ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CÙ HỒNG ANH SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA
LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
1.1.2 Hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 15
1.2 Bản chất pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến
quyền SHTT 17
1.2.1 Khái niệm điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền
SHTT 17
1.2.2 Các đặc điểm pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan
đến quyền SHTT 18
1.2.3 Nội dung cơ bản của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến
quyền SHTT 20
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật quốc tế về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp
đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 24
1.3.1 Quy định, quan điểm của WTO 24
1.3.2 Quan điểm của WIPO 26
1.3.3 Quy định, quan điểm của Nhật Bản 28
1.3.4 Quy định, quan điểm của Hoa Kỳ 30
CHƢƠNG 2: ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP
ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA LIÊN
MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM TỪ CÁCH TIẾP CẬN LUẬT
SO SÁNH 32 2
2.1 Một số vấn đề chung về pháp luật cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ của
Liên minh Châu Âu và Việt Nam 32
2.1.1 Một số vấn đề chung về pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu. 32
2.1.2 Giới thiệu khái quát các quy định của Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi
hành về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 36
2.2 So sánh về phạm vi, đối tượng điều chỉnh 37
2.2.1 Phạm vi, đối tượng điều chỉnh theo pháp luật EU: 37
2.2.2 Theo pháp luật Việt Nam 38
3.2.2 Kiến nghị, đề xuất 64
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT EU
Liên minh Châu Âu;
HCCT
Hạn chế cạnh tranh;
Hiệp định EC
Hiệp định thành lập Cộng đồng chung châu Âu
Hiệp định TRIPs
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ;
Luật Cạnh tranh
Luật số 27/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 về
cạnh tranh của Việt Nam;
Nghị định 772/2004
Nghị định của Ủy ban châu Âu số 772/2004 hướng dẫn
việc áp dụng Điều 81(3) của Hiệp định với các loại hợp
đồng chuyển giao công nghệ;
SHTT
Sở hữu trí tuệ;
Sở hữu trí tuệ được đánh giá là một công cụ quan trọng để thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay, đồng thời là biện pháp của
Nhà nước để khuyến khích và bảo đảm giá trị của các tài sản trí tuệ.
Mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ thực sự chưa
được đề cập và nghiên cứu nhiều ở Việt Nam nhưng đã được bàn luận sôi nổi
ở nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới. Nhìn từ bên ngoài, mối quan hệ giữa
hai luật này mang tính chất trái ngược, mâu thuẫn nhau. Nếu như Luật Cạnh
tranh có chức năng kiểm soát các hành vi mang tính chất hạn chế, ảnh hưởng 6
bất lợi đến môi trường kinh doanh thì Luật Sở hữu trí tuệ lại có chức năng bảo
vệ các quyền, lợi ích mang tính độc quyền của người sở hữu các tài sản trí
tuệ. Theo nhiều nghiên cứu về vấn đề này, thực chất, mối quan hệ giữa hai
luật này là sự bổ sung cho nhau bởi cả hai đều có một mục đích là khuyến
khích sự sáng tạo công nghệ và sản phẩm, phục vụ lợi ích của người tiêu
dùng.
Để góp phần tìm hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và
Luật Sở hữu trí tuệ cũng như sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với
các hoạt động thương mại có liên quan đến quyền SHTT thì việc nghiên cứu,
tìm hiểu về vấn đề này là rất cần thiết và có ý nghĩa về mặt lý luận và thực
tiễn, đặc biệt là trong điều kiện chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam về vấn
đề này. Trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sĩ luật học, luận
văn không có tham vọng đi sâu tìm hiểu tất cả các nội dung của pháp luật về
các thỏa thuận HCCT trong các hoạt động thương mại liên quan đến quyền
SHTT mà chỉ tập trung nghiên cứu theo hướng “So sánh pháp luật về điều
khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu
trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam” với mong muốn tìm hiểu, học
tập các kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu và góp phần hoàn thiện pháp
luật về các thỏa thuận HCCT trong các hoạt động thương mại có liên quan
Nhằm mục đích tập trung nghiên cứu theo hướng gần nhất với thực tế
của pháp luật hiện tại, Luận văn hướng tới đi sâu nghiên cứu các đối tượng
sau:
- Hệ thống các quan điểm, quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về thỏa thuận HCCT, các quy định của pháp luật điều chỉnh các thỏa thuận
HCCT trong các hợp đồng có các đối tượng của quyền SHTT;
- Các quan điểm, quy định của Liên minh Châu Âu điều chỉnh hành vi
cạnh tranh trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT, đặc biệt là các 8
quy định về miễn trừ áp dụng các quy định về thỏa thuận HCCT của Liên
minh Châu Âu;
(ii) Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những quy
định của pháp luật về hành vi HCCT, mà cụ thể là thỏa thuận HCCT trong
các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng của quyền SHTT mà
phổ biến nhất là hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng của quyền
SHTT hay còn được biết đến với tên gọi hợp đồng li-xăng mà không đề cập
đến nội dung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí
độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh cũng như cơ quan quản lý cạnh
tranh và thủ tục điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT;
đánh giá so sánh pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam để
từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền
SHTT ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn được hoàn thành sẽ có những đóng góp về mặt khoa học chủ
yếu sau đây:
- Góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cạnh
tranh và sở hữu trí tuệ; 10
- Cung cấp các thông tin có giá trị tham khảo bổ ích về một số quy định
của các tổ chức quốc tế và các quốc gia trong việc xử lý các thỏa thuận HCCT
trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT.
- Góp phần xác lập những luận cứ khoa học của việc đưa ra các giải pháp
hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các điều khoản HCCT trong hợp đồng có liên
quan đến quyền SHTT tại nước ta;
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời nói đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận; luận
văn được kết cấu thành 3 Chương; cụ thể:
- Chương 1 : Một số vấn đề lý luận chung về điều khoản hạn chế cạnh
tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ;
- Chương 2: Điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam từ cách tiếp
cận Luật so sánh.
- Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp
luật Việt Nam về điều khoản thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng
có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ từ kết quả nghiên cứu so sánh.
11
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KHOẢN
phẩm, quyền tiếp cận và các quyền khác)
Pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật SHTT về Quyền
sở hữu trí tuệ như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân
đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”
Như vậy, mặc dù không hoàn toàn đồng nhất song các quốc gia và các
tổ chức trên thế giới đều có quan niệm chung rằng, quyền SHTT (cũng giống
như các quyền đối với tài sản khác) là các quyền dành cho người (bao gồm cả
tổ chức, cá nhân) đối với các tác phẩm, sự sáng tạo hay sự cá biệt hóa, đặc
biệt là quyền độc quyền sử dụng, và thường là trong một thời gian nhất định.
Theo quy định của luật Việt Nam, quyền SHTT là một loại quyền tài
sản, điều đó có nghĩa là quyền SHTT cũng là một loại tài sản, có thể định giá
được và có thể tham gia vào các giao dịch dân sự. Tương tự với các loại tài
sản khác, pháp luật dành cho chủ thể của quyền SHTT quyền sở hữu tối cao
và quyền ngăn cấm người khác sử dụng quyền SHTT của mình. Đây cũng là
chế độ pháp lý dành cho quyền SHTT mà đa số các nước áp dụng. Chế độ
pháp lý này được xây dựng dựa trên nền tảng kinh tế hay bản chất kinh tế của
quyền SHTT. Đó là quyền SHTT có tính công cộng cao. Tính công cộng cao
của quyền SHTT được thể hiện ở chỗ, quyền SHTT sau khi được công bố có
thể được sử dụng với chi phí rất thấp và dễ dàng, ví dụ như việc sao chép một
kiểu dáng công nghiệp, một phần mềm máy tính Vì lý do đó, chỉ có việc bảo
vệ và trao quyền độc quyền sử dụng cho chủ thể của quyền SHTT mới có thể
thúc đẩy được sự phát triển của sáng tạo và khoa học – công nghệ. 13
Về mặt phân loại, quyền SHTT thường được phân chia thành quyền tác
giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng.
Như đã đề cập, quyền SHTT thường bao gồm 3 loại đối tượng lớn, đó
Trong quá trình hình thành WTO, Hiệp định TRIPs đã ra đời thể hiện
sự phát triển của các đối tượng của quyền SHTT dưới góc độ thương mại hóa
trong nền kinh tế toàn cầu. Theo ghi nhận của Hiệp định TRIPs, quyền SHTT
gồm có: quyền tác giả và quyền liên quan, cũng tại đây, các chương trình máy
tính và sưu tập dự liệu được liệt kê vào danh sách những đối tượng thuộc
quyền tác giả. Nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp,
bằng sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh doanh. Bên cạnh đó,
Hiệp định TRIPs cũng quy định về các phương pháp và biện pháp để thực thi
và bảo hộ quyền SHTT.
Trên cơ sở các công ước, hiệp ước quốc tế này, các quốc gia đã nội luật
hóa các quy định về đối tượng của quyền SHTT tại nước mình. Điều 3, Luật
SHTT của Việt Nam quy định các đối tượng của quyền SHTT bao gồm:
1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang
chương trình được mã hoá.
2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn
hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và
vật liệu thu hoạch.
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo hộ đầy đủ các đối
tượng của quyền SHTT như đa số các nước trên thế giới. Đây là cơ sở quan 15
trọng để bảo hộ quyền của các chủ thể đối với sản phẩm trí tuệ của mình, từ
đó góp phần khuyến khích phát triển sáng tạo và khoa học - công nghệ
1.1.2 Hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các đối tượng của quyền SHTT
Nhìn ra thế giới, hiện nay có thể thấy có một số hình thức hợp đồng có
liên quan đến quyền SHTT mà chưa có hoặc ít xuất hiện ở Việt Nam như:
Hợp đồng nhóm về quyền SHTT (cross licensing hay patent pool) theo đó hai
hoặc nhiều bên cùng nhau thỏa thuận sẽ hợp tác với nhau trong việc phát
triển, sử dụng các đối tượng của quyền SHTT do một trong các bên đó tạo ra.
Bên cạnh đó, thực tiễn phong phú trên thế giới còn ghi nhận hợp đồng nghiên
cứu và phát triển (research and development agreement). Nghiên cứu và phát
triển là việc nắm bắt các bí quyết kỹ thuật liên quan đến sản phẩm hoặc quy
trình và việc thực hiện các phân tích lý thuyết, nghiên cứu hệ thống hay kinh
nghiệm, bao gồm kinh nghiệm sản xuất, thử nghiệm kỹ thuật sản phẩm hoặc
quy trình, việc hình thành các cơ sở kỹ thuật cần thiết và kết quả là đạt được
các quyền SHTT. Theo quy đinh của pháp luật châu Âu, hợp đồng nghiên cứu
và phát triển là thỏa thuận của các bên để cùng nhau nghiên cứu và phát triển
sản phẩm hoặc quy trình và cùng nhau khai thác kết quả của việc nghiên cứu
và phát triển đó; hoặc cùng nhau khai thác kết quả của việc nghiên cứu và
phát triển sản phẩm hoặc quy trình đã cùng nhau tiến hành theo thỏa thuận
trước đó; hoặc cùng nhau nghiên cứu và phát triển sản phẩm hoặc quy trình,
bao gồm cả cùng nhau khai thác các kết quả. [17]
Như vậy, mặc dù thực tế diễn ra khá phong phú xong các hợp đồng nêu
trên đều có một đặc điểm chung đó là đối tượng của các hợp đồng này đều
chứa đựng một hoặc nhiều đối tượng của quyền SHTT với mục đích đạt được
quyền sử dụng các đối tượng của quyền SHTT đó. 17
Vì quyền SHTT được coi là một dạng tài sản đặc biệt nên các hợp đồng
có liên quan đến quyền SHTT cũng được coi là một trong những dạng hợp
đồng đặc biệt. Các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT là một hình thức
phổ biến và quan trọng trong việc thực thi các quyền SHTT của các chủ thể
của quyền SHTT. Vì vậy, việc áp dụng pháp luật cạnh tranh với những hợp
Một định nghĩa khác: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất
ý chí của từ 2 chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kì hình thức
nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường” [13, tr
125]
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là một hình thức cụ thể của hành vi hạn
chế cạnh tranh. Mục đích của thoả thuận hạn chế cạnh tranh là để tăng giá
bằng cách loại bỏ hay giảm thiểu cạnh tranh và do đó, nó ảnh hưởng trực tiếp
tới người mua hàng hoá, dịch vụ. [23]
Với các quan điểm và định nghĩa như trên về hạn chế cạnh tranh cùng
các đặc điểm riêng của hợp đồng trong lĩnh vực SHTT, có thể thấy về cơ bản
điều khoản HCCT trong hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT là thỏa
thuận giữa các bên nhằm làm giảm và hạn chế cạnh tranh trên cơ sở sử dụng
các quyền đối với các đối tượng của quyền SHTT theo pháp luật về SHTT.
1.2.2 Các đặc điểm pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp
đồng có liên quan đến quyền SHTT
Trong thực tiễn kinh doanh, nội dung của các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh rất đa dạng và luôn có sự thay đổi tùy thuộc vào điều kiện thực tế của
mỗi chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, xét trên phương diện kinh tế học và luật
học, có thể thấy các thỏa thuận HCCT có các đặc điểm pháp lý sau
- Thứ nhất, thỏa thuận HCCT cũng như các dạng thỏa thuận khác là sự
thống nhất giữa hai hay nhiều chủ thể độc lập. Một thỏa thuận HCCT phải
được hình thành từ sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia về việc 19
thực hiện một hành vi HCCT. Hình thức pháp lý của sự thống nhất ý chí
không ảnh hưởng đến việc định danh thỏa thuận HCCT. Do đó, chỉ cần hội đủ
hai điều kiện là có sự thống nhất ý chí và các doanh nghiệp đã cùng thống
nhất thực hiện một hành vi HCCT là có thể kết luận đã có thỏa thuận HCCT
cho dù thỏa thuận đó bằng văn bản hay lời nói, thỏa thuận công khai hay thỏa
định giá bán…Chính vì việc sử dụng các quyền đã được pháp luật SHTT
mang lại nên khi điều chỉnh các thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng có liên
quan đến quyền SHTT, pháp luật cạnh tranh các quốc gia buộc phải xử lý hài
hòa mối quan hệ giữa hai ngành luật để làm thế nào vừa bảo vệ được môi
trường cạnh tranh lành mạnh, vừa khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp
phát triển các đối tượng của quyền SHTT.
1.2.3 Nội dung cơ bản của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp
đồng có liên quan đến quyền SHTT
Trên thực tế, các điều khoản HCCT trong các hợp đồng có liên quan
đến quyền SHTT vô cùng phong phú và đa dạng. Các điều khoản sẽ có sự
thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các bên trong từng hợp
đồng. Tuy nhiên, về tổng thể, các điều khoản HCCT trong hợp đồng có liên
quan đến quyền SHTT thường tập trung vào một số nội dung sau:
(a) Điều khoản HCCT liên quan đến giá:
Điều khoản HCCT liên quan đến giá bao giờ cũng được các bên trong
hợp đồng chú trọng, đồng thời, đó cũng là điều khoản được pháp luật cạnh
tranh chú trọng điều chỉnh. Bởi một trong những mục đích của luật cạnh tranh
là mang đến lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc điều chỉnh một mức
giá phù hợp, không tổn hại tới lợi ích người tiêu dùng. Trong các hợp đồng,
nhất là hợp đồng chuyển giao công nghệ, thông thường, bên giao công nghệ
luôn muốn tối đa hóa thu nhập từ giá của công nghệ. Trong khi đó, bên nhận
công nghệ thường muốn tối thiểu hóa nghĩa vụ tài chính của mình đối với bên 21
giao công nghệ. Thông thường, các bên trong hợp đồng chuyển giao công
nghệ thường được tự do xác định mức giá của công nghệ và phương thức
thanh toán. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, có thể xuất hiện một
số trường hợp liên quan đến nghĩa vụ về giá của bên nhận công nghệ. Cụ thể
như hợp đồng chuyển giao công nghệ chỉ là cái cớ để các bên thiết lập một
hợp đồng chuyển giao công nghệ thì về nguyên tắc, việc áp dụng hạn mức tối
thiểu trong việc sản xuất các sản phẩm của bên nhận công nghệ sẽ không
được coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. Tuy nhiên, việc áp dụng hạn mức
tối đa trong việc bên nhận chuyển giao sản xuất các sản phẩm sẽ bị coi là vi
phạm pháp luật cạnh tranh. [19, tr22]
(c) Điều khoản HCCT liên quan đến chuyển giao ngược
Các hành vi không liên quan đến giá không chỉ giới hạn ở hành vi
chuyển giao ngược (grantback), chuyển giao có bán kèm (tying) và chuyển
giao cả gói (packeage licensing) như được liệt kê ở khoản 2, Điều 40 Hiệp
định TRIPs mà còn có thể là chuyển giao độc quyền cho bên nhận (exclusive
licensing), chuyển giao có giới hạn khối lượng sản phẩm sản xuất, và các
hành vi khác. Trong đó, thỏa thuận về chuyển giao ngược là một thỏa thuận
khá phổ biến trong các hợp đồng. Chuyển giao ngược là một thỏa thuận trong
hợp đồng chuyển giao công nghệ, theo đó bên nhận phải chuyển giao quyền
sử dụng hay quyền sở hữu đối với các cải tiến được bảo hộ theo pháp luật về
SHTT cho bên giao miễn phí hoặc có phí tùy từng trường hợp. Chuyển giao
ngược có khả năng thúc đẩy cạnh tranh trong trường hợp các bên cùng khai
thác các cải tiến mà bên nhận phát triển được, tuy nhiên, nó cũng có thể gây
ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh nếu bên nhận công nghệ bị buộc phải
chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng độc quyền đối với các cải tiến
kỹ thuật được bảo hộ thì điều này khiến bên nhận không được hưởng nhiều
lợi ích từ việc cải tiến công nghệ và qua đó không khuyến khích bên nhận cải 23
tiến và phát triển công nghệ ban đầu. Hơn nữa, điều khoản này còn có khả
năng mở rộng sức mạnh thị trường của bên giao một cách bất hợp lý. Đối với
vấn đề này, pháp luật Hoa Kỳ thường xem xét dựa trên nguyên tắc hợp lý
(rule of reason) để xem xét nghĩa vụ cấp lại theo hợp đồng có tính HCCT hay
không. Theo pháp luật Việt Nam, điều khoản có nội dung “buộc bên được