độc lập được coi là tập trung kinh tế.
6
Liên doanh là dạng liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua việc cùng tham gia thành
lập một doanh nghiệp mới. Nói cách khác, sự tồn tại của doanh nghiệp mới tạo nên mối
liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia. Xét về bản chất, hoạt động liên doanh đồng nghĩa
với hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp,
Luật hợp tác xã, Luật các tổ chức tín dụng và luật đầu tư. Thế nên, ngoài các quy định của
Luật Cạnh tranh, hoạt động liên doanh còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định về đăng ký
kinh doanh, về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư trong các văn bản nói trên.
Ngoài ra, khoản 5 Điều 16 Luật cạnh tranh còn có một quy định mở đề cập đến các loại
hình tập trung kinh tế khác, giúp các văn bản quy phạm ban hành sau này có thể dễ dàng
Theo Điều 18 Luật Cạnh tranh, “cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các
doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan”.
Đây là trường hợp luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh. việc tập trung kinh tế đã
hình thành một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị
trường liên quan mà không phải từ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó đã làm
cho các doanh nghiệp còn lại chỉ là thiểu số trên thị trường.
Về nguyên tắc, các trường hợp này bị cấm tuyệt đối, song pháp luật cạnh tranh của Việt
Nam và của các nước luôn cân nhắc đến tính hiệu quả của hành vi bằng cách dành ra
những trường hợp ngoại lệ để cho hưởng miễn trừ. Điều 19 Luật cạnh tranh năm 2004 quy
định: “Tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được xem xét
miễn trừ trong các trường hợp sau đây:
1. Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc
lâm vào tình trạng phá sản;
2. Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh
tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ”.
Theo đó, cho dù có thị phần kết hợp trên 50% trên thị trường liên quan việc tập trung
kinh tế có diễn ra giữa các doanh nghiệp vẫn có thể được thực hiện nếu đáp ứng được các
điều kiện luật định và được người có thẩm quyền ra quyết định cho hưởng miễn trừ.
2.2.2. Nhóm tập trung kinh tế cần phải kiểm soát (khu vực màu xám)
Theo Điều 20 Luật Cạnh tranh, “Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thị
phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các
doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập
trung kinh tế”.
Trong trường hợp này, các doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất,
mua lại và liên doanh sau khi đã hòan tất thủ tục thông báo và nhận được trả lời của cơ
quan quản lý cạnh tranh theo quy định của pháp luật trừ khi sau khi tập trung kinh tế doanh
nghiệp vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.2.3. Nhóm được tự do thực hiện tập trung kinh tế (khu vực màu trắng)
Theo Luật Cạnh tranh và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, các doanh nghiệp có quyền tự
do thực hiện việc tập trung kinh tế trong những trường hợp sau đây:
theo pháp luật về doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp cần tiến hành thủ tục chuyển
nhượng vốn, chuyển nhượng cổ phần…; hình thức liên doanh cần thực hiện việc đăng ký
kinh doanh hoặc thủ tục đăng ký đầu tư, thẩm tra đầu tư để thành lập doanh nghiệp mới
theo pháp luật về doanh nghiệp hoặc luật đầu tư. Trong tương quan giữa thủ tục thông báo
theo Luật Cạnh tranh và các thủ tục có liên quan nói trên, thủ tục thông báo phải được thực
hiện trước. Các doanh nghiệp chỉ được các thủ tục khác sau khi cơ quan quản lý cạnh tranh
trả lời bằng văn bản khẳng định việc tập trung kinh tế không thuộc trường hợp bị cấm.
Quy định về thời hạn trả lời thông báo tập trung kinh tế là 45 ngày kể từ ngày nhận
được đầy đủ hồ sơ, có thể gia hạn trong những trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp theo
quyết định của Thủ trưởng Cơ quan Quản lý cạnh tranh. Việc gia hạn không quá hai lần,
mỗi lần không quá 30 ngày.
9
2.4. Các biện pháp xử lý vi phạm
Các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm
theo pháp luật cạnh tranh nếu thực hiện một trong hai hành vi sau:
- Tiến hành tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm;
- Tiến hành tập trung kinh tế mà không thông báo nếu trường hợp tập trung kinh tế đó
thuộc những trường hợp phải thông báo.
Việc xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế được thực hiện theo thủ tục tố tụng
cạnh tranh, trong đó cơ quan quản lý cạnh tranh có chức năng điều tra vụ việc và có thẩm
quyền xử lý hành vi vi phạm bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo các quy
định của Luật Cạnh tranh và Nghị định số 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày
30/09/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh (Nghị định số
120/2005/NĐ-CP).
Theo đó các biện pháp xử phạt khi tập trung kinh tế sai pháp luật bao gồm: phạt tiền tùy
theo hành vi vi phạm và mức độ nghiêm trọng của hành vi. Theo đó, phạt tiền đến 5% tổng
doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với sáp nhập, hợp
nhất, mua lại liên doanh bị cấm; phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài
có sự quan tâm đặc biệt tới thị trường Việt Nam và quyết định đầu tư vào Việt Nam. Bên
cạnh việc đầu tư thành lập mới doanh nghiệp, việc góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua
lại doanh nghiệp cũng được các nhà đầu tư coi là một phương thức nhanh chóng, hiệu quả
để thâm nhập thị trường Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh cam kết WTO có hiệu lực,
việc thành lập doanh nghiệp mới gặp rất nhiều rào cản. Thứ hai, nhu cầu bán tăng cao.
Ngược lại với bối cảnh kinh tế phát triển mạnh, vào thời điểm kinh tế suy thoái, cộng với
việc mở cửa thị trường mạnh mẽ, thì rất nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đã không thể
đứng vững, không đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong và ngoài nước nên
đã chủ động tìm kiếm đối tác để sáp nhập, hoặc bị thôn tính thông qua mua lại.
Các hoạt động tập trung kinh tế trong thời gian qua mang các đặc điểm như sau: Một là,
tập trung vào khối các ngành tài chính, năng lượng, công nghiệp, nguyên vật liệu, hàng tiêu
dùng (đặc biệt là nhóm FMCG) (chiếm 2/3 số vụ tập trung kinh tế); Hai là, có sự tham gia
mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài; Ba là, chủ yếu là các giao dịch có quy mô nhỏ và
vừa (dưới 5 triệu USD chiếm tỷ lệ 30 - 35%, 5 - 20 triệu USD chiếm tỷ lệ 50 - 55% số vụ);
Bốn là, chủ yếu thuộc 2 dạng: công ty nước ngoài mua lại công ty Việt Nam (40%) và công
ty Việt Nam mua lại công ty Việt Nam (40%); Năm là, đã xuất hiện các trường hợp thâu
tóm không thân thiện cần có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng (Dược Viễn Đông Dược Hà Tây, Bình Thiên An - Descon...); Sáu là, từ năm 2010, đã bắt đầu xuất hiện nhiều
vụ sáp nhập theo chiều dọc để kiểm soát nguồn cung nguyên vật liệu và tái cấu trúc doanh
nghiệp, tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính 4.
Một số hoạt động tập trung kinh tế điển hình như Công ty Đường Quảng Ngãi mua lại
toàn bộ nhà máy đường Quảng Bình, Tập đoàn Lotte (Hàn Quốc) mua 30% Cổ phần Công
ty bánh kẹo Biên Hòa; Tập đoàn tài chính HSBC củaAnh mua 10% cổ phần (225 triệu
USD) của Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, tiếp sau đó là 15% cổ phần(33,7 triệu USD)
của Ngân hàng Techcombank; Tập đoàn tài chính Morgan Stanley (Mỹ) mua 10% cổ phần
của Công ty Tài chính Dầu khí…
Vũ Bá Phú, Phó cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương), Bài viết Tập trung kinh tế và
môi trường cạnh tranh, Báo Đầu tư 22/3/2012.
4
11
Thứ tư, hình thành giữa các cơ quan quản lý nhà nước một hệ thống cơ sở dữ liệu dùng
chung phục vụ quản lý nhà nước về tập trung kinh tế. Điều này rất quan trọng trong quản
lý hoạt động tập trung kinh tế. Trên thực tế, việc này sẽ giúp cơ quan quản lý cạnh tranh dễ
dàng nhanh chóng thu thập dữ liệu về thị phần, đánh giá về sức mạnh thị trường của các
doanh nghiệp trên thị trường hiện nay, đồng thời cũng nhận được sự phối hợp tối đa từ các
cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
12
III. KẾT LUẬN.
Trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang ngày một hội nhập sâu rộng vào nên kinh tế
quốc tế, hoạt động tập trung kinh tế diễn ra ngày một sôi động và đóng vai trò ngày cang
quan trọng trong nền kinh tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu cũng như hoàn thiện hệ thống
pháp luật về tập trung kinh tế sẽ giúp tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả
các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
13
Danh mục tài liệu tham khảo
• Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2011.
• Trường đại học kinh tế - luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình luật cạnh
tranh, 2010.
• Lê Viết Thái, “Chuyên đề về Hành vi tập trung kinh tế, đề tài nghiên cứu về thể chế
cạnh tranh trong điều kiện phát triển thị trường tại Việt Nam” (Viện nghiên cứu thương
mại- Bộ Thương mại, 2005).
• Th.s Nguyễn Ngọc Sơn, Bài viết Kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh
và vấn đề của Việt Nam, tạp chí nghiên cứu lập pháp số 79 tháng 7 năm 2006.