BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
HÀ THỊ THANH BÌNH
KHÍA CẠNH PHÁP LÝ
CỦA VẤN ĐỀ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ
: 62.38.50.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ THỊ BÍCH THỌ
PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA
TP. HỒ CHÍ MINH - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông tin nêu trong
Luận án là trung thực và chính xác. Các kết quả nghiên cứu trình bày trong Luận án
chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tất cả các trích dẫn sử dụng
trong Luận án đều được chú thích đầy đủ và chính xác.
Tác giả Luận án
Hà Thị Thanh Bình
1.1.3.2 Dưới góc độ chính trị ...............................................................................24
1.2
Khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại.......................................29
1.2.1
Cơ sở lý luận của việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại trong hệ
thống pháp luật thương mại quốc tế của WTO.......................................................30
1.2.2 Khái quát về các biện pháp hạn chế thương mại theo quy định của WTO ...33
1.2.3 Cơ sở lý luận của việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại trong hệ
thống pháp luật quốc gia.........................................................................................37
1.2.4 Sự cần thiết của việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại ở Việt Nam
................................................................................................................................39
Kết luận Chương 1..................................................................................................44
CHƯƠNG 2 ..................................................................................................................46
CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI HÀNG
HÓA Ở VIỆT NAM .....................................................................................................46
2.1
Khái quát về cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào
Việt Nam .......................................................................................................................46
2.1.1
Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu..................................................................47
(ii)
hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ............................................................................97
Kết luận Chương 2................................................................................................100
CHƯƠNG 3 ................................................................................................................102
CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ Ở VIỆT NAM ......................................................................................................102
3.1
Đặc trưng của thương mại dịch vụ và của các biện pháp hạn chế thương
mại trong lĩnh vực này...............................................................................................102
3.1.1
Đặc trưng của thương mại dịch vụ ............................................................102
3.1.2
Đặc trưng của các biện pháp hạn chế thương mại trong lĩnh vực dịch vụ 104
3.2
Khái quát về tình hình mở của thị trường dịch vụ của Việt Nam với tư cách
là một thành viên WTO .............................................................................................106
3.3
Các quy định của WTO và việc sử dụng một số biện pháp hạn chế thương
mại trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam....................................................................114
3.3.1
3.3.5.1 Theo quy định của WTO/GATS ...................................................................142
3.3.5.2 Việc vận dụng ở Việt Nam............................................................................142
3.3.6
Các quy định của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước
đang phát triển..............................................................................................................143
3.4
Một số quy định khác của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng có tính
chất hạn chế việc cung ứng dịch vụ qua phương thức hiện diện thương mại ......144
3.4.1
Các quy định mang tính thủ tục để thiết lập hiện diện thương mại ..............145
3.4.2
Các quy định về kinh doanh có điều kiện đối với một số ngành, phân ngành
dịch vụ nhất định..........................................................................................................150
3.4.3
Các quy định nhằm mục đích hỗ trợ và hiện thực hóa quyền tiếp cận thị
trường của dịch vụ và nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài ............................................156
Kết luận Chương 3................................................................................................159
CHƯƠNG 4 ................................................................................................................161
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nghiên cứu và vận dụng triệt để các quy định của WTO về đối xử đặc biệt
và khác biệt dành cho các nước đang phát triển, tranh thủ cơ hội nâng cao khả năng
cạnh tranh của các ngành kinh tế trong nước. ..........................................................166
4.2.3
Nhận thức rõ ràng về vai trò và mục tiêu của việc sử dụng các biện pháp
hạn chế thương mại nhằm duy trì hợp lý việc bảo hộ theo nguyên tắc có chọn lọc 167
4.2.4
Chuyển hóa các cam kết gia nhập WTO vào pháp luật quốc gia ..............170
4.2.4.1 Cơ sở pháp lý của yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO........170
4.2.4.2 Yêu cầu của thực tiễn đối với việc chuyển hóa các cam kết gia nhập WTO
vào pháp luật quốc gia ..........................................................................................171
4.3
Những giải pháp cụ thể để sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại một
cách hữu hiệu ở Việt Nam .........................................................................................174
4.3.1
Trong lĩnh vực thương mại hàng hóa ........................................................174
4.3.1.1 Biện pháp thuế quan ..............................................................................175
4.3.1.2 Các biện pháp phi quan thuế..................................................................177
4.3.2
Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ ...........................................................186
ATC
:
Hiệp định về thương mại hàng dệt may
CPC
:
Hệ thống phân loại các sản phẩm chủ yếu
DNCVĐTNN
:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
DSU
:
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
EU
:
Liên minh Châu Âu
MFN
:
Tối huệ quốc
NT
:
Đối xử quốc gia
OECD
:
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PSI
:
Hiệp định về Kiểm định hàng hóa trước khi vận
chuyển/đưa xuống tàu
SA
:
Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ
WTO
:
Tổ chức Thương mại Thế giới
UNCTAC
:
Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển
-1-
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế góp phần làm cho thương mại quốc
tế ngày càng phát triển. Tự do hóa thương mại đang là một xu thế của thế giới với
mục tiêu tối đa hóa lợi thế so sánh của các quốc gia, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu
quả sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tự do hóa
thương mại là một vấn đề mang tính hai mặt. Trong quá trình hướng tới thương mại
tự do, nhiều thách thức và khó khăn đòi hỏi các quốc gia phải vượt qua. Đặc điểm cơ
bản của kinh tế thế giới hiện nay là sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia
và vì thế tự do hóa thương mại có thể đem lại lợi ích to lớn cho quốc gia này nhưng
đồng thời có thể gây thiệt hại cho nền kinh tế trong nước của quốc gia khác. Ngay cả
pháp pháp lý nhằm xây dựng và sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại theo
hướng vừa bảo hộ được các ngành sản xuất trong nước vừa không vi phạm các “luật
chơi” quốc tế. Từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn vấn đề “Khía cạnh pháp lý
của vấn đề hạn chế thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” làm đề tài
của Luận án tiến sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề hạn chế thương mại nói chung và đặc biệt là đối với thương mại hàng
hóa thực chất không phải là vấn đề mới trong thương mại quốc tế. Hạn chế thương
mại với ý nghĩa vừa là những biện pháp bảo hộ, vừa là những rào cản trong thương
mại quốc tế cũng đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, trong đó
tiêu biểu là các công trình dưới đây:
2.1 Ở nước ngoài
Trên thế giới đã có một số sách chuyên khảo nghiên cứu các vấn đề có liên
quan đến tự do hóa thương mại và các quy định pháp lý của WTO, trong đó ít nhiều
có đề cập đến các biện pháp hạn chế thương mại. Có thể liệt kê như: các sách
International Trade and Investment của Franklin R. Root (1973), The World
Trading System: Law and Policy of International Economic Relations của John H.
Jackson (1997), Global Political Economy: Theory and Practice của Theodore H.
Cohn (2000), International Trade Law: Theory and Practice của Raj Bhala (2001),
The Political Economy of the World Trading System của Bernard M. Hoekman và
Michel M. Kostecki (2001), Globalisation and Its Discontents của Joseph E. Stiglitz
(2002), Toàn cầu hóa và những hiện thực mới của Mahathir Mohamad (2004),
International business – the challenges of globalization của John J. Wild et al
(2005), the Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Case and
Materials của Peter Van den Bossche (2005), và Making Globalization Work của
-3-
Joseph E. Stiglitz (2006) …; các bài báo như “Services trade: past liberalization and
Law v.v.v… Liên quan nhiều hơn đến nội dung nghiên cứu của Luận án này có cuốn
“Rào cản trong thương mại quốc tế” của Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Thương
mại, do PGS. TS. Đinh Văn Thành chủ biên (2005). Tuy nhiên, cuốn sách này đề
-4-
cập đến các rào cản trong thương mại quốc tế nói chung và chỉ dừng lại ở việc mô tả
các rào cản đối với thương mại hàng hóa mà chưa đề cập đến các biện pháp hạn chế
thương mại, từ góc độ pháp lý, của riêng Việt Nam cũng như chưa nghiên cứu về
các hạn chế thương mại trong lĩnh vực dịch vụ. Ngoài ra, mặc dù trong công trình
nghiên cứu này, các tác giả cũng ít nhiều để cập đến việc xây dựng các biện pháp để
bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, nhưng mục đích chính của các tác giả của
công trình trên lại là phân tích các biện pháp để giúp các doanh nghiệp Việt Nam
vượt qua các rào cản của các nước khác đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Cuốn “Hàng rào phi thuế trong chính sách thương mại quốc tế” của TS Nguyễn
Hữu Khải (2005) cũng chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp phi thuế đối với
thương mại hàng hóa, trong đó chủ yếu là các khía cạnh kỹ thuật và kinh tế của các
rào cản phi thuế và một số kiến nghị để doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các rào
cản khi xuất khẩu hàng hóa.
Có thể nhận xét rằng phần lớn các công trình được đề cập ở trên tiếp cận vấn
đề ở khía cạnh đề cao tự do hóa thương mại, hoặc chủ yếu nhìn nhận vấn đề hạn chế
thương mại với ý nghĩa là các rào cản trong thương mại quốc tế cần phải xóa bỏ
hoặc tìm giải pháp để vượt qua. Mặc dù các công trình nghiên cứu đã được công bố
của các tác giả khác là nguồn tham khảo quý giá cho tác giả của Luận án này, chưa
có một luận án hay công trình nào phân tích khía cạnh pháp lý của các biện pháp hạn
chế thương mại với ý nghĩa là các biện pháp vừa phù hợp với luật chơi chung vừa
bảo hộ được các ngành sản xuất và các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, cũng cần
lưu ý rằng, các công trình nghiên cứu nêu trên được thực hiện trước khi Việt Nam
gia nhập WTO. Luận án này được thực hiện trong giai đoạn cuối cùng của quá trình
Phân tích các quy định của WTO tạo cơ sở cho việc duy trì các biện pháp hạn
chế thương mại đối với việc lưu thông hàng hóa (thương mại hàng hóa), cung
cấp dịch vụ xuyên biên giới (thương mại dịch vụ) cũng như thực tiễn áp dụng
những quy định đó thông qua một số phán quyết của cơ quan giải quyết tranh
chấp của tổ chức này; qua đó đánh giá khả năng mang lại hệ quả hạn chế
thương mại của các biện pháp này.
-
Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn sử
dụng những quy định đó liên quan đến việc áp dụng những biện pháp hạn chế
thương mại, đối chiếu với các quy định tương ứng của WTO và so sánh với
một số quy định liên quan trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
-
Đề xuất những giải pháp pháp lý để Việt Nam có thể tối đa hóa quyền lợi của
mình với tư cách là một thành viên WTO trong việc sử dụng các biện pháp
hạn chế thương mại được phép nhằm góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và
nhằm thực hiện những mục tiêu quốc gia khác. Bên cạnh đó, Luận án cũng sẽ
-6-
phân tích các biện pháp hạn chế thương mại đang được sử dụng ở Việt Nam
nhưng không còn phù hợp với quy định của WTO nhằm khuyến cáo bãi bỏ
hoặc hạn chế sử dụng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-7-
chống bán phá giá và biện pháp áp dụng thuế đối kháng nhằm chống lại hàng hóa
nhập khẩu được trợ cấp bởi chính phủ nước xuất khẩu, Luận án sẽ không nghiên
cứu các biện pháp này mà chỉ tập trung vào các biện pháp hạn chế thương mại
đối với hoạt động thương mại hợp pháp và công bằng.
Luận án cũng sẽ không nghiên cứu vấn đề hạn chế thương mại trong nước với tư
cách là một bộ phận của pháp luật quốc gia điều chỉnh hành vi cạnh tranh của
các doanh nghiệp trong nước và không nghiên cứu các quy định có tính chất hạn
chế thương mại nói chung áp dụng cho cả hàng hóa và dịch vụ trong nước. Luận
án chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ pháp lý việc áp dụng các biện pháp
mang tính phân biệt đối xử đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài nhập khẩu
vào Việt Nam và đề xuất những giải pháp để có thể sử dụng các biện pháp đó
một cách một cách hợp pháp và hữu hiệu.
-
Về không gian, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp hạn chế thương
mại theo các cam kết của Việt Nam trong WTO, không nghiên cứu các cam kết
song phương và khu vực mà Việt Nam là thành viên vì các quy định của WTO
liên quan đến vấn đề nghiên cứu của Luận án mang tính chuẩn mực, chi phối các
cam kết song phương và đa phương khác.
-
Về thời gian, Luận án phân tích các biện pháp hạn chế thương mại đang được
thừa nhận từ các quy định của pháp luật cũng như một số án lệ liên quan của
WTO (từ ngày 1/1/1995 - ngày WTO chính thức hoạt động), các cam kết của
Việt Nam khi gia nhập tổ chức này và pháp luật hiện hành của Việt Nam. Khi đề
xuất các giải pháp, luận án đưa ra các giải pháp để Việt Nam áp dụng cho giai
đoạn sau khi gia nhập WTO.
-
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về khía cạnh pháp
lý của vấn đề hạn chế thương mại đối với thương mại hàng hóa và thương mại
dịch vụ theo quy định của WTO tại Việt Nam. Điểm mới đáng lưu ý của Luận án
là đã chú trọng phân tích khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại trong
lĩnh vực thương mại dịch vụ, vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa
quan tâm hoặc mới chỉ đề cập ở mức độ khái quát.
-
Luận án đã nghiên cứu và đưa ra những luận cứ khoa học luận giải cho việc duy
trì và áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong thương mại quốc tế hiện
nay trên thế giới và ý nghĩa thiết thực của việc khai thác các biện pháp này ở
mức độ phù hợp đối với Việt Nam.
-
Luận án đã sử dụng các quy định của WTO về vấn đề hạn chế thương mại như
một chuẩn pháp lý để đánh giá sự phù hợp của pháp luật Việt Nam hiện hành về
vấn đề này, qua đó làm rõ những bất cập trong những quy định của pháp luật
Việt Nam.
-9-
-
Luận án cũng nghiên cứu pháp luật và thực tiễn liên quan đến việc sử dụng các
biện pháp hạn chế thương mại của một số nước nhằm so sánh với Việt Nam để
hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện các qui định của pháp luật có liên
quan cũng như là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập cho giáo viên và sinh
viên ở các cơ sở đào tạo luật. Ngoài ra, những nghiên cứu được trình bày trong
-10-
Luận án này là một kênh thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu đối phó
với các rào cản thương mại của các nước vì Luận án có đối chiếu với việc sử dụng
các biện pháp hạn chế thương mại của một số nước nhằm so sánh và học tập kinh
nghiệm của các nước này.
7 Kết cấu của luận án
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của Luận án được trình bày thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại trong
bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.
Chương 2: Cơ sở pháp luật quốc tế và vấn đề hạn chế thương mại hàng hóa ở Việt
Nam.
Chương 3: Cơ sở pháp luật quốc tế và vấn đề hạn chế thương mại dịch vụ ở Việt
Nam.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về các biện
pháp hạn chế thương mại sau khi gia nhập WTO.
-11-
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ
HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
HÓA KINH TẾ
tạo ra những thách thức và những rủi ro không nhỏ cho các quốc gia. Vì vậy, hầu
như không có quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù có nền kinh tế phát triển, đang phát
triển hay chậm phát triển lại không có những chính sách nhằm bảo hộ nền kinh tế
trong nước ở một mức độ nhất định, trong những giai đoạn lịch sử nhất định và đối
với một số ngành, lĩnh vực nhất định.
1.1.1 Tính chất hai mặt của tự do hóa thương mại
1.1.1.1 Lợi ích của tự do hóa thương mại
Thương mại tự do mang tính hai mặt, về cơ bản quá trình tự do hóa thương
mại đem lại những lợi ích sau đây:
Thứ nhất, tự do hóa thương mại hai chiều hỗ trợ cho các quốc gia phát huy
lợi thế so sánh, tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà mình
có lợi thế và mua từ bên ngoài các sản phẩm mà mình phải sản xuất với chi phí cao
hơn, kém hiệu quả hơn. Tự do hóa thương mại tạo áp lực để các quốc gia chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, từ đó, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa sản xuất, làm gia tăng
cạnh tranh, thúc đẩy sáng tạo và qua đó làm giảm giá thành sản phẩm [13, tr. 35].
Bằng cách này, tự do hóa thương mại mang lại cơ hội cho người tiêu dùng trong
nước được sử dụng nhiều chủng loại sản phẩm với giá cả thấp. Như vậy, xét dưới
góc độ kinh tế, tự do hóa thương mại nhìn chung đã giúp nâng cao chất lượng cuộc
sống.
Thứ hai, tự do hóa thương mại làm tăng cường quá trình chuyển giao công
nghệ và tri thức giữa các nước, đặc biệt là giữa những nước phát triển và các nước
đang phát triển, tạo điều kiện để các nước này phát triển nhanh hơn thông qua việc
khai thác có hiệu quả hơn các tài nguyên trong và ngoài nước.
Thứ ba, tự do hóa thương mại giúp các dòng vốn được điều tiết và đưa đến
những nơi đầu tư hiệu quả. Trong quá trình này, nhiều nước đang phát triển biết tận
dụng lợi thế so sánh của mình có thể thu hút được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài để phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế nội địa. Thực tiễn cho thấy sự
phát triển của các nước công nghiệp mới (New Industrialized Countries – NICs), các
con rồng châu Á, một số nước thuộc Hiệp hội các nước Đông Nam Châu Á
kém. Một nghiên cứu của WTO trong năm 2003 cho thấy tại Hoa Kỳ, khi nhập khẩu
thép gia tăng, 45.000 công nhân trong ngành thép đã bị thất nghiệp tính từ năm 1997
và 30% năng lực sản xuất thép của nước này đã bị giảm tính từ năm 1998; tại
-14-
Mozambique, tự do hóa thương mại đối với sản phẩm hạt điều đã làm cho từ 8.500
đến 10.000 công nhân chế biến hạt điều bị thất nghiệp [124, tr. 26].
Thứ hai, sự gia tăng cạnh tranh toàn cầu do kết quả của quá trình tự do hóa
thương mại làm cho các ngành sản xuất và dịch vụ có năng lực canh tranh thấp trong
đó có cả các ngành công nghiệp truyền thống ở các nước đang phát triển bị tác động
mạnh và có nguy cơ bị xóa bỏ. Trong khi xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của
quốc gia xuất khẩu thì việc nhập khẩu quá ồ ạt do thiếu các biện pháp hạn chế hợp lý
sẽ có nguy cơ bóp chết sản xuất trong nước của nước nhập khẩu, đặc biệt đối với
những ngành sản xuất non trẻ và cuối cùng dẫn đến sự phụ thuộc vào sản phẩm nhập
khẩu. Chuyển giao công nghệ nếu thực hiện không có chọn lọc sẽ dẫn đến tình trạng
quốc gia tiếp nhận công nghệ sẽ trở thành nơi tiêu thụ công nghệ cũ và lạc hậu của
các nước khác. Việc cho phép đầu tư nước ngoài một cách tự do và thiếu định
hướng về lĩnh vực và địa bàn có thể dẫn đến mất cân đối nền kinh tế. Điều này ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển của những quốc gia đang và kém phát triển.
Thứ ba, tự do hóa thương mại làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nước, đặc biệt là sự phụ thuộc của những nước nghèo, những nước đang phát triển
vào những nước giàu, những nước phát triển. Sự phụ thuộc này dẫn đến tình trạng
giảm bớt hoặc hạn chế khả năng hành động độc lập, tự chủ trong chính sách kinh tế
của những quốc gia bị phụ thuộc. Nền kinh tế và đến một mức độ nào đó là cả chế
độ chính trị của các quốc gia bị phụ thuộc sẽ có thể phải chịu ảnh hưởng của những
quyết định và sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát và định đoạt của quốc gia đó. Sự phụ
thuộc càng lớn càng làm cho các nước đang phát triển dễ dàng bị ảnh hưởng bởi sự
bất ổn kinh tế của các nước khác [42, tr. 16]. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện
quốc gia của mình họ chú ý giải quyết chúng. Như vậy, chính sách kinh tế của mỗi
quốc gia phải được xây dựng trên cơ sở chấp nhận và ủng hộ xu thế tự do hóa
thương mại, bên cạnh đó chính sách này phải được thiết kế theo cách thức vẫn duy
trì được tính tự chủ và khả năng hành động độc lập để quản lý nền kinh tế trong
nước. Tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế đặt các nước, đặc biệt là các nước
đang phát triển và các nước đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh
tế thị trường (như Việt Nam) trước áp lực cạnh tranh quốc tế. Thách thức đặt ra cho
các quốc gia này yêu cầu phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ chế quản lý nền
kinh tế. Việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế như vậy là những cải cách rất lớn và đòi hỏi
phải có thời gian và cần nhiều biện pháp để thực hiện. Trong quá trình đó, việc vận
dụng được các biện pháp hạn chế thương mại được phép theo các cam kết quốc tế là
cách hành xử khôn ngoan và có hiệu quả để có thể tranh thủ thời gian, phát huy nội
Nguyên bản tiếng Anh: “Globalization is never entirely beneficial nor entirely harmful. It is not an
unstoppable force of nature, but is shaped by those who set the rules”. Xem [129, tr.15]
1
-16-
lực, đối phó với cạnh tranh từ bên ngoài, hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế
giới. Đối với các nước đang và chậm phát triển, tự do hóa từng bước và thực hiện có
lộ trình làm giảm bớt tác động bất lợi của sự điều chỉnh nền kinh tế, hạn chế những
tiêu cực nhất thời của tự do hóa thương mại như nạn thất nghiệp hay sự suy giảm
quá đột ngột của một số ngành kinh tế không có lợi thế cạnh tranh v.v. Tính hai mặt
của tự do hóa thương mại đã tạo cơ sở lý luận cho việc sử dụng các biện pháp có
tính chất hạn chế thương mại trong thương mại quốc tế.
1.1.2 Hạn chế thương mại
1.1.2.1 Khái niệm hạn chế thương mại
Các lý thuyết của thương mại quốc tế chứng minh rằng thương mại tự do sẽ
Khó có thể tìm thấy một định nghĩa bao quát cho thuật ngữ “hạn chế thương
mại (trade restriction)” trong thương mại quốc tế do xuất phát từ các mục tiêu khác
nhau mà cách giải thích về hạn chế thương mại cũng khác nhau. Theo Cơ quan
thông tin Hoa Kỳ (United State Information Agency - USIA), hạn chế thương mại là
“sự phân biệt đối xử thương mại được áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu của một số
quốc gia nhất định nhưng lại không áp dụng cho hàng hóa tương tự của các quốc gia
khác”2. Theo từ điển Wikipedia, “hạn chế thương mại được coi là một sự hạn chế
nhân tạo áp đặt cho việc trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia. Đó là kết quả của
chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước”3.
Các quan điểm nói trên đều coi hạn chế thương mại là các biện pháp chỉ áp
dụng đối với thương mại hàng hóa, và về bản chất các biện pháp đó là có tính chất
phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu, có thể là sự phân biệt đối xử đối với
hàng hóa tương tự của quốc gia khác (theo định nghĩa của USIA), hay là sự phân
biệt đối xử giữa hàng hóa nhập khẩu so với hàng hóa trong nước (như định nghĩa
của Wikipedia).
Hạn chế thương mại với tư cách là đối tượng nghiên cứu của Luận án này có
nghĩa rộng hơn, đó là những quy định pháp luật của một quốc gia có tính chất
phân biệt đối xử và/hoặc việc thực thi các qui định đó mang lại hậu quả phân biệt
đối xử đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài so với hàng hóa và dịch vụ trong
nước nhằm mục đích hạn chế sự tham gia thị trường trong nước của hàng hóa,
dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Nguyên bản tiếng Anh “Commercial discrimination that applies to the exports of certain countries but not to
similar goods from other countries”. [152]
3 Nguyên bản tiếng Anh “A trade restriction is an artificial restriction on the trade of goods between two
countries. It is the result of protectionism.” [150].
2
-18-
đều tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế ủng hộ và thúc đẩy quá trình tự do hóa