Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong Tố tụng hình sự - Pdf 34

MỤC LỤC

Trang

MỞ BÀI

2

NỘI DUNG

2

I. Khái quát chung về bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
1. Bị can.

2
2

2. Bị cáo

3

II. Các quy định chung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về địa vị
pháp lý của bị can, bị cáo.
1. Các quy định chung của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý
của bị can.
2. Các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của bị cáo.

3

III. Thực tiễn bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố

thì at có thể hiểu địa vị bị can, bị cáo chính là quyền lợi và nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi
tham gia quá trình tố tụng. Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân, Bộ luật tố
tụng hình sự đã quy định một số quyền lợi và nghĩa vụ cho bị can, bị cáo. Thông qua các
quy định đó bị can, bị cáo có thể biết được mình có những quyền và nghĩa vụ như thế nào
để thực hiện tốt và giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành các công việc của
mình một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan, trung thực. Chính vì vậy, để hiểu rõ
địa vị pháp lý của bị can, bị cáo, em xin chọn đề tài “Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo
trong Tố tụng hình sự” làm đề bài tập lớn của mình.
Bài làm của em còn nhiều thiếu xót mong thầy, cô giáo chỉ bảo thêm. Em xin chân
thành cảm ơn!

NỘI DUNG
I. Khái quát chung về bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
1. Bị can.
Theo quy định khoản 1 Điều 49 BLTTHS năm 2003 thì bị can là người đã bị khởi tố
về hình sự. Lần đầu tiên chúng ta biết đến khái niệm bị can là khi nó được quy định tại
Điều 34 BLTTHS năm 1988. Theo đó một người chỉ bị khởi tố với tư cách là bị can trong
vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội.
Việc xác định một người có tư cách bị can từ khi nào rất quan trọng. Bởi vì, khi một
người phát sinh tư cách bị can đồng nghĩa với việc người đó sẽ có các quyền và nghĩa vụ
của bị can. Tuy nhiên việc xác định thời điểm một người có tư cách bị can khi nào còn
nhiều ý kiến, quan điểm. Quan điểm thứ nhất: “Khi cơ quan điều tra quyết định khởi tố bị
can thì người bị khởi tố đã là bị can.” Quan điểm thứ hai cho rằng: “Khi Viện kiểm quyết
định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thì người đó mới được coi là bị can”. Theo em,
mỗi quan điểm đều có tính hợp lý riêng của nó. Quan điểm thứ nhất là xuất phát từ hoạt
động thực tế, sau khi có quyết định khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra có quyền tiến hành
các biện pháp tố tụng như bắt bị can để tạm giam, hỏi cung…nhằm đảm bảo cho việc
nhanh chóng, kịp thời xác minh sự thật vụ án. Nhưng theo quy định của pháp luật thì việc
2


vụ án ra xét xử. Khi một người bị khởi tố hình sự thì họ sẽ là đối tượng bị buộc tội trong
vụ án nhưng không có nghĩa họ là người có tội. Bởi theo quy định tại Điều 9 BLTTHS
năm 2003: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
3


Trong luật tố tụng hình sự chưa có một khái niệm về địa vị pháp lý của bị can; Dựa
vào những quy định của pháp luật ta có thể hiểu “Địa vị pháp lý củ bị can là tổng thể các
quyền và nghĩa vụ của người đã bị khởi tố về hình sự trong quá trình tham gia tố tụng hình
sự”. Khi đó, bị can sẽ có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 49
BLTTHS 2003.
1.1. Các quyền tố tụng: Theo khoản 2 Điều 49 BLTTHS năm 2003
* Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì.
Đây là quyền đầu tiên của bị can được pháp luật quy định. Bởi mục đích của việc
tiến hành các trình tự tố tụng là nhằm xác định một người có phạm tội hay không và nếu
phạm tội thì phải chịu hình phạt như thế nào. Do vậy, người bị nghi ngờ phạm tội cần biết
rằng mình bị khởi tố về tội gì để còn tự bào chữa hoặc để người khác bào chữa cho họ để
gỡ tội. Nếu không biết mình bị khởi tố về tội gì thì họ khó có thể đưa ra các chứng cứ gỡ
tộ cho mình cùng những lời bào chữa.
Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can thể hiện sự công bằng, bình
đẳng và tiến bộ của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng.
Việc đảm bảo quyền này của bị can phụ thuộc rất nhiều vào các CQTHTT và đặc biệt là
những NTHTT. Trên thực tế để bị can biết rõ mình bị khởi tố về tội gì thì các CQTHTT và
NTHTT phải giao các quyết định tố tụng và giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can.
Bị can được biết mình bị khởi tố về tội gì thông qua quyết định khởi tố bị can. Quyết định
khởi tố bị can phải có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 126 BLTTHS 2003
và Cơ quan điều tra phải có trách nhiệm giao ngay quyết định khởi tố bị can và giải thích
các quyền và nghĩa vụ cho bị can.
Như vậy, việc thực hiện và đảm bảo tốt quyền này của bị can sẽ tạo điều kiện cho

quan của NTHTT. Việc làm đó đã vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền của bị can.
* Quyền được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.
Theo quy định tại BLTTHS năm 1988 thì bị can có quyền đưa ra “chứng cứ và
những yêu cầu”; còn theo BLTTHS năm 2003 thì bị can có quyền “đưa ra tài liệu, đồ vật,
yêu cầu”. Như vậy đã có sự thay đổi trong quy định của pháp luật từ việc bị can đưa ra
chứng cứ thì nay chuyển thành những tài liệu, đồ vật. Quy định này hoàn toàn hợp lý, bởi
đồ vật, tài liệu mà bị can đưa ra chưa chắc đã là chứng cứ; khi nhận được các tài liệu, đồ
vật này cơ quan điều tra phải kiểm tra, đánh giá; nó chỉ là chứng cứ trong trường hợp tài
liệu, đồ vật đó đáp ứng được các quy định của pháp luật.
* Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch.
NTHTT, người giám định, người phiên dịch có vai trò rất quan trọng trong việc xác
định sự thật của vụ án; bởi sự thật vụ án được xác định một cách chính xác nếu chủ thể
nêu trên thực hiện tốt vai trò của mình. Bị can có quyền thay đổi NTHTT, người giám
định, người phiên dịch trong trường hợp có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không vô tư,
5


khách quan trong khi làm nhiệm vụ, việc cho họ tiến hành tham gia hoạt động tố tụng có
thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can. Bởi vậy quy định
về quyền được thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch nhằm xác định một
cách khách quan, công bằng là điều rất cần thiết. Khi các CQTHTT nhận được yêu cầu
thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch của bị can thì cần phải xem xét, giải
quyết yêu cầu đó nếu thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật TTHS.
* Quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Theo đó bị can có quyền dùng những lý lẽ và chứng cứ để gỡ tội và để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Việc thực hiện quyền
này của bị can không chỉ nhằm mục đích gỡ tội mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
khác của bị can. Thông qua quyền tự bào chữa của bị can thì Nhà nước đã cho phép bị can
tự vệ, chống lại sự buộc tội của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Quy

của Cơ quan tiến điều tra, Viện kiểm sát; trong trường hợp vắng mặt ko có lý do chính
đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã”. Như vậy, trong trường hợp bị can tại
ngoại, bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS. Việc triệu tập bị can phải
tuân thủ theo đúng quy định tại điều 129 BLTTHS năm 2003. Giấy triệu tập bị can phải
ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can, thwoif gian, địa điểm bị can có mặt, gặp ai, trách nhiệm về
việc vắng mặt không có lý do chính đáng. Giấy triệu tập bị can được gửi cho xã, phường,
thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc. Cơ quan, tổ chức
nhận được giấy có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can. Bị can nhận được
giấy phải ký và có ghi rõ ngày giờ nhận được. Người chuyển giấy triệu tập cho bị can có
nghĩa vụ phải chuyển phần giấy triệu tập có chữ ký của bị can cho cơ quan đã triệu tập.
Nếu bị can không ký thì lập biên bản rồi gửi cho coq quan triệu tập; nếu bị can không có
nhà thì gửi giấy cho một người đã thành niện trong gia đình bị can.
Trong trường hợp bị can vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải.
Đặc biệt trong trường hợp bị can bỏ trốn thì sẽ bị truy nã. Trong trường hợp bị can bị tạm
giam thì thông qua Ban giám thị trại giam. Theo quy định của pháp luật thì bị can chỉ phải
có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS; nhưng Tòa án cũng có thể triệu tập bị can.
Vậy ta cần bổ sung thêm nghĩa vụ của bị can: Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của
Tòa.
2. Các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của bị cáo.
Khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm. Bị cáo
cũng không phải là người có tội khi chưa có quyết định hay bản án đã có hiệu lực pháp
luật.
Dựa vào những đặc điểm pháp lý của bị cáo, chúng ta có thể hiểu: “Địa vị pháp lý
của bị cáo chính là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của một người đã có quyết định đưa vụ
án ra xét xử của Tòa án có thẩm quyền đến khi bản án kết tội hay quyết định của Tòa có
hiệu lực pháp luật”.
7


2.1. Các quyền tố tụng của bị cáo. (Điều 50 BLTTHS 2003)

8


xét xử như thế nào ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo. Vì vậy, bị cáo
có quyền được thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch khi có căn cứ rõ ràng
để cho rằng người đó không vô tư trong khi thi hành công vụ. Bị cáo thực hiện quyền này
trước hoặc tại phiên tòa xét xử khi hội đồng xét xử hỏi. Chánh án tòa án tại phiên tòa phải
xem xét, giải quyết yêu cầu của bị cáo khi cần thiết phải hoãn phiên tòa.
* Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Bị cáo có quyền đưa ra tài liệu hoặc đồ vật tại phiên tòa xét xử. Những tài liệu, đồ
vật mà bị cáo đưa ra tại phiên tòa có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo, chứng minh bị cáo không
phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội
đồng xét xử phải kiểm tra, xác minh và đánh giá các đồ vật, tài liệu đó có phải là chứng cứ
trong vụ án không và giá trị của nó trong việc xác định sự thật vụ án.
* Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Quyền tự bào chữa được thực hiện ngay từ khi một người bị khởi tố về hình sự, họ
thực hiện quyền này trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử dưới nhiều hình thức
khác nhau. Trong khi tranh luận, bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có nười bào
chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, bị cáo có quyền bổ sung ý kiến của mình. Tòa án
phải tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo. Việc đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo không
chỉ đảm bảo quyền lợi cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo và dân chủ mà còn đảm bảo việc
xác định sự thật của vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ.
* Quyền trình bày ý kiến hoặc tranh luận tại phiên tòa
Quyền này cho phép bị cáo đưa ra những ý kiến, những lập luận của mình và đối
đáp với các chủ thể khác (Điều 218). Đồng thời với việc đưa ra ý kiến, tranh luận tại phiên
tòa thì bị cáo cũng có thể đưa ra các yêu cầu sau: yêu cầu thêm người làm chứng….Quyền
này của bị cáo thể hiện sự bình đẳng, khách quan trong quá trình xét xử qua việc cho bị
cáo phát biểu ý kiến. Đây cũng chính là việc bị cáo tự bào chữa cho mình. Trong nhiều
trường hợp, lời phát biểu của bị cáo bị Hội đồng xét xử cắt ngang hoặc bác bỏ ko hợp lý.
Cần quán triệt tinh thần tôn trọng quyền này của bị cáo đối với NTHTT.

hành giải quyết và thông báo cho bị cáo biết.
2.2. Các nghĩa vụ tố tụng.
Theo khoản 3 Điều 50 BLTTHS quy định: “bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập
của Tòa án, trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải,
nếu bỏ trốn thì bị truy nã”.
Qua đó, chúng ta có thể thấy, cũng giống như bị can, bị cáo cũng có nghĩa vụ có
mặt theo giấy triệu tập của CQTHTT (Tòa án). Do tư cách bị cáo chỉ hình thành khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án có thẩm quyền nên bị cáo chỉ phải có mặt theo
giấy triệu tập của tòa án.
10


Trong trường hợp bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn thì có thể được đảm bảo
việc có mặt của bị cáo theo giấy triệu tập của Tòa án. Nếu bị cáo đang được tại ngoại, khi
tòa án đã triệu tập mà vắng mặt ko có lý do chính đáng thì sẽ bị tòa án áp giải hoặc truy nã
theo quy định của pháp luật.
III. Thực tiễn bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình
sự.
1. Ưu điểm
Trong những năm vừa qua, theo báo cáo tổng kết công tác năm 2010 của ngành Tòa
án nhân dân thì TAND các cấp và Tòa án Quân sự các cấp đã thụ lý 71.680 vụ án, đã được
giải quyết và xử được 61.381, đạt 90%. Nhìn chung các vụ án hình sự đều được giải
quyết, xét xử theo quy định của pháp luật. Một số Tòa đã giải quyết được 95% vụ án đã
thụ lý như: các tòa quân sự, tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Hải phòng….
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo ngày càng được bảo đảm tốt. Theo số liệu thống
kê của TAND thì số vụ có người bào chữa tăng đáng kể; năm 2007 là 5933 vụ, năm 2008
là 7355vụ, năm 2009 là 7255 vụ. Với công nghệ truyền thông ngày càng phát triển, bản
thân của bị can, bị cáo cũng đã hiểu biết hơn về quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng thời
NTHTT, người giám định, người phiên dịch cũng đang ngày càng năng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, đóng góp rất lớn vào việc xác định sự thật của vụ án.

niệm về bị cáo theo Điều 50 BLTTHS năm 2003 thì quy định theo Điều 179 BLTTHS năm
2003 ko đúng với quy định của pháp luật; cần phải sửa từ “bị cáo phạm một tội khác”
thành “bị can phạm một tội khác”.
- Quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003: Việc quy định quyền từ chối quyền
bào chữa của bị cáo là chưa hợp lý, còn nhiều bất cập. Quy định tại điểm a khoản 2 Điều
này thì những đối tượng này có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên họ ý
thức được hậu quả xảy ra khi họ từ chối quyền bào chữa. Quy định này hoàn toàn hợp lý.
Nhưng các đối tượng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này là bị can, bị cáo chưa thành
niên, người có nhược điểm về mặt thể chất hoặc tinh tần. Như vậy cần sử theo hướng:
“Các trường hợp theo điểm a khoản 2 Điều này sau khi được người bào chữa tham gia
bào chữa vẫn có quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Còn đối với những trường
hợp theo điểm b khoản 2 Điều này thì bị can, bị cáo, hoặc đại diện hợp pháp của họ có
quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa; trong trường hợp này thì cơ quan tiến hành
tố tụng nên nói cho họ biết về lợi ích đối với họ khi có người bào chữa, nếu họ ko đồng ý
thì lập biên bản ghi rõ lý do từ chối hoặc thay đổi người bào chữa.”
- Quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa: Cần bổ sung những quy
định về thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa, đồng thời cần có chế tài xử lý
nghiêm đối với các hành vi vi phạm đối với những người có hành vi tác động đến bị can,
bị cáo để họ phải từ chối luật sư tham gia bào chữa.
- Quy định tại Chương XXXIV BLTTHS năm 2003 về thủ tục rút gọn: Còn nhiều bất
12


cập. Các quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự chỉ quan tâm đến các vấn đề có
lợi cho CQTHTT, NTHTT như: rút ngắn thời gian tiến hành tố tụng, giảm chi phí, giảm án
tồn đọng….mà chưa thực sự quan tâm đến quyền lợi của bị can, bị cáo. Do đó cần có sự
sửa đổi bổ sung tại Chương XXXIV BLTTHS năm 2003 để đảm bảo cho thủ tục rút gọn
đáp ứng được nhu cầu giải quyết vụ án mà ko ảnh hương đến quyền lợi của bị can, bị cáo.
2. Nâng cao kiến thức tố tụng cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt là bị can,
bị cáo.

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.CAND, Hà
Nội, 2008.
2. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003.
3. Viện khoa học pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb. Tư
pháp, Hà Nội, 2005
4. Vũ Thị Kim Thùy, Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; khóa luận tốt
nghiệp, Hà Nội năm 2011.
5. Thực trạng thực hiện quyền bào chữa và quyền nhờ người bào chữa của bị can, bị cáo.

6. Nguyễn Sơn Hà, Một số vấn đề bảo vệ quyền con người đối với người bị tình nghi
phạm tội trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số
06/2006.
7. Nguyễn Tiến Sơn, Cần sửa đổi bổ sung một số quy định của BLTTHS về khởi tố bị
can , thay đổi, bổ sung phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Tạp chí kiểm sát số 23 –
tháng 12/2008.
8. Chu Thị Vân Trang, Hoàn thiện quy định của BLTTHS về quyền và nghĩa vụ của bị
can, bị cáo và cơ chế đảm bảo thực hiện, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 18, tháng
9/2009/
9. Ths. Nguyễn Khắc Quang, Cần sửa đổi bổ sung một số quy định của BLTTHS về địa vị
pháp lý của bị can, bị cáo, Tạp chí kiểm sát, VKSNDTC, số 21, tháng 11/2009.

14


15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status