pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh ở việt nam - Pdf 32

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT CHỐNG LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ
TRƢỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở
VIỆT NAM

Giáo viên hƣớng dẫn:
Ths. Nguyễn Mai Hân

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thùy Uyên
MSSV: 5062440
Lớp Luật thƣơng mại 2-K32

Cần Thơ, Tháng 04/2010


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................ Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1................................................... Error! Bookmark not defined.

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ HÀNH VI
HẠN CHẾ CẠNH TRANH .............................. Error! Bookmark not defined.
1.1. Khái quát chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranhError! Bookmark not defined.
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và ý nghĩa của cạnh tranhError! Bookmark not defined.
1.1.2. Sự cần thiết phải có pháp luật cạnh tranh ......... Error! Bookmark not defined.

2.2.2. Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp
đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng ........ Error! Bookmark not defined.


2.3. Thực trạng về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
để hạn chế cạnh tranh và một số đề xuất hướng giải quyết.Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ................................................... Error! Bookmark not defined.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Văn bản quy phạm pháp luật
1. Bộ luật dân sự năm 2005;
2. Luật cạnh tranh năm 2005;
3. Luật thương mại năm 2005;
4. Luật doanh nghiệp năm 2005;
5. Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh;
6. Luật cạnh tranh Thỗ Nhĩ Kỳ, luật số 4054;
7. Luật cạnh tranh Canada.
II. Sách, tài liệu tham khảo
1. Bộ Thương mại (Bộ Công thương ngày nay), Luật mẫu về cạnh tranh, Hà
Nội, 2003.
2. Cơ quan phát triển quốc tế Canada CIDA, Bộ Công thương Việt Nam, Luật
cạnh tranh Canada và bình luận, 2004.
3. David W. Peace, Từ điển kinh tế học hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội. 1999
4. Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh: Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh
tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB
Công an Nhân dân, Hà Nội. 2001.
5. Lê Hoàng Oanh, Bình luận khoa học luật cạnh tranh, Nxb. Chính trị quốc

http://news.vibonline.com.vn/Home/xdpl/2009/10/5116.aspxtruy cập ngày
5/10/2009


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TÔT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2006 -2010
Đề tài:

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI LẠM
DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN
ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH

Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Nguyễn Mai Hân

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thùy Uyên
MSSV: 5062446
Lớp: Luật Thương mại 2-K32


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

GVHD: Nguyễn Mai Hân

1

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
của hệ thống pháp luật chống lạm dụng. Qua đó, tạo cơ sở cho việc đánh giá đúng pháp
luật và những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật của chế định pháp luật này.
Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh là một nội dung rất rộng bao gồm pháp luật
chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật chống lạm dụng để hạn chế cạnh tranh,
pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế. Ở luận văn này, chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý
luận cũng như thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế
cạnh tranh. Luận văn này không nghiên cứu chế tài cũng như tố tụng xử lý vụ việc hạn
chế cạnh tranh.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là nền tảng cơ bản để xây dựng đề tài với nội dung và hình
thức một cách logic và khoa học, để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra. Trong quá
trình nghiên cứu, người viết đã vận dụng những kiến thức tiếp thu được trong quá trình
học tập. Phương pháp đối chiếu so sánh, liệt kê, tham khảo các tài liệu từ sách báo, tạp
chí,…đã được người viết sử dụng để hoàn thành luận văn này.
4. Kết cấu của đề tài
Đề tài này gồm:
 Lời mở đầu
 Phần nội dung:
 Chương 1: Khái quát chung về pháp luật cạnh tranh và hành vi hạn chế cạnh
tranh
 Chương 2: Pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để

Việt “Bách khoa tri thức phổ thông” cũng giải thích cạnh tranh l à sự ganh đua giữa những
nhà sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm
giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Với tư cách là động lực
nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cuốn Black’law dictionary, cạnh tranh là sự nỗ lực
hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau
từ chủ thể thứ ba2. Tham khảo luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ, luật này định nghĩa cạnh
tranh có nghĩa là sự đấu tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá và dịch vụ
để quyết định các vấn đế kinh tế một cách độc lập 3.
Theo các cách giải thích trên, nếu nhìn từ phía các chủ thể của hành vi thì cạnh tranh
được coi là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh
1

Nguyễn Văn Cương: Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về luật
cạnh tranh của Việt Nam. Nxb Tư pháp, 2006, tr. 5.
2
Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn: Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội ,
2006, tr.9.
3
Luật Cạnh tranh Thổ Nhĩ Kỳ

GVHD: Nguyễn Mai Hân

3

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng. Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã

4

Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh: Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà nội, 2001, trang 19.

GVHD: Nguyễn Mai Hân

4

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
Thứ ba, cạnh tranh có vai trò điều phối. Cạnh tranh sẽ hạn chế hành vi bóc lột trên
cơ sở quyền lực thị trường và việc hình thành thu nhập không tương ứng với năng suất.
Cạnh tranh được ví như bàn tay vô hình có thể phân phối thu nhập và nguồn lực kinh tế
vào doạnh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tất nhiên cũng lấy đi mọi nguồn lực của doanh
nghiệp kém hiệu quả. Điều này đảm bảo cho các giá trị kinh tế được sử dụng một cách tối
ưu.
Thứ tư, cạnh tranh đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả
nhất. Doanh nghiệp phải sử dụng nguồn lực của mình như: lao động, vốn, kinh nghiệm,
quản lý…một cách tốt nhất để tăng hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí, từ đó tạo ra lợi thế
cạnh tranh bằng cách giảm giá thành sản phẩm. Nói chung, cạnh tranh là động lực cơ bản
giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên liệu được sử dụng tối ưu.
Thứ năm, cạnh tranh thúc đẩy ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong kinh
doanh. Việc sử dụng công nghệ mới sẽ làm giảm chi phí sản xuất và có thể tăng chất
lượng sản phẩm, từ đó hàng hoá áp dụng công nghệ mới sẽ có khả năng chiếm được phần
lớn thị trường do rẻ và tốt hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Cuộc chạy đua
của các doanh nghiệp vô tình làm cho khoa học, kỹ thuật phát triển không ngừng trong

trường dày dạn nên rất dễ nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, từ đó loại
bỏ dần những công ty Việt Nam chủ yếu vừa và nhỏ, tiềm lực kinh tế còn hạn chế, kinh
nghiệm cạnh tranh non trẻ. Vì thế, đòi hỏi Luật Cạnh tranh phải bảo vệ môi trường cạnh
tranh lành mạnh và trong sạch để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội phát triển.
Thứ hai, bảo vệ quyền kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trước sức ép của cạnh tranh, một số doanh nghiệp
không bằng con đường chính để đi tìm kiếm lợi nhuận, mà sử dụng nhiều thủ đoạn bất
chính để dễ dàng vượt qua đối thủ cạnh tranh như: giả mạo chỉ dẫn thương mại, gièm pha
doanh nghiệp khác, quảng cáo, khuyến mại gian dối…Đây là những hành vi có tác động
tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp làm ăn hợp
pháp. Thế nhưng, với những quy phạm pháp luật chưa đầy đủ và nằm rải rác đã ảnh
hưởng đến việc xử lý cũng như ngăn chặn các hành vi này chưa nghiêm. Vì thế, đòi hỏi
phải có luật cạnh tranh để điều chỉnh các vấn đề trên.
Thứ ba, tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng. Hiến pháp 1992
thừa nhận quyền kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Thế nhưng, với đặc thù là
nền kinh tế chuyển đổi, vẫn có sự đối xử không bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Thực tế đã cho thấy vẫn còn có không ít hiện tượng chia
cắt thị trường trong nước, chỉ định đối tác giao dịch xuất phát từ các cơ quan quản lý nhà
nước. Bên cạnh đó, do những lợi ích cục bộ, vẫn diễn ra tình trạng sử dụng mệnh lệnh
hành chính để can thiệp vào hoạt động kinh doanh, tạo lợi thế cho một số doanh nghiệp.
Điều này làm mất đi cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp khác, gây thiệt hại cho
người tiêu dùng và cho nền kinh tế5.
1.1.3. Sự ra đời của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam và một số nước
1.1.3.1. Sơ lược quá trình hình thành pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam
Trong những năm đầu xây dựng đất nước với nền kế hoạch hóa tập trung thì hầu như
không có khái niệm cạnh tranh tồn tại trong nền lập pháp của n ước ta. Cùng với xu hướng
chung của thế giới, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường. Thực tiễn đã đòi hỏi khoa
học pháp lý và khoa học kinh tế phải tìm hiểu bản chất cũng như cơ chế điều chỉnh nó.
Đạo luật đầu tiên ghi nhận quyền cạnh tranh là Điều 8 Luật thương mại 1997. Nhưng quy
định về cạnh tranh vẫn khá mờ nhạt và chưa được chú trọng. Sau đó, nhiều văn bản pháp

hưởng cơ chế mệnh lệnh hành chính còn nặng nề nên phải có quy định hành vi can thiệp
của nhà nước để lành mạnh hóa cạnh tranh.
Thứ hai, Luật Cạnh tranh đã thành lập mới các thiết chế thực thi luật lần đầu tiên
xuất hiện tại Việt Nam. Đó là Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh. Trong đó
Hội đồng Cạnh tranh là một thiết chế khá đặc biệt: là một cơ quan hành chính nhưng lại
có chức năng “xét xử” độc lập. Đây có thể nói là một chế định đặc biệt, tạo một bước đột
phá mới cho nền pháp lý Việt Nam. Hội đồng cạnh tranh là cơ quan chuyên “xét xử hành
chính”. Hội đồng cạnh tranh khi xét xử vụ án hạn chế cạnh tranh với tư cách một cơ quan
tài phán vì: áp dụng pháp luật để ra phán quyết, thủ tục xử lý mang tính tranh tụng, quyết
định của Hội đồng cạnh tranh chỉ bị xét lại bởi tòa án. Tuy nhiên, Hội đồng cạnh tranh lại
khác với cơ quan hành chính khác là làm việc theo chế độ tập thể chứ không phải thủ
trưởng.
Thứ ba, Luật Cạnh tranh đã kết hợp quy phạm nội dung và quy phạm hình thức.
Trước đây trong hệ thống cơ quan hành chính biện pháp xử phạt dựa trên cơ sở biên bản
vi phạm với nguyên tắc mệnh lệnh hành chính. Nhưng Luật Cạnh tranh đã thiết lập cơ chế
cơ quan hành chính ra quyết định trên cơ sở tranh tụng. Điều này ít nhiều đã tạo tiền đề
cho những bước đột phá sau này.
GVHD: Nguyễn Mai Hân

7

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
Thứ tư, Luật Cạnh tranh quy định chế tài phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm so với doanh
thu. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam cho đến khi có Luật Cạnh tranh, các chế tài hành
chính phạt hành vi vi phạm pháp luật chỉ dừng lại ở mức phạt tiền theo số tuyệt đối. Cụ
thể, sẽ có quy định phạt tiền từ mức này đến mức khác cho hành vi vi phạm. Tuy nhiên,

GVHD: Nguyễn Mai Hân

8

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
bộ luật Liên bang. Luật Sherman gồm hai phần chính. Phần một quy định các thoả thuận
gây hạn chế thương mại. Phần hai cấm việc giành được vị thế độc quyền bằng việc sử
dụng các biện pháp phản cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí độc quyền (không phải là độc
quyền tự nhiên). Một điểm quan trọng cần lưu ý là Luật Sherman có thể được thực thi như
luật dân sự hoặc như luật hình sự, các phán xét được trao cho Vụ Chống độc quyền, Bộ
Tư pháp. Cụ thể, các hành vi hiển nhiên vi phạm như: ấn định giá tạm thời, thông đồng để
thắng thầu sẽ bị truy tố hình sự. Trong năm 1914, hai bộ luật Liên bang nữa đã được
thông qua là Luật Clayton và Luật Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC). Theo quy định
của Luật Ủy ban Thương mại Liên bang, FTC được thành lập để thực thi Luật Clayton,
Luật Robinson - Patman (ngoại trừ điều khoản xử lý hình sự theo Luật Sherman). Mặc dù
đã có những sửa đổi, bổ sung đối với 3 bộ luật Li ên bang này (điển hình là Luật Robinson
-Patman 1936 và Luật Hart-Scott-Rodino 1976) nhưng về cơ bản là không có sự thay đổi
lớn từ năm 1914. Đến nay, hầu hết các bang cũng đã thông qua luật của bang căn cứ theo
nội dung của Luật Sherman và Luật FTC.
Trong các nước Châu Âu (Italia, Bỉ, Đức, Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Anh và Thụy
điển), Đức là quốc gia ban hành pháp luật cạnh tranh rất sớm. Đức đã ban hành Luật
Chống hạn chế cạnh tranh, viết tắt ARC, và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/1958.
Tính đến nay, Luật đã được sửa đổi, bổ sung 7 lần. Lần sửa đổi cuối cùng có hiệu lực vào
tháng 07/2005.
Italia đã ban hành Luật Cạnh tranh và Thương mại công bằng ngày 10/10/1990. Tiếp
đó, Quốc hội Italia ban hành pháp luật chống độc quyền quốc gia trên cơ sở yêu cầu của

tranh kinh tế (Economic Competition Act). Đến 1997, Chính phủ liên minh mới đã ban
hành Luật Cạnh tranh mới thay thế cho Luật 1956. Luật Cạnh tranh 1997 này có hiệu lực
kể từ ngày 1/1/1998. Từ đó đến nay, Luật Cạnh tranh đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để
phù hợp với thực tiễn và các quy định của Liên minh Châu Âu. Bản sửa đổi có thể áp
dụng tại thời điểm hiện nay là phiên bản ngày 01/08/2004.
Tại Anh, Luật Cạnh tranh được ban hành ngày 09/11/1998 để sửa đổi Luật Thương
mại lành mạnh 1973. Luật đã đưa thêm các điều khoản cấm các hành vi phản cạnh tranh
(Chương I và Chương II). Văn phòng Thương mại lành mạnh (OFT) có thẩm quyền khá
lớn trong việc điều tra các doanh nghiệp được cho là vi phạm Luật và áp dụng các hình
phạt đối với các doanh nghiệp này. Luật được sửa đổi ngày 01/05/2004, theo đó đã trao
cho OFT quyền điều tra và áp dụng các hình phạt đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm
các điều khoản cấm theo Điều 81 và Điều 82 của Hiệp ước EC. Tuy nhiên một điểm đáng
lưu ý đối với pháp luật cạnh tranh của Anh là khi tiến hành xử lý, OFT không chỉ dựa trên
Luật Cạnh tranh, mà còn tuân theo các quy định pháp luật có liên quan, chẳng hạn Luật
Doanh nghiệp 2002 (có điều khoản quy định vi phạm cacten). Theo đó, các cá nhân tham
gia vào một trong các dạng thoả thuận phản cạnh tranh nghiêm trọng có thể bị truy cứu
trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, khi Luật Doanh nghiệp 2002 được ban hành, nước Anh
cũng đã tiến hành sửa đổi Luật Truất quyền các nhà điều hành doanh nghiệp. Các nhà
điều hành doanh nghiệp khi vi phạm pháp luật cạnh tranh (các hành vi bị cấm theo Điều
81, Điều 81 Hiệp ước EC và của Luật Cạnh tranh) có thể phải nhận Lệnh truất quyền cạnh
tranh. Lệnh này sẽ chấm dứt các hành vi có liên quan và buộc họ không được quản lý
doanh nghiệp trong thời hạn tối đa là 15 năm. Nhưng quan trọng hơn chính là những thay
đổi của pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu. Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh các
hành vi hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc đã được sửa đổi ngay từ năm 1999. Quy chế về
kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp cũng đã được sửa đổi bổ
sung và có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2004. Các quy định hướng dẫn thi hành Điều 81 và
GVHD: Nguyễn Mai Hân

10


ngừng làm cho sản phẩm của họ có sự độc đáo riêng cho dù cùng đáp ứng cho cùng một
nhu cầu. Sự độc đáo có từ thương hiệu, chất lượng, kiểu dáng, cung cách phục vụ…thể
hiện tính độc quyền của nó. Mỗi sản phẩm là đối tượng cạnh tranh của nhau. Trong khi sự
dị biệt hóa làm cho cạnh tranh và độc quyền cùng có mặt. Khi đã được dị biệt hóa, các sản
phẩm chỉ có thể liên quan đến nhau khi có khả năng thay thế cho nhau theo sự lựa chọn
của khách hàng. Vì thế, xác định thị trường liên quan là xác định số lượng doanh nghiệp
6

Tổ chức APEC –OECD, các vấn đề cơ bản về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh
http://www.apeccp.org.tw/doc/APEC-OECD/2003-12/014.pdf.

GVHD: Nguyễn Mai Hân

11

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
là đối thủ cạnh tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong khu vực thị trường nhất
định7.
Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 quy định thị trường sản phẩm liên quan là thị trường
của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và
giá cả. Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng
hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh t ương tự và có sự khác
biệt đáng kể với các khu vực lân cận.
Để xác định khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm, ta xét đến hai yếu tố:
 Tính chất của sản phẩm được thể hiện bằng việc phân tích các đặc tính lý hóa và
mục đích sử dụng.


12

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
cho nhau nhưng vẫn kiểm tra thái độ của người tiêu dùng một khi có sự thay đổi giá cả.
Khi có sự thay đổi giá cả, khách hàng từ bỏ thói quen sử dụng một sản phẩm để chuyển
sang sử dụng một sản phẩm thì có thể kết luận hai sản phẩm có thể thay thế cho nhau.
Cuộc điều tra bắt đầu bằng một giả định rằng sản phẩm bị điều tra sẽ tăng giá, nếu khách
hàng phản ứng lại bằng cách chuyển sang sử dụng một sản phẩm khác có đặc tính tương
tự thì có thể kết luận là hai sản phẩm trên có thể thay thế cho nhau.
Vấn đề này có hai yếu tố cần lưu ý. Đó là, mức tăng là giả định nên xác định mức
tăng có ý nghĩa quyết định tính hiệu quả của cuộc điều tra. Và, không phải tất cả người
tiêu dùng đều thay đổi thói quen tiêu dùng khi có sự tăng giá. Đối với những mặt hàng
nhất định, số lượng khách hàng có ý định thay đổi có thể đáng kể hoặc không. Phương án
giải quyết những vấn đề này, theo quy định của pháp luật Việt Nam là:
Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50%
của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên
quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích
sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong
trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06
tháng liên tiếp. Trường hợp số người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan quy
định tại điểm này không đủ 1000 người thì lượng mẫu ngẫu nhiên được xác định tối thiểu
bằng 50% tổng số người tiêu dùng đó. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý cạnh
tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có thể xác định thêm nhóm người tiêu dùng sinh
sống tại khu vực địa lý liên quan không thể chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ khác có
đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý

Quy định tỷ lệ tăng giá trên 10% có điểm khác với Luật Cạnh tranh của Pháp và Mỹ.
Theo đó, mức tăng giá hợp lý có thể dao động từ 5% - 10% và thời gian tăng giá là một
năm. Vấn đề được nhìn nhận là có nên khống chế mức tăng tối đa và tối thiểu. Nếu không
khống chế mức tăng tối đa thì mức tăng có thể quá cao, kéo theo sự sụt giảm của nhu cầu
hoặc sự thay đổi quá lớn trong nhu cầu của ng ười tiêu dùng, điều này là bất hợp lý đối với
doanh nghiệp. Ngược lại, mức tăng quá thấp thì sự phản ứng yếu ớt từ người tiêu dùng
không đủ làm thay đổi nhu cầu thị trường, sẽ không có một kết luận khách quan.
Như những gì đã phân tích, cơ quan lập pháp nên nghiên cứu mức tăng giá dao động
ở mức tối đa và tối thiểu và cơ quan thực thi cạnh tranh sẽ cân nhắc mức hợp lý cho từng
vụ việc cụ thể. Nếu mức tối thiểu là 10% thì mức tối đa hợp lý là 15%.
1.2.2.2 Thị trường địa lý liên quan
Khoản 1 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 quy định: thị trường địa lý liên quan là một
khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với
các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.
Thị trường địa lý liên quan là khoảng không gian mà người tiêu dùng có thể lựa chọn
các địa điểm khác nhau để tiêu dùng các sản phẩm có thể thay thế cho nhau. Nếu có sự
tăng giá trong một thời gian đủ dài, người tiêu dùng có thể chuyển sang mua sản phẩm đó
ở một địa điểm khác. Khi đó, hai địa điểm này được xem là cùng nằm trong một khu vực
địa lý mà hai sản phẩm có thể thay thế cho nhau hay chúng cùng nằm trong một thị
trường địa lý liên quan.
Nghị định 116/2005/NĐ-CP giải thích chi tiết thị trường địa lý liên quan là:
 Một khu vực địa lý cụ thể trong đó có các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho
nhau. Khu vực địa lý là một khoảng không gian, trong đó có sự hiện diện của hàng hóa,
dịch vụ cùng thị trường liên quan. Có thể là một quận, một thành phố, hay trên phạm vi cả
nước…Trong ranh giới khu vực địa lý đó có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia
phân phối sản phẩm liên quan và khu vực địa lý lân cận đủ gần có cơ sở kinh doanh của
doanh nghiệp khác để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý
nói trên. Một số yếu tố ảnh hưởng đến ranh giới địa lý là chi phí vận chuyển, thời gian
vận chuyển, rào cản gia nhập thị trường, tính dễ hư hỏng của hàng hóa11.
11

hợp tập trung kinh tế bị cấm, trường hợp phải thông báo cho Cục quản lý cạnh tranh.
Thứ hai, xác định thị trường liên quan là cơ sở quan trọng để xác định hai doanh
nghiệp có phải là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không. Các doanh nghiệp chỉ có thể là
đối thủ cạnh tranh của nhau nếu những doanh nghiệp này cùng hoạt động trên cùng một
thị trường liên quan.
Thứ ba, xác định thị trường liên quan giúp cho việc xác định mức độ gây hạn chế
cạnh tranh do hành vi vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh gây ra 13.
1.2.3. Các hành vi hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh
1.2.3.1. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp cạnh
tranh nhằm ấn định giá hoặc sản lượng hoặc phân chia thị phần, khách hàng - thường
được biết đến dưới tên gọi cartel - hoặc các thỏa thuận theo đó các bên tham gia đấu thầu
ấn định giá bỏ thầu hoặc thỏa thuận trước doanh nghiệp sẽ thắng thầu – thường được biết
12

Điều 8 Nghị định 116/2005/NĐ- CP.
Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam, Giới thiệu chung về Luật Cạnh tranh, Dự án hỗ trợ thương mại đa
biên.
13

GVHD: Nguyễn Mai Hân

15

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
đến dưới dạng đấu thầu thông đồng. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cũng bao gồm cả

công nghệ.

GVHD: Nguyễn Mai Hân

16

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh
tranh tại Việt Nam
1.2.3.3. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là các hành vi thương mại
được thực hiện bởi các doanh nghiệp có khả năng khống chế thị trường có thể tác động
tiêu cực đến cạnh tranh như: phân biệt đối xử giá với khách hàng cũng như loại bỏ doanh
nghiệp đối thủ ra khỏi thị trường bằng các giao dịch độc quyền với khách hàng của mình,
ưu đãi đối tượng, bán kèm, bán giá cướp đoạt hoặc từ chối cho tiếp cận các sản phẩm thiết
yếu. Những hành vi này cũng bao gồm các hành vi lạm dụng được thực hiện bởi các
doanh nghiệp độc quyền nhà nước hoặc các doanh nghiệp được nhà nước trao cho một số
quyền đặc biệt.
Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh bị cấm theo
pháp luật cạnh tranh là:
 Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh;
 Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
 Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát
triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
 Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất
bình đẳng trong cạnh tranh;

được. Doanh nghiệp đủ điều kiện là những doanh nghiệp lớn hoặc là doanh nghiệp nhà
nước. Từ đó, các doanh nghiệp này có thể có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền bằng chính
tiềm lực sẵn có của mình. Có thể nhận thấy một vài ngành đặc thù như: chế tạo máy bay,
điện, đường sắt…
Các rào cản gia nhập thị trường. Có nhiều loại rào cản như: sự bảo hộ của nhà
nước (bao gồm các bảo hộ quyết định hành chính dành cho các doanh nghiệp nhà nước,
bảo hộ các đối tượng thuộc sở hữu trí tuệ...). Có thể thấy điểu này ở các Quyết định
90/TTg và 91/TTg thành lập các tổng công ty. Bằng một quyết định hành chính của Thủ
tướng chính phủ một số công ty sẽ nắm giữ vị trí thống lĩnh hoặc trở thành độc quyền mà
không đối thủ cạnh tranh nào có thể gia nhập thị trường. Các ngành có vị trí quyền lực
nhà nước là những ngành quan trọng thiết yếu như: điện, viễn thông, kinh doanh vận tải
đường sắt, vận tải biển, xăng dầu…Hoặc đối với những doanh nghiệp kinh doanh sản
phẩm được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tức là những doanh nghiệp khác không
được kinh doanh sản phẩm này khi chưa được phép của doanh nghiệp. Với sự bảo hộ của
nhà nước các doanh nghiệp này đương nhiên có được vị trí quyền lực mà không phải trải
qua quá trình cạnh tranh lâu dài hay phải đạt đến một mức tài chính nhất định. Sự trung
thành của các khách hàng, với rào cản này thì không phải là lý do khách quan từ phía
doanh nghiệp có vị trí quyền lực mà là do chính bản thân doanh nghiệp đã không thể
chinh phục khách hàng thay đổi thói quen sử dụng sản phẩm nên không thể gia nhập thị
trường. Các rào cản này đã cản trở các doanh nghiệp tiềm năng có thể gia nhập thị tr ường,
từ đó củng cố vị thế thống lĩnh, độc quyền cho các doanh nghiệp hiện tại.
Tích tụ tập trung kinh tế. Tập trung kinh tế diễn ra thông qua việc sát nhập, liên
doanh, hợp nhất hoặc mua lại. Khi đó, các doanh nghiệp từ việc nắm giữ thị phần nhỏ sẽ
tập trung với nhau để có thị phần đủ để chi phối thị trường.

GVHD: Nguyễn Mai Hân

18

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên

và độc quyền, 2 trường hợp tại Điều 14 cho trường hợp độc quyền. Một hành vi của
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền chỉ bị xem là lạm dụng khi nó mang
đầy đủ dấu hiệu của hành vi nào đó mà Luật Cạnh tranh quy định là lạm dụng.
 Hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc làm giảm cạnh tranh
trên thị trường liên quan.
Có thể thấy, doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng với mục đích duy trì, củng
cố vị trí hiện có hoặc tận hưởng các lợi ích có được từ việc bóc lột khách hàng. Luật Cạnh
tranh không tiếp cận hành vi ở góc độ mục đích mà là hậu quả của nó. Tuy nhiên, Luật lại
GVHD: Nguyễn Mai Hân

19

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Uyên


Trích đoạn Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng Thực trạng về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh và một số đề xuất hướng giải quyết.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status