ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI DUY PHƯỚC
THỎA THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ
NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2012ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm, bản chất pháp lý của các thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh
1.1.2. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật và các trường hợp được
miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.2. Khái niệm, bản chất pháp lý và yêu cầu điều chỉnh
pháp luật đối với các thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế
cạnh tranh
1.2.1. Khái niệm, bản chất pháp lý của thỏa thuận ấn định
giá nhằm hạn chế cạnh tranh
1.2.2. Hậu quả pháp lý của thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn
chế cạnh tranh và yêu cầu điều chỉnh pháp luật
1.2.3. Các căn cứ để xác định các thỏa thuận ấn định giá
nhằm hạn chế cạnh tranh bị kiểm soát và xử lý
1.3. Kinh nghiệm pháp luật của một số nước trong việc
điều chỉnh các thỏa thuận về giá nhằm hạn chế cạnh tranh
1.3.1. Kinh nghiệm của pháp luật Hoa Kỳ
1.3.2. Kinh nghiệm của pháp luật các nước Châu Âu
1.3.3. Kinh nghiệm của pháp luật Nhật Bản
Chương 2 : THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI CÁC THỎA THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ NHẰM HẠN
CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng quy định pháp luật điều chỉnh các thỏa
thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
2.1.1. Khái niệm và căn cứ xác định các thỏa thuận ấn định
giá nhằm hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
2.1.2. Các hình thức xử lý đối với thỏa thuận ấn định giá
nhằm hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật để điều chỉnh các
thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
44
49
2.2.1. Thực trạng các thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế
cạnh tranh trên thị trường Việt Nam thời gian qua
2.2.2. Thực trạng xử lý các thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn
chế cạnh tranh
2.3. Một số nhận xét về thực trạng điều chỉnh pháp luật
đối với các thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở
Việt Nam
2.3.1. Về các quy định của pháp luật cạnh tranh
2.3.2. Về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật cạnh
tranh
Chương 3 : MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT ĐỂ ĐIỀU CHỈNH HIỆU QUẢ CÁC THỎA THUẬN ẤN
ĐỊNH GIÁ NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH
3.1. Những định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp
luật để điều chỉnh hiệu quả các thỏa thuận ấn định giá nhằm
hạn chế cạnh tranh
3.1.1. Cơ chế điều chỉnh pháp luật về thỏa thuận ấn định giá
phải gắn liền với chính sách cạnh tranh phù hợp, hiệu quả
3.1.2. Cơ chế điều chỉnh pháp luật về thỏa thuận ấn định giá
gắn liền với việc đảm bảo quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực
3.1.3. Cơ chế điều chỉnh pháp luật về thỏa thuận ấn định giá
gắn liền với việc đảm bảo sự công bằng lợi ích giữa Nhà nước,
người tiêu dùng và doanh nghiệp
75 76
77
78 86
88
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi vậy, pháp luật được xem là
một trong những công cụ hiệu quả nhất trong tay Nhà nước nhằm quản lý và
điều tiết vĩ mô các hoạt động của nền kinh tế, góp phần ổn định thị trường,
đảm bảo trật tự và công bằng xã hội.
Cùng với hệ thống pháp luật kinh tế được xây dựng và ngày càng hoàn
thiện nhằm điều tiết hiệu quả các quan hệ kinh tế trong điều kiện kinh tế thị
trường, pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam được ra đời đã góp phần quan trọng
trong việc tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh trong kinh
doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp thuộc các
suất 14%/năm cũng là vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh. Có thể nói,
hoạt động của các hiệp hội trong một số ngành (Bảo hiểm, Thép, Ngân hàng)
thực tế đã có những hành vi làm hạn chế cạnh tranh. Ngành Ngân hàng đã có
dấu hiệu vi phạm khi ấn định trần lãi suất tiền gửi. Ngành Thép công khai
thỏa thuận ấn định giá bán thép. Thời gian qua, có dấu hiệu thỏa thuận ấn
định giá bán mặt hàng sữa bột nhãn hiệu nước ngoài nhập khẩu. Tuy nhiên,
ngoài Hiệp hội Ngân hàng đã xin rút thỏa thuận nói trên, vụ việc của Hiệp hội
Thép đã không bị xử lý.
Với mong muốn thực hiện nghiên cứu để làm rõ bản chất, cũng như các
hình thức biểu hiện của những thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh
tranh dưới cả hai góc độ tích cực và tiêu cực, cũng như thực trạng áp dụng các
quy định về vấn đề này của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, đồng thời, dựa
trên cơ sở tham khảo một số quy định của pháp luật cạnh tranh các nước tiên 3
tiến, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và mạnh dạn đề xuất giải pháp hoàn
thiện pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành, góp phần vừa bảo vệ quyền tự
do kinh doanh của doanh nghiệp, vừa bảo vệ các lợi ích công cộng, nên tác
giả đã lựa chọn đề tài “Thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở
Việt Nam” để nghiên cứu và làm Luận văn tốt nghiệp Cao học Luật.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật nhằm đảm bảo để nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
phát triển, đã có một số công trình nghiên cứu bước đầu về pháp luật cạnh
tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vấn đề độc quyền và kiểm
soát độc quyền, như: “Chuyên đề về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp
pháp và kiểm soát độc quyền” của tác giả Đặng Vũ Huân đăng tải trên Thông
tin Khoa học pháp lý, tháng 11 năm 1996 của Viện Nghiên cứu khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp; “Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều
2007; “Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và
một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn
Cương, năm 2006; “Hành vi hạn chế cạnh tranh – Một số vụ việc điển hình
của Châu Âu” - tài liệu tham khảo thuộc Dự án hỗ trợ thương mại đa biên
(MULTRAP) và Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp thực hiện năm 2009;
“Chính sách cạnh tranh từ góc độ quốc gia đang phát triển” của tác giả Bùi
Nguyễn Anh Tuấn, năm 2010; “Điều chỉnh pháp luật đối với các thoả thuận
hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” - Luận án Tiến sĩ của tác giả
Nguyễn Thị Nhung, năm 2011
Nhìn chung, các công trình khoa học này đều đã tiếp cận nghiên cứu
pháp luật cạnh tranh ở những phạm vi, mức độ và các khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện,
đầy đủ và có hệ thống về các thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh 5
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận
cũng như cơ sở pháp lý của việc xác định và điều chỉnh những thỏa thuận ấn
định giá làm hạn chế cạnh tranh, thực trạng áp dụng các quy định pháp luật
cạnh tranh để xử lý các trường hợp này trong thời gian qua ở Việt Nam.
Cùng với việc tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước thực
hiện điều chỉnh các thỏa thuận này, Luận văn đưa ra các nhận xét, đánh giá và
kiến nghị để có thể hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh nhằm
điều chỉnh vấn đề này một cách hiệu quả hơn.
Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn gồm:
Thứ nhất: Nghiên cứu các vấn đề lý luận của pháp luật cạnh tranh về
thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh.
góp phần hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh và nâng cao hiệu quả điều chỉnh
pháp luật đối với các thoả thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt
Nam hiện nay. Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu nghiên cứu, giảng
dạy về chuyên ngành Luật Cạnh tranh.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thoả thuận ấn định giá nhằm hạn
chế cạnh tranh
Chƣơng 2: Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với các thoả thuận ấn
định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
Chƣơng 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh hiệu quả
các thoả thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam 7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN
ẤN ĐỊNH GIÁ NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT PHÁP LÝ VÀ YÊU CẦU ĐIỀU
CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC THOẢ THUẬN HẠN CHẾ CẠNH
TRANH
1.1.1. Khái niệm, bản chất pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh
1.1.1.1. Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thị trường là nơi trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở sự ưng thuận
giữa các bên tham gia trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Quan hệ trao đổi hàng hóa,
dịch vụ trên thị thường được gọi là quan hệ thị trường. Thị trường có ba yếu
tố chủ yếu là: (i) Người bán (người cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho thị trường
khác tham gia đầu tư sản xuất hàng hóa, dịch vụ để cạnh tranh với người bán
đó. Quá trình cung – cầu trong nền kinh tế thực tế thường phức tạp và phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như số lượng người mua, người bán trên thị trường,
tiềm năng của mỗi người mua, người bán đối với thị trường, những rào cản
gia nhập thị trường, những điều này được gọi là cấu trúc thị trường.
Theo cách hiểu thông thường, cạnh tranh là các hoạt động đối nghịch
giữa các bên để có một lợi ích mà không thể tất cả mọi bên đều đạt được [52],
còn thỏa thuận là việc các bên cùng thực hiện một công việc mà các bên đều
được lợi thông qua việc thực hiện công việc đó. Cạnh tranh thúc đẩy các bên
phải cải tiến hàng hóa, dịch vụ của mình theo xu hướng ngày càng có giá rẻ
hơn và chất lượng tốt hơn để giữ hoặc tăng thị phần mình đang có bằng cách
đầu tư vào các nguồn lực mà mình nắm giữ. Như vậy, cạnh tranh sẽ là trò
chơi “được - thua” trong khi thỏa thuận là các bên đều thắng. Vì vậy, các bên
luôn có xu hướng tiến tới thỏa thuận với nhau để làm giảm áp lực chạy đua về 9
cạnh tranh, tiết kiệm được chi phí đầu tư cải tiến và cuối cùng là thu lợi nhuận
cao hơn.
Trong kinh tế học, thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh được hiểu là sự
thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ
sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập
giữa các đối thủ. Theo Từ điển Chính sách Thương mại Quốc tế, cartel là
một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi
cho các hãng có liên quan nhưng có thể có hại cho các bên khác [54, tr. 47].
Dưới giác độ pháp lý, mặc dù các văn bản pháp luật về canh tranh ở
trong và ngoài nước đều không đưa ra quy định khái niệm về thoả thuận hạn
chế cạnh tranh, song từ các quy định về hành vi của các thoả thuận bị cấm
đoán, có thể giải thích về nội hàm của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh như
sau: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thỏa thuận phối hợp hành động với
hoặc chiều dọc của các quy trình kinh doanh” [48, tr. 336].
Hay trong cuốn sổ tay với tiêu đề “Hành vi hạn chế cạnh tranh - Một
số vụ việc điển hình của Châu Âu” do Dự án hỗ trợ thương mại đa biên
(MULTRAP) và Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp thực hiện, thì thoả
thuận hạn chế cạnh tranh được định nghĩa là: “Những thoả thuận giữa các
doanh nghiệp cạnh tranh nhằm ấn định giá hoặc sản lượng hoặc phân chia thị
phần, khách hàng - thường được biết đến dưới tên gọi cartel - hoặc các thoả
thuận theo đó các bên tham gia đấu thầu ấn định giá bỏ thầu hoặc thoả thuận
trước doanh nghiệp sẽ thắng thầu - thường được biết đến dưới dạng đấu thầu
thông đồng. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh cũng bao gồm cả các thoả
thuận dọc có tác động tiêu cực đến cạnh tranh như thoả thuận ấn định giá bán
lại một sản phẩm nhằm ngăn cản nhà phân phối cung cấp ưu đãi cho khách
hàng" [16, tr. 7]. 11
Qua các nghiên cứu ở trên, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về thoả
thuận hạn chế cạnh tranh như sau:
“Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí giữa các doanh
nghiệp độc lập với nhau (gọi là các thành viên) để thực hiện các hành vi nhằm
mục đích thủ tiêu hoặc hạn chế sự cạnh tranh giữa chúng và qua đó ngăn cản
sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh khác cũng như của các
doanh nghiệp tiềm năng”.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các đối thủ thiết lập ở nhiều quy
trình khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa và nó
cũng diễn ra ở các chủ thể tham gia thỏa thuận có vị trí khác nhau trong quá
trình này. Dựa trên căn cứ đó, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được chia
là các loại sau đây:
(i) Thỏa thuận giữa những người bán với nhau (thỏa thuận ấn định giá,
phân chia thị trường tiêu thụ);
cùng các thành viên này được hợp thành một chủ thể thống nhất.
Thứ hai, các doanh nghiệp đã có sự thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh
tranh.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong những hình thức hạn chế
cạnh tranh điển hình. Theo đó, các bên tham gia quan hệ có sự bày tỏ ý chí
trước chủ thể phía bên kia về việc mong muốn đạt được sự thỏa thuận (về nội
dung cụ thể) với chủ thể đó và cũng mong muốn chủ thể phía bên kia chấp
nhận ý chí của mình về các nội dung liên quan đến việc hạn chế cạnh tranh.
Dưới góc độ xem xét đến các hành vi hạn chế cạnh tranh, sự thoả thuận
ở đây có thể được hiểu là sự thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp, các
doanh nghiệp tìm được ý chí chung và mục đích của việc tìm kiếm ý chí
chung này là hạn chế cạnh tranh. Do đó, có thể hiểu sự thoả thuận này là kết
quả của quá trình đàm phán, thương lượng của các doanh nghiệp với nhau 13
liên quan đến một nội dung cụ thể có khả năng gây suy giảm, bóp méo hoặc
thủ tiêu cạnh tranh.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp các doanh nghiệp không thoả thuận một
cách trực tiếp với nhau mà “gián tiếp” đạt được sự thoả thuận thông qua quyết
định của Hiệp hội mà các doanh nghiệp là thành viên. Sở dĩ chúng ta vẫn coi
đó là sự thoả thuận bởi lẽ khi doanh nghiệp tham gia hiệp hội, chấp nhận các
cam kết chung của hiệp hội, trong đó chấp nhận cho phép hiệp hội được đưa
ra các quyết định và mình tuân theo, thì đây cũng chính là sự thoả thuận của
doanh nghiệp, hình thức thoả thuận này gần như là sự “uỷ quyền quyết định”
cho hiệp hội và bất luận như thế nào thì doanh nghiệp cũng đồng ý. Ngoài ra,
sự thoả thuận này còn có thể thể hiện dưới dạng các cam kết đáp ứng các yêu
cầu của một bên hoặc các bên tham gia. Trên thực tế, có trường hợp các
doanh nghiệp có các hành vi giống nhau thì cũng chưa thể kết luận là các
doanh nghiệp này có sự thoả thuận được bởi lẽ có thể đó là sự ngẫu nhiên trên
Về hình thức biểu hiện, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống
nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp hoặc công khai hoặc bí mật, mà
thông thường là bí mật. Để chứng minh cho hành vi của các doanh nghiệp, cơ
quan có thẩm quyền phải chứng minh giữa các doanh nghiệp đã tồn tại một
hợp đồng, bản ghi nhớ, biên bản họp về một thỏa thuận công khai hoặc ngầm
nhằm đồng ý về giá, về sản lượng, phân chia thị trường, tức là, có chứng cứ
để chứng minh các nhà quản lý doanh nghiệp đã bàn bạc, thống nhất về nội
dung cùng hành động nhằm hạn chế cạnh tranh
Luật Mẫu về cạnh tranh của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên
Hợp Quốc quy định hình thức của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể bất kể
là thỏa thuận ngầm định, bằng lời nói hay bằng văn bản, chính thức hay
không chính thức. Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng như của nhiều quốc
gia khác không đề cập đến hình thức biểu hiện của thỏa thuận hạn chế cạnh 15
tranh phải thể hiện bằng văn bản, bằng miệng, bằng hành vi cụ thể hay bất cứ
một hình thức nào khác, mà chỉ xác định là các thoả thuận đó nhằm hạn chế
cạnh tranh. Trên thực tế, việc xác định hình thức thể hiện của các thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tra và xử lý các
hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm - mặc dù hình thức pháp lý của
một thoả thuận không ảnh hưởng gì đến hậu quả pháp lý nếu xác định được
sự thoả thuận.
Mặc dù việc xác định hình thức pháp lý của các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh không phải là tiêu chí bắt buộc khi đánh giá tính hợp pháp của một
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và vì thế, từ phương diện pháp luật tố tụng
cạnh tranh, các hình thức kể trên đều có thể được chấp nhận. Đáng lưu ý là,
hầu hết các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều tồn tại dưới hình thức thoả
thuận ngầm, nên việc nhận dạng, đấu tranh và phát hiện chúng bằng việc thu
thập những chứng cứ thông thường như: bản hợp đồng, biên bản cuộc họp,
Tuy nhiên, không phải mọi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mang lại hậu
quả đều bị coi là bất hợp pháp và bị xử lý theo pháp luật. Theo nguyên tắc
Rule of Reason, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó phải vượt “ngưỡng đáng
kể” – mang lại những hậu quả xấu nhiều hơn những lợi ích cho thị trường.
1.1.2. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật và các trƣờng hợp đƣợc miễn
trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thực tế vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường cho thấy, nếu cạnh
tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, thì thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh (cartel) được xem là phương tiện triệt tiêu cạnh tranh trên thị
trường và nó thường bị xem là có hại cho nền kinh tế, chống lại cạnh tranh.
Cartel giúp tạo lập và củng cố sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp,
nhóm doanh nghiệp trong cartel có thể xử sự như một nhà độc quyền và bóc
lột người tiêu dùng hoặc đối tác của mình. Cartel giúp cho các thành viên hoạt 17
động không hiệu quả khỏi áp lực về cạnh tranh, tạo xu hướng sự lười biếng
trong lao động và sự trì trệ trong hoạt động phát minh, đổi mới và sáng tạo.
Cartel là hình thức thỏa thuận nguy hại bậc nhất giữa các đối thủ cạnh tranh,
chúng đặc biệt nguy hiểm đối với các ngành kinh tế cũng như đối với người
tiêu dùng, chúng làm giảm phúc lợi xã hội, tạo ra tình trạng phi hiệu quả và
hiệu ứng chuyển tài sản, thu nhập từ người tiêu dùng sang các thành viên
cartel. Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như vậy cũng rất nguy hại xét về
dài hạn. Việc sử dụng cartel để tránh áp lực cạnh tranh có thể tạo nên cơ cấu
nền kinh tế (cơ cấu thị trường) không ổn định, không kinh tế và giả tạo, làm
giảm năng suất lao động, giảm tốc độ cải thiện công nghệ và duy trì giá cả ở
mức cao [53].
Những tác hại của cartel thể hiện rõ nét dưới hình thức can thiệp từ khu
vực tư nhân với sự vận hành tổng thể của cơ chế thị trường. Trước hết, phúc
lợi xã hội bị mất do giá cả hàng hóa bị đẩy lên cao và giảm sản lượng sản
trợ, ví dụ: thỏa thuận hợp tác giữa các đối thủ cạnh tranh trong việc lập ra một
liên doanh cùng sản xuất một mặt hàng nào đó, các điều khoản về ấn định giá,
sản lượng chỉ có tính bổ trợ đối với một thỏa thuận hợp tác tạo ra lợi ích kinh
tế có quy mô lớn hơn. Nếu thỏa thuận này có tác dụng bổ trợ và cần thiết cho
sự vận hành bình thường của thỏa thuận chính, những thỏa thuận này sẽ
không được coi là thỏa thuận có hại cho nền kinh tế và không bị coi là bất hợp
pháp. Những thỏa thuận này cần để nền kinh tế khai thác hết các tiềm năng
của mình.
Các nước trên thế giới đi theo mô hình kinh tế khác nhau, tuy nhiên các
nước đều thấy rằng muốn có sự phát triển kinh tế thực sự thì cần có những
yếu tố như đảm bảo quyền tự do thương mại, tự do kinh doanh, tự do hợp
đồng, tự do cạnh tranh. Chính vì vậy, đến nay có gần 100 quốc gia đã ban
hành luật cạnh tranh [56, tr. 16]. Tóm lại, cạnh tranh là tốt cho sự phát triển 19
của xã hội, tự do và công bằng là một giá trị cần được bảo vệ, hơn nữa cạnh
tranh dễ bị bóp méo và mất tác dụng trước những thủ thuật thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh do các doanh nghiệp trong nền kinh tế áp dụng, và cuối cùng cạnh
tranh chỉ có thể được duy trì, cải thiện hoặc tăng cường bởi nhà nước điều
chỉnh bằng công cụ pháp luật, tức là “bàn tay hữu hình” có thể giúp “bàn tay
vô hình” hoạt động hiệu quả hơn [9].
1.2. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT PHÁP LÝ VÀ YÊU CẦU ĐIỀU
CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC THOẢ THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ
NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.2.1. Khái niệm, bản chất pháp lý của thỏa thuận ấn định giá
nhằm hạn chế cạnh tranh
Ấn định giá là thuật ngữ dùng chỉ những hành động chung của các đối
thủ cạnh tranh làm ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Thỏa thuận ấn định giá
hàng hóa, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất một mức giá hoặc cách
định để thực hiện, điều này không hề đơn giản bởi vì mỗi doanh nghiệp do có
những đặc điểm khác nhau về quy mô, công nghệ mà mình nắm giữ nên họ
muốn có một mức giá khác nhau, điều này rất dễ hiểu bởi vì các doanh nghiệp
có mức chi phí đầu vào cao sẽ muốn mức giá thỏa thuận cao và ngược lại.
Bên cạnh đó, nếu như một số sản phẩm được kết hợp với nhau thì các thành
viên phải thỏa thuận với nhau về giá của toàn bộ sản phẩm, hoặc nếu như các
sản phẩm của các doanh nghiệp không hoàn toàn giống nhau thì các doanh
nghiệp phải thỏa thuận với nhau về tỷ lệ giá cả.
Những thị trường với những đặc điểm dưới đây có nguy cơ cao về việc
hình thành thỏa thuận ấn định giá:
- Có rất ít doanh nghiệp, hoặc chỉ vài doanh nghiệp quan trọng, tức là
những doanh nghiệp lớn này nắm giữ phần lớn thị phần; 21
- Các doanh nghiệp tương tự nhau về cơ cấu giá cả, quy trình sản xuất,
mức độ sản xuất;
- Sản phẩm chỉ mang tính thuần nhất, tức là các sản phẩm không có sự
khác biệt nhiều;
- Sản phẩm không có sản phẩm khác thay thế;
- Nhu cầu của người tiêu dùng không thể giảm một cách đáng kể;
- Có nhiều thông tin về giao dịch bán hoặc thu mua, điều này giúp các
thành viên trong thỏa thuận ấn định giá sẽ giám sát được lẫn nhau [20, tr. 70].
Những thỏa thuận ấn định giá có thể biểu hiện dưới những hình thức
sau:
- Thỏa thuận tăng giá;
- Thỏa thuận về một công thức chuẩn dùng để tính giá;
- Thỏa thuận về việc duy trì một tỷ lệ cố định về giá cả của những sản
phẩm cạnh tranh giống nhau nhưng không đồng nhất;
- Thỏa thuận để loại trừ việc chiết khấu giá hoặc thiết lập mức chiết