Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam - Pdf 34

MỞ BÀI.......................................................................................................... 1
NỘI DUNG.....................................................................................................2
1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TTHCCT........................................2
1.1 Khái niệm về TTHCCT..............................................................................................................2
1.2. Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh............................................................................2

2. THỰC TRẠNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM...3
2.1.Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.............................4
2.2. Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ hạn chế đầu tư...........................................5
2.3. Thỏa thuận thông qua thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.........6
2.4. Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa dịch
vụ......................................................................................................................................................6
2.5.Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa dịch
vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng
của hợp đồng.....................................................................................................................................7
2.6. Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát
triển kinh doanh và thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên
của thỏa thuận...................................................................................................................................7
2.7. Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa,
cung ứng dịch vụ..............................................................................................................................8
2.8. Thực trạng hoạt động thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở một số nước trên thế giới.................10

3. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TTHCCT....................................................................................................................11
3.1. Nguyên nhân............................................................................................................................11

KẾT LUẬN...................................................................................................13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................14

MỞ BÀI
Cạnh tranh trong kinh doanh là quyền cơ bản của chủ thể kinh doanh trên thị

1.2. Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Bản chất của cạnh tranh là một cuộc đấu tranh giữa các chủ thể kinh doanh nhằm
giành các điều kiện có lợi nhất về sản xuất, phân phối hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên
thị trường. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp hoạt
động độc lập. Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt động độc lập với nhau
và hoàn toàn không phụ thuộc nhau về tài chính. Những hoạt động thống nhất của các
1

Giáo trình Luật cạnh tranh,Nxb, CAND,2011,Đại học luật Hà Nội, tr.125.

2


đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong một công ty không được pháp luật cạnh
tranh coi là thỏa thuận.
Thứ hai, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ được hình thành khi có sự thống nhất về ý
chí của các bên tham gia thỏa thuận. sự thống nhất cùng hoạt động giữa các doanh
nghiệp tham gia thỏa thuận được thể hiện công khai hoặc không công khai.
Thứ ba, hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là làm giảm sức ép cạnh tranh, làm
sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh gây ra cho thị trường là xóa bỏ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tham gia. Khi
thỏa thuận cạnh tranh được ký kết các doanh nghiệp đang là đối thủ cạnh tranh của
nhau sẽ không cạnh tranh với nhau nữa.

2. THỰC TRẠNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
Sau những năm thực thi các quy định của Luật Cạnh tranh, đã có hơn 40 vụ việc
liên quan đến vi phạm các quy định của pháp luật cạnh tranh bị điều tra ,xử lý. Trong số
các vụ việc này, có 20 doanh nghiệp liên quan đến các hành vi lạm dụng vị trí độc
quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã bị điều tra, xử phạt.

Đây là loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh kinh điển và phổ biến nhất. Trong nền
kinh tế đang trên đà phát triển như hiện nay, dưới sức ép của môi trường cạnh tranh, các
doanh nghiệp luôn phải tìm moi cách cắt giảm chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản
phẩm, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bản
chất của loại hình ấn định giá là việc thống nhất cùng hành động ấn định giá một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp và được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Các hình
thức thỏa thuận này đã làm thiệt hại một phần không nhỏ cho nền kinh tế, mới đây trên
thị trường có rất nhiều vụ vi phạm diễn ra, điển hình là vụ việc về thỏa thuận ấn định
giá được xử lý, đó là vụ việc 19 doanh nghiệp bảo hiểm ký văn bản thỏa thuận tăng
mức phí tối thiếu đối với dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô vào cuối năm 2008. Theo
bản thỏa thuận, mức phí bảo hiểm tăng từ 1,3% lên 1,56% và có hiệu lực từ 1/10/2008.
Sau một năm điều tra, vụ việc đã được đem ra xử lý. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
đã kết luận 19 doanh nghiệp bảo hiểm này đã vi phạm Điều 8 và khoản 2 Điều 9 Luật
cạnh tranh và áp dụng mưc phạt 0,025% tổng doanh thu trong năm tài chính trước đó
đối với tất cả các doanh nghiệp( tổng mức phạt khoảng 1,7 tỷ đồng) 4. Qua tìm hiểu về
vụ việc trên ta thấy: 19 doanh nghiệp bảo hiểm "bắt tay" nâng phí bảo hiểm đã thao
túng thị trường bảo hiểm xe cơ giới. Theo phản ánh từ một số khách hàng và doanh
nghiệp cùng tham gia trong lĩnh vực bảo hiểm tại Việt Nam được biết, trong ngày
15/9/2008, tại hội nghị CEO các nhà bảo hiểm phi nhân thọ lần thứ VI, 15 doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã ký thỏa thuận kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm xe
cơ giới. Đến ngày 1/10/2008, có thêm 4 doanh nghiệp nữa tiếp tục đăng ký tham gia,
nâng tổng số lên 19 thành viên. Điều đáng nói là 19 doanh nghiệp này đã “bắt tay” nhau
nâng phí bảo hiểm và hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp khác cùng kinh doanh
trên thị trường.

4

Quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh số 14/QĐ-HĐXL ngày 29/7/2010 về xử lý vụ việc cạnh tranh số
KNCT- HCCT- 0009



5
6

Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP
Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP

5


2.3. Thỏa thuận thông qua thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung
ứng dịch vụ.
Nhằm giảm sức ép cạnh tranh và tạo ra sự độc quyền trong khi vực thị trường đã
được phân chia, các doanh nghiệp thỏa thuận việc phân chia thị trường theo lãnh thổ,
loại hình hay quy mô của khách hàng, hay theo bất kỳ tiêu chí nào khác.
Trong nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam hiện này thì đây là hình thức thỏa
thuận nữa cũng rất phổ biến là hình thức thỏa thuận trên cơ sở hiệp hội ngành nghề ,
đây là tình trạng phối hợp hành động giữa các DN là đối thủ cạnh tranh trong hiệp hội.
Cho đến nay Việt Nam vấn chưa có Luật hoặc pháp lệnh nào quy định việc hình thành
và tổ chức của các hiệp hội. Cho đến khi luật cạnh tranh được ban hành, các hiệp hội
vẫn có thể công khai về giá sản phẩm dịch vụ mà hiệp hội cung cấp. Một số hiệp hội
ràng buộc các thành viên trong việc định giá, điều này có thể thấy sự xuất hiện hiện
tượng 7 công ty thuộc hiệp hội phân bón Việt Nam, chiếm 85% thị phần trên thị trường
cung cấp phân bón trong nước, thỏa thuận giữ giá bán tối thiểu. Sự thống nhất bán giá
bán tối thiều dường như đã góp phần đẩy giá phân bón tăng cao trong nhiều năm nay,
gây bất lợi cho nông dân. Tương tự như vậy, giá tân dược tăng giá quá cao so với khu
vực và thê giới cũng đặt ra nhiều nghi vấn về những thỏa thuận độc quyền đã nâng giá
hàng hóa khi tiêu thụ tại Việt Nam.
Ngoài ra, các hiệp hội còn thống nhất phương thức tính giá( ví dụ một hiệp hội
taxi quy định giá dịch vụ tối thiểu cho mỗi km và phương thức tính giá cước cho các

bán hàng hóa dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa
vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
Nhằm giảm sức ép cạnh tranh các doanh nghiệp có thể cùng nhau thỏa thuận
trước các điều kiện hay điều khoản tiêu chuẩn sẽ được áp dụng khi mua bán hàng hóa
dịch vụ; các hiệp hội cũng có thể áp đặt các thành viên của mình nghĩa vụ phải sử dụng
các điều khoản mua bán chung được hiệp hội xác định trước. Những điều khoản tiêu
chuẩn này thường được coi là có tác dụng hạn chế cạnh tranh đáng kể trừ khi các bên
liên quan vẫn có quyền tự do lựa chọn việc có áp dụng những tiêu chuẩn này hay không
trong từng hợp đồng cụ thể.
2.6. Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia
thị trường hoặc phát triển kinh doanh và thỏa thuận loại bỏ khỏi thị
trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận
Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận
hoặc cùng hành động dưới một trong các hình thức: Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng
của mình không mua, bán hàng hóa, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không
tham gia thảo thuận…Loại thỏa thuận này được áp dụng với các doanh nghiệp đang
muốn gia nhập thị trường hoặc phát triển kinh doanh không phải là các bên của thỏa
thuận bằng cách tẩy chay hoặc phong tỏa mạng lưới phân phối, tiêu thụ hoặc nguồn
cung cấp hàng hóa dịch vụ của mình…nhằm ngăn chặn các doanh nghiệp khác gia nhập
7


thị trường hoặc mở rộng thị phần. Điển hình có một vụ việc xảy ra ở Quảng Ngãi: Công
ty Mai Linh khai trương tuyến xe khách chất lượng cao Quảng Ngãi-Đà Nẵng, 26 chủ
xe thuộc năm HTX vận tải ở Quảng Ngãi đã đồng loạt phản đối, không cho xe khách
chất lượng cao Mai Linh tham gia đưa rước khách tuyến Quảng Ngãi-Đà Nẵng. Sau đó,
26 chủ xe trên cùng ký tên vào đơn kiến nghị, cho rằng việc Sở GTVT Quảng Ngãi cấp
phép cho Công ty Mai Linh tham gia đưa rước khách tuyến Quảng Ngãi-Đà Nẵng là bất
hợp lý, dẫn tới việc “bóp chết” họ vì họ không thể cạnh tranh với xe Mai Linh.Tỉnh



tiêu cực đến môi trường cạnh tranh của nước ta trong lĩnh vực xây dựng cũng như các
lĩnh vực khác của toàn bộ nền kinh tế.
Hậu quả của đấu thầu khép kín dẫn đến tỷ lệ thất thoát là bao nhiêu? Về vấn đề
này sẽ không có câu trả lời chính xác, song có thể dựa váo một số báo cáo để xem xét:“
Thanh tra nhà nước năm 2002 đã tiến hành thanh tra 17 dự án có tổng mức đầu tư là
9.385 tỷ đồng, tổng giá trị vốn đầu tư được thanh tra, kiểm tra là 6.407 tỷ đồng. TỔng
số sai phạm về tài chính phát hiện ở 17 dự án là 871 tỷ đồng chiếm 13.6%.8
Năm 2003 đã thanh tra 14 dự án lớn với tổng mức đầu tư là 8.193 tỷ đồng, trong dó giá
trị vốn đầu tư được thanh tra là 6.950 tỷ đồng. Qua thanh tra đã phát hiện ra nhiều sai
phạm về kinh tế do làm trái các quy định của nhà nước là 1.235 tỷ đồng, chiếm 19%
Các địa phương đã tiến hành thanh tra 2.138 dự án, công trình với tổng mức giá trị vốn
đầu tư được thanh tra là 4.685 tỷ đồng, đã phát hiện sai phạm và kiến nghị xử lý 136 tỷ
đồng, khoảng 2.9%
Qua số liệu kiểm toán nhà nước năm 2002, 2003 và đầu năm 2004 cho thấy, trong 648
dự án với giá trị khoảng 6.000 tỷ đồng có sai sót 159 tỷ đồng, chiếm 2,6 % giá trị kiểm
toán”.
“ Đấu thầu khép kín”là một hiện tượng đặc biệt, có thể nói đây là sản phẩm của
cơ chế bảo vệ nguồn vốn ngân sách. Thực trạng này không những làm ảnh hưởng
nghiệm trọng đến môi trường cạnh tranh, lãng phí nguồn nhân lực của nhà nước và xã
hội mà nguy hiểm hơn, nó còn tọa điều kiện để hình thành những mầm mống quan hệ
bất chính giữa cơ quan quản lý nhà nước và các DN, từ đó xuất hiện nhóm thế lực ngầm
trong hoạt động kinh doanh.
Nếu như hình thức đấu thầu khép kín như trên thường được sử dụng ở những dự án có
quy mô lớn sử dụng hơn 30% vốn ngân sách nhà nước và phải công khai ở mức độ cao
thì ở các dự án có quy mô nhỏ hơn thường xuất hiện hình thức thỏa thuận giữa các nhà
thầu là các DN định ra người thắng thầu hoặc làm sai lệch giá trúng thấu, đẩy sát lên
trần giá. Đây là một hình thức thảo thuận theo chiều ngang liên kết nhằm loại bỏ đối
thủ, hình thức tiêu cực này tạo nên trên thực tế không ít các trường hợp đấu thầu, tranh

Dưới đây là một ví dụ về việc hai doanh nghiệp đã có hành vi TTHCCT:
Công ty phát thanh cáp Atys và cáp Seco Nhật Bản
Công ty phát thanh cáp Atys và công ty phát thanh cáp Seco, là hai nhà cung cấp hệ
thống cáp duy nhất tại một địa phương ở Nhật Bản. Họ thương thu phí sử dụng truyền
hình cáp của người dân địa phương là 300 yên/ tháng và những người dân ngoài địa
phương là 400- 500 yên/tháng. Tuy nhiên từ giữa năm 2003, Atys và Seco đã cùng gửi
thư đến những người sử dụng dịch vụ của họ để thông báo về việc tăng phí. Cả hai
thừa nhận là do chi phí giữa họ nên cả hai đều phải chịu thua lỗ.
Vì vậy, Atys và Seco đã thỏa thuận với nhau và chấm dứt cạnh trnah về giá và xóa bỏ
việc giảm giá cho những người sử dụng cư trú ở các khu nhà ở và các khu liên hợp.
Hai bên cũng nhất trid là sẽ điều chỉnh giá dịch vụ. Theo quyết định Ủy ban cạnh tranh
Nhật Bản, Atys và Seco bị yêu cầu chấm dứt việc thực hiện hành động trên. Đối với
trách nhiệm hình sự của họ, vụ việc này sẽ được chuyển cho công viên để điều tra thêm.

10


Vụ việc của Atys và Seco là một dấu hiệu cảnh báo đối với các doanh nghiệp muốn
dùng cách “ thông đồng” để thu lợi nhuận lớn ngay trước mắt thay vì sử dụng chính
năng lực cạnh tranh và khả năng thực tế của mình để thu hút khách hàng9
-Mỹ là một nước mà chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển nhanh trong thế
kỷ XIX. Sự tích tụ tư bản dưới hình thức Tơrớt đã làm cho một số nghành công
nghiệp ở Mỹ như sắt thép, đường,thuốc lá… rơi vào những tập đoàn tư bản lớn.Sự
lạm dụng vị thế của những tập đoàn này trên thị trường vào cuối thế kỷ XIX làm
cho người dân Mỹ
họ đã gây sức ép để cho nhà nước phải ban hành những đạo luật chống Tơrớt. 10
Trên thực tế hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Mỹ theo luật Sherman là
nghiêm cấm mọi hành vi ngăn cản thương mại theo chiều ngang và chiều dọc. Theo
chiều ngang, các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh về những khía cạnh, cạnh tranh
quan trọng như giá cả và sản lượng có thể được coi là phạm pháp và phải chị hình phạt

để chứng minh có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh tranh.
Bên cạnh đó, cũng rất khó để các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện và áp dụng
tốt Luật cạnh tranh. Hơn nữa tính độc lập của các cơ quan như Cục Quản lý Cạnh tranh,
Hội đồng Cạnh tranh vẫn chưa rõ ràng, ngay cả tên tuổi của những thành viên trong Hội
đồng Cạnh tranh cũng chưa được doanh nghiệp biết đến nhiều...
3. 2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Thứ nhất: Nên có sự phân biệt giữa thỏa thuận ngang và thỏa thuận dọc, bởi 2
thỏa thuận này có sự khác nhau về bản chất mà mức độ gây hại của từng hành vi đối
với thị trường. Thỏa thuận ngang là dạng thỏa thuận được thực hiện giữa các chủ thể
với tư cách là đối thủ của nhau trên thị trường liên quan.
Thứ hai, về lý luận cũng như trên thực tế, không nên coi thị phần là căn cứ duy
nhất để kết luận một hành vi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hợp pháp hay bất hợp
pháp như hiện nay. Bởi lẽ thông thường một doanh nghiệp có thể kinh doanh nhiều
ngành nghề khác nhau cho nên cùng một lúc doanh nghiệp đó cũng tham gia vào nhiều
thị trường liên quan khác nhau và trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh một vụ việc chỉ
được xem xét trong một thị trường liên quan.
Thứ ba, cần quy định một chế tài riêng cho loại hành vi đấu thầu thông đồng để
phù hợp với thông lệ quốc tế và nhằm ngăn chặn những tác hại tiêu cực của nó đối với
nền kinh tế, có thể nói hiện tượng thông đồng đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian quan
diễn biến rất phức tạp, đặc biệt đối với những dự án có quy mô lớn; vậy cần có những
quy định chế tài riêng cho các loại hành vi Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này.
3.2.2. Tổ chức quản lý nhà nước về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của
đội ngũ cán bộ, công chức trong Cục quản lý cạnh tranh. Ngoài ra cần bổ sung đầy đủ
cán bộ cho bộ máy tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh, bên cạnh đó việc trau dồi và
nâng cao ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức cho các cán bộ trong Cục cũng là điều
hết sức quan trọng.
12


Nam.

13


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb, CAND,
2011
2. Luật số 27/2004/QH11 ngày 3/12/2004 về cạnh tranh
3. Nghị định của Chính phủ số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định
chi tiết thi hành một số điều Luật cạnh tranh
4. Quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh số 14/QĐ-HĐXL ngày
29/7/2010 về xử lý vụ việc cạnh tranh số KNCT- HCCT- 0009
5. VCC - www.hoidongcanhtranh.gov.vn
6. EU-Viet Nam MUTRAP III - www.mutrap.org.vn
7. Tạp chí Thanh tra Việt Nam ngày 18/5/2002
8. Báo Pháp Luật TP.HCM đưa tin, vào sáng ngày 30/3/2009.
9. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status