PHẦN MỞ BÀI
Trong xu thế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, năm 2004
Luật Cạnh tranh của Việt Nam được ban hành. Tuy nhiên, cho đến nay pháp luật cạnh
tranh của Việt Nam chưa thể hiện rõ và đầy đủ vai trò, nhiệm vụ là công cụ pháp lý quan
trọng của Nhà nước để điều tiết kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường. Số lượng vụ
việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được điều tra và xử lý ít hơn so với thực tiễn hạn chế
cạnh tranh đang diễn ra ngày càng nhiều và đang có chiều hướng diễn biến ngày càng
phức tạp. Vì vậy, tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về Điều chỉnh pháp luật đối với các
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết. Sau đay là bài viết
của em về đề tài: “Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam”.
1
PHẦN NỘI DUNG
I. Khái quát về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
1. Khái niệm.
Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) được nhìn nhận
là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép
của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh
tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa Cartel là một thỏa thuận chính
thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hàng có liên quan, nhưng
có thể có hại cho các bên khác.
Luật cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm mà sử dụng phương pháp liệt kê
các thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế hạn chế cạnh tranh, bao gồm: thỏa thuận ấn
định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị
trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc
kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế
phát triển kĩ thuật, công nghệ, hạn hế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho các doanh nghiệp
khác điều kiện kí kết hợp đòng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác
chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; thỏa thuận
tên riêng, có tài sả, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Còn trong pháp luật
canh tranh, doanh nghiệp bao gồm cả tổ chức và cá nhân kinh doanh.
Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt động một cách đọc lập, không phụ
thuộc nhau về mặt tài chính. Ý chí của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cũng phải là
ý chí độc lập của mỗi bên, không thể bị ép buộc.TTHCCT có thể diễn ra giữa các doanh
nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau trên một thị trường liên quan hoặc giữa các bên
không phải đối thủ của nhau.
Luật Cạnh tranh nước ta không quy định Hiệp hội là chủ thể của các TTHCCT, đây
là điểm khác biệt so với luật cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới, việc quy định này
mang lại nhiều bất bất cập trong giải quyết một vụ TTHCCT.
Thứ hai, TTHCCT chỉ được hình thành khi có sự thống nhất ý chí của các bên
tham gia thỏa thuận, việc thống nhất ý chí này có thể công khai hoặc ngầm định.
Đây là dấu hiệu quan trọng nhất của TTHCCT, các hành vi giống nhau của cac
doanh nghiệp chưa đủ để chứng minh là đã có thỏa thuận giữa họ, mà phải có sự thống
nhất ý chí cùng hành động của các bên tham gia thỏa thuận.
Ở dấu hiệu này, chúng ta cần phân biệt sự thống nhất ý của các doanh nghiệp với
sự thống nhất về mục đíchcủa doanh nghiệp khi tham gia TTHCCT. Khi thống nhất thực
hiện hành vi TTHCCT, các doanh nghiệp có thể cùng hoặc không cùng một mục đích
3
theo đuổi, ví dụ khi cùng tham gia vào một thỏa thuận doanh nghiệp A cso mục đích mở
rộng thị trường, nhưng doanh nghiệp B lại muốn loại bỏ doanh nghiệp C là đối thủ canh
tranh.
Thứ ba, hậu quả của TTHCCT là làm giảm sức ép cạnh tranh, làm sai lệch hoặc
cản trở cạnh tranh trên thị trường. Các doanh nghiệp khi tham gia thỏa thuận sẽ hình
thành mộ nhóm doanh nghiệp có sức mạnh chi phối thì trường rất lớn, gây hại cho khách
hàng và các doanh nghiệp khác không tham gia thỏa thuận.
II.Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam.
được xử lí, đó là vụ q9 công ty bảo hiểm kí văn bản thỏa thuận tăng mức phí tối thiểu đối
với sịch vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô vào cuối năm 20081.
Sáng ngày 29/7/2010, Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương đã quyết định xử
phạt ở mức 0,025% tổng doanh thu của năm 2007 đối với hành vi bắt tay nâng phí bảo
hiểm xe cơ giới của 19 công ty bảo hiểm.
Trước đó, ngày 15/9/2008, tại hội nghị CEO các nhà bảo hiểm phi nhân thọ lần thứ
6, 15 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã ký thỏa thuận kinh doanh trong lĩnh vực
bảo hiểm xe cơ giới, đến ngày 1/10/2008 đã có 4 doanh nghiệp nữa tiếp tục đăng ký tham
gia, nâng tổng số lên 19 thành viên.
Cơ quan quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương đã ra quyết định điều tra và đi đến
kết luận thông tin nâng mức phí bảo hiểm của khách hàng là hoàn toàn có thật và tại thời
điểm ký kết thỏa thuận các công ty này đã vi phạm luật hạn chế cạnh tranh. Trong số 25
doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực bảo hiểm xe cơ giới thời điểm đó thì thị phần của 19
công ty trên là 99,79%.Vì thế việc 'bắt tay' là vi phạm luật hạn chế cạnh tranh.
Cụ thể, tại thời điểm 19 doanh nghiệp thực hiện ký kết thì thị phần của các công ty
này đã làm triệt tiêu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khác và vi phạm các quy
định về hạn chế cạnh tranh.
Do vậy, mức phạt mà Hội đồng xử lý cạnh tranh đưa ra cũng thống nhất với phán
quyết trước đó của cơ quan Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương với mức xử phạt là
0,025% tổng doanh thu của năm 2007 (thời điểm trước khi vi phạm) đối với 19 công ty
này đồng thời các công ty còn phải nộp thêm 100 triệu tiền phí giải quyết tranh chấp
trong suốt thời gian xử lý2.
Qua vụ việc này ta thấy, tại thời điểm cạnh tranh rất khốc liệt, việc làm của các
doanh nghiệp bảo hiểm đã gây bất bình cho khách hàng, các doanh nghiệp không chỉ
phạm luật trong việc bắt tay nhau nâng phí mà còn chưa đáp ứng được yêu cầu về dịch vụ
cũng nhưng thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm cho khách khi xảy ra sự cố.
1
Xem: Quyết định của Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh số 14/QĐ-HĐXL ngày 29/07/2010 về xử lí vụ việc cạnh tranh số
hỏi: Vì sao giá sữa bột ngoại nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay cao hơn mức trung bình
trên thế giới gần gấp đôi?
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho 5 lĩnh vực trên chính là liệu có các thỏa thuận ngầm giữa
các nhà xuất khẩu và các nhà nhập khẩu/phân phối tại Việt Nam không? Vì sao chúng ta
không thể kiểm soát nổi việc tăng giá bất hợp lý trong lĩnh vực sữa, thép, xi măng...?
Hay trong hoạt động ngân hàng, thỏa thuận ấn định lãi suất trần của các tổ chức tín
dụng trong hiệp hội Ngân hàng cũng được cục Quản lý cạnh tranh xác định là một hình
thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Trong kinh doanh xăng dầu cũng xảy ra tình trạng
3
http://vef.vn/2010-10-14-cac-thoa-thuan-ngam-thach-thuc-quan-ly-canh-tranh
6
các doanh nghiệp đồng loạt tăng giá liên tục mà theo cơ quan này thì đó là dấu hiệu thỏa
thuận ấn định giá4...
Tiếp theo là các thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản
xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ.
Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hoặc
cung ứng có gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, làm cho thị
trường không được thỏa mãn đủ nhu cầu theo đúng năng lực kinh doanh hiện có;sự khan
hiếm hàng hóa, dịch vụ do việc thực hiện thỏa thuận gây ra có thể sẽ đẩy giá hàng hoá,
dịch vụ lên cao làm cho người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu những thiệt hại từ mức giá đó;
sự khan hiếm cũng có thể gây ra những xáo trộn nhất định trong đời sống kinh tế - xã hội,
dễ tạo ra những cuộc khủng hoảng hoặc những cơn sốt trên thị trường.Có thể lấy ví dụ về
hậu quả của cơn sốt xi măng trong những năm 1995 - 1997 đã gây ra cho thị trường làm
điển hình cho khả năng gây thiệt hại của nhóm thỏa thuận này5.
Một loại TTHCCT gây hậu quả rất nghiêm trọng nữa là Thông đồng để một hoặc
các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ững dịch vụ.
và có vị trí chưa xứng tầm) sẽ khó có thể vượt qua được. Có lẽ, với bối cảnh hiện tại, trừ
phi các cơ quan thi hành luật cạnh tranh có được sự bảo đảm quyền lực theo kiểu của
thượng phương bảo kiếm thì mới có thể đảm bảo thái độ cương quyết mà luật đã công bố
đối với hành vi thông đồng trong đấu thầu.
Còn một số dạng TTHCCT nữa được quy định trong Điều 8 Luật Canh tranh,
nhưng e chỉ xin đi sâu vào phân tích một số loại TTHCCT như trên, do chúng rất tiêu
biểu và là vấn đề nổi cộm trong thực trạng về TTHCCT hiện nay ở Việt Nam.
2. Việc áp dụng Luật cạnh tranh trong việc kiểm soát các TTHCCT đối với
các hiệp hội nghành nghề.
Về nguyên tắc hiệp hội ngành nghề hoạt động ở nước ta vần thuộc sự điều chỉnh
của luật cạnh tranh. Tuy nhiên, cũng theo Luật cạnh tranh Việt Nam, vấn đề xử phạt các
hiệp hội nghành nghề tham gia vào các TTHCCT chưa được quy định rõ ràng, Điều 8 và
Điều 9 Luật cạnh tranh đều không đề cập các hiệp hội, như vậy khi hiệp hội vi phạm
pháp luật về TTHCCT sẽ xử lĩ như thế nào? Căn cứ pháp lí ở đâu? Đây thật sự là một lỗ
hổng của pháp luật.
Trong vụ việc ấn định giá của 19 doanh nghiệp bảo hiểm năm 2008, Hiệp hội bảo
hiểm Việt Nam đõng vai trò rất tích cực (đứng ra tổ chức hội nghị, gửi văn bản thỏa
thuận hợp tác về biểu phí mới cho các thành viên chưa tham gia bản thỏa thuận). Sau đó
vụ việc bị phát hiện và xử lí, nhưng chỉ có các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận ấn định
giá bị phạt tiền còn Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam không phải chịu biện pháp chế tài nào.
Lợi dụng lý do này, hầu hết những hiệp hội đã sử dụng vị thế của mình để “vận
động hành lang”6để bảo vệ lợi ích cho riêng nhóm mình mà không cần quan tâm đến lợi
ích tổng thể toàn xã hội. Những mục tiêu thông thường mà các hội, hiệp hội gây sức ép
là:
- Hạn chế nhập khẩu hoặc cấm nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ mà hiệp hội cung ứng,
6
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/08/31/3715/
cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước kia. Hành vi này được đánh giá tích cực như làmột
sự hợp tác, bảo vệ quyền lợi cho một nhóm doanh nghiệp nào đó,
- Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi xuất hiện tương đối nhiều ở Việt nam
và không bị pháp luật điều chỉnh (cho đến khi Luật Cạnh tranh được ban hành). Như vậy,
7
Xem: Khoản 1 Điều 9 Luật cạnh tranh năm 2004
9
hành vi này có thể được coi là hoàn toàn hợp pháp, vì thế hình thức cartel chủ yếu ở Việt
nam là hình thức hiệp hội ngành nghề,
- Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh đôi khi cũng bị điều chỉnh bởi một quy định
pháp luật khác (ví dụ: quy định pháp luật liên quan đến quản lý giá, quản lý hiệp hội),
- Khác với hầu hết các quốc gia, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh nhiều khi còn
được sự bảo trợ của cơ quan nhà nước, trong khi đó người tiêu dùng (phía đối trọng của
cartel) lại không có một tổ chức đủ mạnh để chống lại sự lạm dụng vị thế của những hiệp
hội ngành nghề này,
- Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt nam xuất hiện theo cả 2 hình thức: thoả
thuận theo chiều ngang và thoả thuận theo chiều dọc,
- Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt nam không chỉ gây thiệt hại cho người
tiêu dùng mà còn gây thiệt hại, lãng phí cho nguồn lực của Nhà nước, đặc biệt trong đấu
thầu xây dựng cơ bản, trong mua sắm trang thiết bị công,
- Cuối cùng, tác động những hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh đang dần được nhìn
nhận và đánh giá một cách xác đáng ở Việt nam.
Quy định tại Điều 8 Luật cạnh tranh là một quy định cững nhắc, chưa linh hoạt
trong việc giới hạn các loại TTHCCT, tức là điều luật không mang tính mở, theo đó chỉ
những hành vi được liệt kê trong Điều 8 mới bị coi là TTHCCT và bị pháp luật điều
chỉnh.
dùng trong xã hội. Xét về tổng thể, thiệt hại do loại thỏa thuận này gây ra nhỏ hơn nhiều
so với thỏa thuận theo chiều ngang.
Luật cạnh tranh cần phải định lượng cho 2 loại thỏa thuận này tỉ lệ phần trăm khác
nhau đối với thị phần kết hợp trên thị trường liên quan làm căn cứ cho việc kiểm soát.
Yêu cầu kiểm soát và can thiệp vào các thỏa thuận theo chiều ngang cần phải cao hơn và
nghiêm khắc hơn.
Thứ hai, Cần quy định bổ sung căn cứ để xác định TTHCCT thuộc diện bị cảm,
không nên coi thị phần là căn cứ duy nhất để kết luận 1 TTHCCT là hợp pháp hay bất
hợp pháp, bởi lẽ có những doanh nghiệp tham gia TTHCCT có thị phần kết hợp chưa đến
30% nhưng mức độ gây hạn chế cạnh tranh rất lớn nhưng vẫn không bị cấm. Theo Điều
3, khoản 5 Luật cạnh tranh: “Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch
vụ nhất định là tỉ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng
doanh thu của tất cả doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường
liên quan hoặc tỉ lệ % giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số
mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị
trường liên quan theo tháng, quý, năm”.
8
Xem: Điều 18 Nghị định 116/2005/ND-CP
11
Thông thường, 1 doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau nên cùng
mọt lúc doanh nghiệp đó tham gia nhiều thị trường liên quan khác nhau và trong tố tụng
cạnh tranh, 1 vụ việc chỉ được xem xét trong một thị trường liên quan.
Ngoài việc xem xét yếu tố thị phần, chúng ta cũng cần cân nhắc thêm các yếu tố khác
như pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới như: tiêu chí giá cả hàng hóa, dịch vụ để
xác định các dạng TTHCCT ( thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường…);
tiêu chí sản lượng, khối lượng mua, bán hàng hóa, dịch vụ để đánh giá mức độ hạn chế
Thứ năm, phải nâng cao vị trí pháp lí của cơ quan quản lí, kiểm soát cạnh tranh,
cần phải trao cho cơ quan này một quyền lực phù hợp tạo đối trọng với quyền lực kinh tế
trên thị trường của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.
3. Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật, kiểm soát hành vi TTHCCt.
Thứ nhất, cần đảm bảo nguyên tắc độc lập trong hoạt động của cơ quan cạnh
tranh, không thể bị chi phổi, ảnh hưởng bởi các cơ quan khác. Ở nước ta, Cục quản lí
cạnh tranh trực thuộc Bộ Công thương, ở vị trí này cơ quan quản lí cạnh tranh chưa thực
sự phát huy được tối đa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Cơ quan này nên tách
ra khỏi Bộ công thương và trực tiếp chịu sự quản lí của Chính phủ.
Thứ hai, cần có cơ chế đảm bảo tính khoa học và khách quan cho các quyết định
xử lí vụ việc cạnh tranh. Quyết định phải hoàn toàn mang tính độc lập, không chịu bất kì
sự can thiệp của cơ quan, tổ chức nào.
Thứ ba, khuyến khích thành lập các hiệp hội người tiêu dùng để cung cấp thông tin
phục vụ người tiêu dùng, phát hiện kịp thời các hành vi phản cạnh tranh nói chung trên
thị trường. Bởi suy cho cùng, những hành vi này đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích
hợp pháp của người tiêu dùng.
Thứ tư, Luật cạnh tranh nên có các chính sách khoan hồng để khuyến khích các
chủ thể tham gia TTHCCT tự nguyện khai báo như miến nộp tiền phạt, giảm nhẹ mức
phat.., Bởi vì các chủ thể tham gia thỏa thuận thường không công khai nên việc phát hiện
xử lí là rất khó, nên cần có chính sách khoan hồng trong xử lí một vụ việc TTHCCT.
PHẦN KẾT LUẬN
Như ta thấy TTHCCT diễn ra rất phức tạp trên thị trường, do đó cần phải có sự
nghiên cứu kĩ lưỡng để xem xét đánh giá một vụ việc hạn chế cạnh tranh. Đòi hỏi sự vào
cuộc của mọi cơ quan chức năng và người tiêu dùng trong việc phát hiện và xử lí kịp thời
các hành vi này, đảm bảo cho pháp luật cạnh tranh được thực thi một cách nghiêm chỉnh,
loại bỏ đễn mức có thể các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tác động xấu đến quy luật kinh
tế thị trường.
13