1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
--o0o--
PHẠM HOÀI HUẤN
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CÁC THOẢ THUẬN SỬ
DỤNG GIÁ ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, năm 2018
LỜI CAM ĐOAN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
--o0o--
PHẠM HOÀI HUẤN
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CÁC THOẢ THUẬN SỬ
DỤNG GIÁ ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Ngành
: Luật học
Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................... 2
3.
Phạm vi, đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 2
3.1.
Phạm vi nghiên cứu............................................................................................. 2
3.2.
Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................... 3
4.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án ......................................................... 3
5.
Kết cấu của Luận án ........................................................................................... 3
B. NỘI DUNG LUẬN ÁN ............................................................................................... 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .................................................. 4
1.1
Tình hình nghiên cứu .......................................................................................... 4
1.1.1
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo........................................................................... 9
2.1.2
Thị trường độc quyền ........................................................................................ 10
2.2
Lợi nhuận độc quyền và động cơ tiến hành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ........ 10
2.2.1
Trục lợi khách hàng .......................................................................................... 11
2.2.2
Tiêu diệt hoặc kìm hãm đối thủ ......................................................................... 11
2.2.3
Tạo ra các rào cản tư để duy trì sức mạnh thị trường ......................................... 11
2.3
Các công cụ chiến lược trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ............................. 12
2.4
Phá vỡ các thoả thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh .................................. 15
3.1.1.
Khía cạnh không bền vững của TTSDG để HCCT ............................................ 15
3.1.2.
Chính sách khoan hồng và vấn đề phá vỡ TTSDG để HCCT ............................ 16
3.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm chính sách khoan hồng ................................................. 16
3.1.2.3 Cơ sở kinh tế xây dựng chính sách khoan hồng ................................................. 16
3.1.2.4 Chính sách khoan hồng trong pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu và Hoa
Kỳ .................................................................................................................... 17
3.2
Chế tài đối với TTSDG để HCCT ..................................................................... 17
3.3
Vấn đề miễn trừ đối với TTSDG để HCCT ....................................................... 17
Chương 4: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM
SOÁT THỎA THUẬN SỬ DỤNG GIÁ ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM.
18
4.1
Cơ sở pháp lý kiểm soát các thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh ....... 18
4.1.1
4.2.4
Xác định mức giá trong hành vi thỏa thuận ngăn cản, loại bỏ ............................ 22
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 24
1
A. LỜI GIỚI THIỆU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giá cả được nhìn nhận là kết quả của quá trình cạnh tranh trên thị trường và cũng là
một phương tiện cạnh tranh rất hữu hiệu. Với sức ép cạnh tranh, mức giá doanh nghiệp ấn
định làm cho doanh nghiệp sẽ không đạt được mức lợi nhuận như mong muốn. Do đó nhằm
tối đa lợi nhuận, các doanh nghiệp có khuynh hướng loại bỏ cạnh tranh về giá giữa các bên
thông qua các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Chính các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp đã
ảnh hưởng một cách sâu sắc đến cấu trúc cạnh tranh trên thị trường, qua đó tác động lớn đến
các doanh nghiệp khác đang kinh doanh trên cùng một thị trường liên quan hoặc tác động lớn
đến người tiêu dùng thông qua việc tước bỏ quyền lựa chọn mức giá cạnh tranh về hàng hóa,
dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng.
Cùng với quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới là làn sóng đầu tư ào ạt
của các doanh nghiệp nước ngoài, cạnh tranh tại Việt Nam càng trở nên gay gắt. Khuynh
hướng thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng theo đó xuất
hiện ngày càng nhiều. Hàng loạt các nghi án thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực giá
đã được đề cập trong thời gian qua như thỏa thuận về lãi suất trong lĩnh vực ngân hàng, thỏa
thuận cước vận tải, thỏa thuận trong lĩnh vực viễn thông. Trong khi đó, pháp luật thực định
của Việt Nam còn nhiều bất cập nên vấn đề kiểm soát các thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế
cạnh tranh chưa phát huy hết hiệu quả như mong muốn. Về mặt thực thi pháp luật kiểm soát
các thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh, mối tương quan giữa các cơ quan thực thi
pháp luật về kiểm soát các TTSDG để HCCT.
Sáu là, xác định các tiêu chí để áp dụng miễn trừ, căn cứ xây dựng chính sách khoan
hồng trong cạnh tranh, tiêu chí nhằm lượng hóa chế tài và đưa ra những kiến nghị cụ thể để
hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, về nội dung nghiên cứu: Để kiểm soát các TTSDG để HCCT cần có sự thống nhất
giữa các qui định về thị trường liên quan, qui định về các hành vi TTSDG để HCCT, qui trình
tố tụng cạnh tranh, địa vị pháp lý của các cơ quan có liên quan trong quá trình kiểm soát, chế
tài, vấn đề miễn trừ và chính sách phá vỡ các thỏa thuận. Hướng nghiên cứu của luận án chỉ
tập trung vào hai nội dung của pháp luật kiểm soát các TTSDG để HCCT là:
o Cơ sở kinh tế và cấu thành các hành vi TTSDG để HCCT,
o Việc kiểm soát các TTSDG để HCCT thông qua các chế tài, miễn trừ và cách
phá vỡ các thỏa thuận.
Thứ hai, về không gian: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu về các qui định của pháp
luật kiểm soát các TTSDG để HCCT ở Việt Nam. Việc đề cập đến kinh nghiệm pháp luật của
một số quốc gia và của các tổ chức như OECD, UNCTAD, World Bank chỉ nhằm đề chứng
minh, so sánh một luận điểm nào đó để đánh giá, nhìn nhận các qui định tương tự trong pháp
luật Việt Nam.
Thứ ba, về thời gian: Luận án sẽ tập trung nghiên cứu chủ yếu các quy định của pháp
luật về kiểm soát các TTSDG để HCCT từ năm 2004. Bởi lẽ năm 2004 là thời điểm ban hành
luật cạnh tranh đầu tiên của Việt Nam.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát
các TTSDG để HCCT và thực tiễn quy định pháp luật về kiểm soát các TTSDG để HCCT ở
Việt Nam. Theo đó:
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các TTSDG để HCCT dưới góc độ pháp lý là chủ
4
B. NỘI DUNG LUẬN ÁN
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu khái quát về pháp luật cạnh tranh: i) sách “Antitrust law: Economic
Theory and Common law evolution” của Keith N. Hylton, ii) sách “Federal Antitrust Policy:
The law of competition and its practice” của Herbert Hovenkamp, iii) sách “Antitrust” của
Herbert Hovenkamp, iv) sách “EU Competition law: Text, cases, and materials” của Alison
Jones và Brenda Sufrin, v) sách “Competition Law” của Richard Whish và David Bailey, vi)
sách “Global antitrust law and economics” của Einer R. Elhauge và Damien Geradin, vii) sách
“Antitrust Economics: Understanding antitrust and its economic implications” của E. Thomas
Sullivan và Jeffrey L. Harrison.
Sách kinh tế: i) sách “Principles of Economics” của N. Gregory Mankiw; ii) sách
“Microeconomics” của David K. H. Begg, Douglas Charles Amos Curtis và Ian Joseph Irvine;
iii) sách “Game Theory for Applied Economists” của Robert Gibbons; iv) sách
“Tư duy chiến lược” của Avinash K. Dixit & Bary J. Nalebuff.
Kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: i) bài viết “Economies as an antitrust
defense: the welfare tradeoffs” của Oliver E. Williamso, ii) bài viết “The case of export
cartel exemptions: between competition and protectionism” của Florian Becker, iii)
“Competition, competitiveness and development: lessons from developing countries” của
UNCTAD; iv) “Can developing economies benefit from WTO negotiations on binding
disciplines for hard core cartels?” của UNCTAD; bài viết “The Fundamental Goal of Antitrust:
Protecting Consumers, Not Increasing Efficiency” của John B. Kirkwood & Robert H. Lande
Phá vỡ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: i) “The use of leniency programmes as
a tool for the enforcement of competition law against hardcore cartels in developing countries”
của UNCTAD, ii) bài viết “Optimal cartel pricing in the presence of an antitrust authority”
Nam”, “Bàn về đặc trưng pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh”, “Hoàn thiện các
quy định về kiểm soát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong luật cạnh tranh”, v) bài
viết “Về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” của Trần Thị Nguyệt, vi) bài viết “Các quy định về
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và quy chế miễn trừ trong luật cạnh tranh” của Nguyễn Thanh
Tịnh, vii) bài viết “Một số vấn đề về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” của Vũ Đặng Hải Yến,
viii) bài viết “Cạnh tranh và các dạng thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” của Nguyễn Thị
Hồng Vân, ix) bài viết “Hành vi hạn chế cạnh tranh của hiệp hội ngành nghề” của Trần Thăng
Long.
Về chính sách khoan hồng: i) bài viết “Chính sách khoan hồng công cụ hữu hiệu khám
phá các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” của Lê Thu Hà, ii) bài viết “Chính sách khoan hồng
và tác động phá vỡ Các-ten” của Phan Công Thành, iii) bài viết “Cơ sở lý luận và thực tiễn áp
dụng chính sách khoan hồng theo Luật cạnh tranh của một số nước trên thế giới và đề xuất bổ
sung cho Việt Nam” của Nguyễn Anh Tuấn.
Trong mối tương quan với lĩnh vực nhượng quyền thương mại: i) bài viết “Mối
quan hệ giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” của
Vũ Đặng Hải Yến Tác, ii) bài viết “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh về bán hàng hóa, dịch vụ
trong quan hệ nhượng quyền thương mại” của Nguyễn Thị Tình; iii) bài viết “Một số vấn đề
trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” của
Nguyễn Thị Nhung.
6
1.1.3 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu
Thứ nhất: Trên thế giới, khuynh hướng tiếp cận pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp
luật kiểm soát các thỏa thuận HCCT nói riêng bằng phương pháp phân tích kinh tế trong pháp
luật đã diễn ra trong một thời gian dài và có thể nói là phương pháp chủ đạo. Trong khi đó tại
Việt Nam, phương pháp phân tích pháp luật truyền thống vẫn là phương pháp chủ đạo khi
nghiên cứu về pháp luật kiềm soát các thỏa thuận HCCT. Trong chừng mực nào đó, các tác
giả có những phân tích về các qui định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong sự đối chiếu
với pháp luật nước ngoài. Khía cạnh kinh tế học của hành vi chưa được các tác giả nghiên cứu
7
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
1.2.1.1Câu hỏi nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và dự kiến kết quả nghiên cứu
a. Về góc độ lí luận
Nhóm câu hỏi thứ nhất nhằm giải quyết các vấn đề như: Những vấn đề lí luận về
thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh, bản chất và tác động của hành vi thỏa
thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh
Để làm rõ nội dung này, tác giả sẽ lần lượt trả lời cho các câu hỏi: i) Thế nào là TTSDG
để HCCT?, ii) TTSDG để hạn chế cạnh tranh có gì khác so với các thỏa thuận HCCT khác?,
iii) Tại sao các doanh nghiệp lại tiến hành TTSDG để HCCT?, iv) Tác động của các TTSDG
này đối với thị trường và người tiêu dùng như thế nào?, v) Trên thực tế, có những hành vi
TTSDG nào?, vi) Cơ sở kinh tế và xác định cấu thành của các TTSDG như thế nào?.
Giả thuyết nghiên cứu
Giá là một trong những công cụ hữu hiệu để cạnh tranh. Xuất phát từ sức ép của cạnh
tranh, các doanh nghiệp trên thị trường liên quan cũng có thể sử dụng công cụ giá để tiến hành
các hành vi mang tính phản cạnh tranh.
Các TTSDG để HCCT sẽ có những đặc trưng khác biệt so với các dạng thỏa thuận
HCCT khác.
Khi tiến hành các TTSDG để HCCT các doanh nghiệp có thể đạt được nhiều lợi ích so
với việc doanh nghiệp tiến hành các hành vi mang tính đơn độc. Các hành vi này gây hại cho
cấu trúc thị trường, doanh nghiệp đối thủ và người tiêu dùng.
Các hành vi TTSDG để HCCT trong pháp luật cạnh tranh của các nước qui định với
nhiều dạng hành vi khác nhau.
Các hành vi TTSDG để HCCT là các hành vi nhằm mục tiêu giành ưu thế trên thị
trường, qua đó gia tăng lợi nhuận trong tương lai. Do đó, để điều chỉnh một cách hiệu quả các
hành vi này, cần thiết phải xây dựng cấu thành của các qui định pháp luật từ góc độ kinh tế
học.
xử lí các hành vi TTSDG để HCCT.
Kết quả đạt được
• Luận giải được về mặt lí luận tại sao phải kiểm soát các TTSDG để HCCT thông qua
việc xác định những tác hại cũng nhưng những tác dụng tích cực mà mà hành vi gây ra
đối với thị trường và người tiêu dùng
• Xây dựng các tiêu chí kiểm soát, qua đó cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh có thể
vận dụng trên thực tế để tiến hành cấm các hành vi có hại cũng như cho phép hoặc
khuyến khích những TTSDG có lợi
• Xây dựng chính sách khoan hồng dựa trên nền tảng của lý thuyết trò chơi, qua đó góp
phần tạo cơ chế để các doanh nghiệp đã tiến hành hành vi TTSDG để HCCT khai báo
về hành vi vi phạm pháp luật.
• Xác định các hình thức chế tài áp dụng đối với các bên có liên quan như doanh nghiệp
và người quản lý khi tiến hành các TTSDG để HCCT.
b. Về góc độ pháp lý
Nhóm câu hỏi thứ nhất: Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật kiểm soát
TTSDG để HCCT tại Việt Nam
Nhóm câu hỏi thứ hai: Pháp luật Việt Nam qui định các hành vi TTSDG để HCCT
như thế nào
9
Để làm rõ nội dung này, tác giả sẽ lần lượt trả lời cho các câu hỏi: i) Có những hành vi
TTSDG nào trong pháp luật Việt Nam?, ii) Việc kiểm soát các TTSDG nào trong pháp luật
Việt Nam dựa trên các tiêu chí và nguyên tắc nào?, iii) Chế mà pháp luật Việt Nam áp dụng
đối với các bên có liên quan đối với hành vi TTSDG để HCCT là gì?.
c. Đề xuất kiến nghị
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tác động như thế nào đến chính sách cạnh tranh của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Các qui định về hành vi TTSDG để HCCT trong pháp luật Việt Nam hiện hành đã phù
hợp với thực tiễn hay chưa?
10
2.1.2 Thị trường độc quyền
Thị trường độc quyền là thị trường mà trong đó doanh nghiệp không có những đối thủ
cạnh tranh. Doanh nghiệp độc quyền sẽ có tác động đến mức giá đối với các sản phẩm mà
mình sản xuất ra. Trong khi doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh là người chấp nhận giá
thì doanh nghiệp độc quyền là người quyết định giá.
Điểm khác biệt cơ bản giữa một doanh nghiệp cạnh tranh và doanh nghiệp độc quyền
chính là khả năng tác động đến giá của hàng hóa. Một doanh nghiệp cạnh tranh là quá nhỏ
trong tương quan với thị trường mà nó đang hoạt động, cũng vì thế mà nó không có năng lực
để tác động đến giá. Doanh nghiệp phải chấp nhận mức giá được quyết định bởi các điều kiện
của thị trường. Ngược lại, bởi vì doanh nghiệp độc quyền là nhà sản xuất duy nhất trên thị
trường, nó có thể thay đổi giá hàng hóa bằng cách điều chỉnh sản lượng mà nó cung cấp ra thị
trường.
2.2 Lợi nhuận độc quyền và động cơ tiến hành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Sức ảnh hưởng của doanh nghiệp ở trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường
độc quyền là khác nhau, qua đó lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng sẽ rất khác nhau.
Nhìn từ góc độ mục tiêu lợi nhuận thì doanh nghiệp cạnh tranh và doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan là giống nhau. Nói cách
khác, đã là doanh nghiệp thì lợi nhuận là mục tiêu quan trọng. Nhưng các doanh nghiệp cạnh
tranh không đạt được lợi nhuận tối ưu hoặc thậm chí trong nhiều trường hợp là thua lỗ vì sức
ép cạnh tranh. Cho nên, thị trường độc quyền và lợi nhuận độc quyền là đích đến và muốn mà
các doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hướng đến.
Nhìn từ đó, ta thấy động cơ của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chính là thông qua
các thỏa thuận thống nhất hành động giữa các đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp mong
muốn giả lập vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan. Khi doanh nghiệp
giả lập được vị trí của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền, họ sẽ đạt được hai lợi ích căn
bản sau:
Thứ nhất: Khi tiến hành các thỏa thuận thống nhất hành động, các doanh nghiệp đã
năng). Theo đó, doanh nghiệp bị loại bỏ khỏi thương trường không hẳn là vì kinh doanh không
hiệu quả. Mà đó chính là kết quả của một chiến lược được thực hiện bởi những doanh nghiệp
cùng liên kết hành động để đạt đến một sức mạnh về tài chính, một sự chịu đựng về sức bền
trong thua lỗ và một hi vọng bù đắp tất cả các tổn thất này bằng việc tăng giá trong tương lai
khi chiến lược loại bỏ đã hoàn thành.
2.2.3 Tạo ra các rào cản tư để duy trì sức mạnh thị trường
Một điều kiện cần thiết cho chiến lược ngăn cản, loại bỏ là phải tồn tại những rào cản
gia nhập thị trường. Theo đó một cách chung nhất, rào cản gia nhập thị trường là những nhân
tố ngăn cản hoặc kim hãm một doanh nghiệp tham gia vào một thị trường riêng biệt. Bởi vì
những cố gắng của doanh nghiệp trong chiến lược ngăn cản, kim hãm sẽ được bù đắp bằng
chính việc tăng giá trong tương lai để hưởng lợi nhuận độc quyền.
Rào cản gia nhập thị trường có thể là một hoặc là sự kết hợp của những yếu tố sau:
§ Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý theo
quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp,
§ Các rào cản về tài chính bao gồm chi phí đầu tư vào sản xuất, phân phối, xúc tiến
thương mại hoặc khả năng tiếp cận với các nguồn cung cấp tài chính,
§ Quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước,
12
§ Các quy định về điều kiện kinh doanh, sử dụng hàng hóa, dịch vụ; các chuẩn mực
nghề nghiệp,
§ Thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu,
§ Tập quán của người tiêu dùng,
§ Các rào cản gia nhập thị trường khác.
2.3 Các công cụ chiến lược trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Nhìn chung, có thể phân chia các công cụ được các doanh nghiệp sử dụng trong các
thỏa thuận HCCT thành hai nhóm:
Nhóm 1: Công cụ giá: Khi sử dụng giá làm công cụ để đạt mục tiêu gia tăng lợi nhuận,
được mức giá mong muốn. Nói cách khác, thông qua thỏa thuận thống nhất hành động, các
doanh nghiệp đã hành động như là một doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền (tùy thuộc
vào việc thỏa thuận này có bao gồm tất cả hay chỉ phần lớn các doanh nghiệp trên thị trường
liên quan) để có thể hướng đến mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thống lĩnh/ độc quyền có
được.
Nhưng ở phương diện khác, theo qui luật cung khi giá tăng nguồn cung cũng sẽ tăng
(vì đường cung là đường dốc lên). Các doanh nghiệp khác (đang hoạt động trên cùng thị trường
liên quan hoặc doanh nghiệp đối thủ tiềm năng) sẽ có khuynh hướng gia nhập vào thị trường
hoặc cung ứng nhiều hơn. Vị trí của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận sẽ bị lung lay. Do
vậy, các doanh nghiệp này đứng trước hai lựa chọn (i) Hoặc là giảm giá bán (cũng đồng nghĩa
lợi nhuận sẽ giảm) (ii) Hoặc tìm cách loại bỏ các doanh nghiệp này để củng cố hoặc gia tăng
thị phần trên thị trường liên quan.
2.5 Các dạng thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh
2.5.1 Thỏa thuận sử dụng giá để bóc lột khách hàng
2.5.1.1. Khái quát chung
Xét ở khía cạnh giá, hành vi thỏa thuận sử dụng giá để bóc lột khách hàng được hiểu
là việc các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan thỏa thuận thống nhất hành động một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp xác lập mức giá của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan
nhằm thu lợi bất chính.
Theo đó, hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp
thống nhất áp dụng một mức giá hoặc một cách thức tính giá chung khi mua, bán hàng hóa,
dịch vụ với các khách hàng hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo nên những phản ứng thống
nhất về giá hàng hóa, dịch vụ khi đàm phán với khách hàng. Có thể nhận diện các thỏa thuận
ấn định giá thông qua các dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp
cạnh tranh trên cùng thị trường liên quan.
Thứ hai: Công cụ được sử dụng bởi các doanh nghiệp là công cụ giá.
Thứ ba: Mục đích của các thỏa thuận ấn định giá nhằm thống nhất hành động giữa các
doanh nghiệp, qua đó gia tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận bằng việc
Hai đối tượng bị tác động bởi các thỏa thuận này là người tiêu dùng và các doanh nghiệp cạnh
tranh không phải là một trong các bên của thỏa thuận.
Người tiêu dùng là đối tượng bị tác động mạnh mẽ bởi các TTSDG. Bởi họ sẽ không
được hưởng mức giá tốt mà doanh nghiệp cung cấp khi họ phải chịu áp lực cạnh tranh trên thị
trường. Hệ quả của các TTSDG không chỉ làm người tiêu dùng phải mua hàng với giá cao
hơn, mà quan trọng hơn các TTSDG đã góp phần làm cho việc phân bổ tài nguyên trong xã
hội không hiệu quả.
Các doanh nghiệp khác hoạt động trên cùng thị trường liên quan nhưng không phải là
một trong các bên của TTSDG (doanh nghiệp đối thủ) cũng là một đối tượng bị tác động bởi
các TTSDG. Bằng việc cộng gộp sức mạnh từ tất cả các doanh nghiệp, các TTSDG nhằm mục
đích loại bỏ đối thủ ra khỏi thị trường liên quan đã gây nên sức ép lớn lên hoạt động kinh
doanh bình thường của các doanh nghiệp đối thủ. Sức ép đó không chỉ dừng lại ở mức lợi
nhuận bị suy giảm mà nghiêm trọng hơn, các doanh nghiệp này không thể tham gia thị trường,
mở rộng hoạt động kinh doanh hoặc thậm chí là buộc phải rời khỏi thị trường liên quan.
Nhìn từ góc độ quản lý kinh tế, thỏa thuận HCCT có thể làm cho năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế trở nên kém hiệu quả. Thông qua việc giới hạn hoặc loại bỏ cạnh tranh, các
doanh nghiệp trong nước không có động cơ và sức ép để thay đổi công nghệ hoặc cải tiến qui
trình sản xuất nhằm tối ưu chi phí sản xuất. Nghiêm trọng hơn, nếu các thỏa thuận HCCT xảy
15
ra ở thị trường nguyên nhiên liệu cơ bản, đóng vai trò là nguyên liệu đầu vào của các ngành
sản xuất khác, các thỏa thuận này có thể làm cho các ngành sản xuất đó bị ảnh hưởng thông
qua việc gia tăng chi phí sản xuất.
2.6.2 Tác động thúc đẩy cạnh tranh
Có nhiều hoạt động cần có sự phối hợp nguồn lực bởi các doanh nghiệp trong ngành.
Việc tự thân mỗi doanh nghiệp tiến hành các hoạt động mang tính độc lập, xét về khía cạnh
kinh tế trong nhiều trường hợp là không tối ưu. Bằng việc cho phép các doanh nghiệp được
tham gia các thỏa thuận phối hợp hành động, có thể tạo ra những sản phẩm mới, thúc đẩy giá
trị sản xuất và qua đó gia tăng phúc lợi tiêu dùng. Có hai yếu tố cần được xem xét khi đánh
3.1.1.3 Cấu trúc thị trường và sự minh bạch của thông tin
Cấu trúc thị trường được nhìn nhận chủ yếu thông qua những yếu tố như số lượng các
doanh nghiệp đối thủ trên cùng thị trường liên quan, sự tập trung của người mua. Cùng với
những khác biệt như trên đã phân tích, việc tồn tại càng nhiều doanh nghiệp, càng làm cho các
thỏa thuận trở nên lỏng lẻo. “Các nhà kinh tế học đã thống nhất rằng các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh sẽ dễ dàng xảy ra ở các thị trường mà mức độ tập trung của thị trường là cao, những
thị trường chỉ bao gồm hai đến bảy hoặc tám doanh nghiệp. Một thị trường, mà số lượng doanh
nghiệp nhiều hơn, 15 hoặc 20 doanh nghiệp, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là cực kì khó
khăn”.
3.1.1.4 Chế tài của Nhà nước
Cái để các doanh nghiệp cân nhắc khi tiến hành hoặc tham gia các thỏa thuận HCCT
chính là lợi ích của việc tham gia thỏa thuận có đủ hấp dẫn để không cần quan tâm đến qui
định cấm của nhà nước hay không? Ngay cả khi đã tham gia vào các thỏa thuận HCCT, thì
yếu tố nầy vẫn là yếu tố có khả năng tác động lớn đến tính bền vững của thỏa thuận. Một khi
chế tài không đủ mạnh và đặc biệt là việc thực thi pháp luật cạnh tranh không nhất quán sẽ
làm cho sức răn đe của pháp luật bị giảm. Nói cách khác, trong bối cảnh như vậy, doanh
nghiệp thiếu động cơ để từ bỏ/ dừng các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc hợp tác với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lí các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
3.1.2. Chính sách khoan hồng và vấn đề phá vỡ TTSDG để HCCT
3.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm chính sách khoan hồng
Một cách chung nhất chính sách khoan hồng là một hệ thống/ chính sách được công bố
rộng rãi, theo đó “một phần hay toàn bộ các biện pháp phạt/ chế tài sẽ được miễn hoặc giảm
nếu thành viên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh báo cáo với cơ quan thực thi pháp luật cạnh
tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó và đáp ứng được những điều kiện mà pháp luật qui
định”. Theo đó, chính sách khoan hồng sẽ có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Chính sách khoan hồng là một chương trình giảm hình phạt tiền, miễn truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc là một sự ân xá.
Thứ hai: Đối tượng áp dụng của chính sách khoan hồng là các bên tham gia thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh hoặc các cá nhân có liên quan.
tính nghiêm trọng và những lợi ích bất hợp pháp mà hành vi mang lại. Một số quốc gia, như
Hoa Kỳ, Canada hành vi TTSDG để HCCT còn có thể bị phạt tù. Ngoài hai biện pháp chế tài
chính này, các quốc gia có thể cân nhắc các biện pháp xử lí bổ sung.
3.3 Vấn đề miễn trừ đối với TTSDG để HCCT
Nhằm mục đích tạo tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát các thỏa thuận HCCT, trên thực tế
pháp luật cạnh tranh các nước phân các tiêu chí miễn trừ thành ba nhóm:
Nhóm thứ nhất: các qui định miễn trừ áp dụng tự động.
Nhóm thứ hai: miễn trừ áp dụng theo ngưỡng thị phần.
Nhóm thứ ba: Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng.
18
Chương 4: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
KIỂM SOÁT THỎA THUẬN SỬ DỤNG GIÁ ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH TẠI
VIỆT NAM.
4.1 Cơ sở pháp lý kiểm soát các thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh
4.1.1 Các hành vi TTSDG để HCCT theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
4.1.1.1 Hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp
a. Khái quát chung
Các thoả thuận này có đặc điểm chung là thông qua các thoả thuận này, các bên đã loại
bỏ cạnh tranh về giá giữa các bên tham gia thoả thuận thông qua việc xác lập một mức giá
chung hoặc thông qua các hình thức ấn định giá gián tiếp.
b. Nhóm hành vi thỏa thuận ấn định giá trực tiếp
Thỏa thuận ấn định giá trực tiếp là các thỏa thuận thống nhất hành động giữa các đối
thủ cạnh tranh nhằm loại bỏ cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận. Đặc
trưng quan trọng của các thỏa thuận này là thông qua thỏa thuận, các bên đã trực tiếp xác lập
một mức giá chung, qua đó loại bỏ khả năng lựa chọn giá của khách hàng, nhằm mục đích gia
đủ hấp dẫn để gia nhập thị trường hoặc khốc liệt hơn là bị thua lỗ trong dài hạn, phải rút lui
khỏi thị trường.
Thứ ba: Mục đích của hành vi là nhằm củng cố vị trí hiện tại trước nguy cơ bị mất thị
phần bởi các doanh nghiệp đối thủ trên thị trường liên quan hoặc bởi sự gia nhập thị trường
của doanh nghiệp mới hoặc gia tăng lợi nhuận thông qua việc tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.
b. Hành vi thỏa thuận sử dụng giá nhằm mục đích ngăn cản việc gia nhập thị trường
của đối thủ cạnh tranh mới
Hành vi TTSDG nhằm mục đích ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh
tranh mới được hiểu là thỏa thuận thống nhất hành động giữa các đối thủ cạnh tranh, thông
qua việc giảm giá nhằm mục đích ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh
mới.
c. Hành vi thỏa thuận sử dụng giá nhằm mục đích ngăn cản, kìm hãm, không cho
doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh
Hành vi TTSDG nhằm mục đích ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác
phát triển kinh doanh được hiểu là hành vi thỏa thuận thống nhất hành động giữa các doanh
nghiệp đối thủ trên cùng thị trường liên quan, bằng cách sử dụng chiến lược bán hàng giá thấp,
làm cho doanh nghiệp không phải là một bên trong thỏa thuận không thể phát triển hoặc mở
rộng hoạt động động kinh doanh.
d. Hành vi thỏa thuận sử dụng giá nhằm mục đích loại bỏ khỏi thị trường những
doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận
Hành vi TTSDG nhằm mục đích loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không
phải là các bên của thoả thuận được hiểu là hành vi thỏa thuận thống nhất hành động giữa các
doanh nghiệp đối thủ trên cùng thị trường liên quan, bằng cách sử dụng chiến lược bán hàng
giá thấp, nhằm mục đích loại bỏ đối thủ ra khỏi thị trường liên quan.
4.1.2 Phương pháp kiểm soát các thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh theo
pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Cơ sở pháp lý cho việc kiểm soát các thỏa thuận HCCT nói chung và TTSDG để HCCT
ở Việt Nam được qui định tại điều 9 và 10 của luật cạnh tranh. Dựa vào tinh thần của hai qui
định này, có thể thấy cách tiếp cận của luật cạnh tranh Việt Nam có nét tương đồng với pháp
luật cạnh tranh của Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu. Tức là trong pháp luật vẫn xác định có
đổi khoản 2 điều 9 của luật cạnh tranh:
“Cấm các thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 8
của Luật này khi các bên tham gia thoả thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ
30% trở lên”
Theo đó, nên sửa theo hướng loại bỏ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được qui định
tại qui định này. Có nghĩa là, nguyên tắc kiểm soát đối với hành vi này theo hướng chỉ cần
doanh nghiệp thực hiện hành vi, đã mặc nhiên bị coi là vi phạm pháp luật mà không cần xét
đến khía cạnh thị phần kềt hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận như cách mà luật
cạnh tranh hiện hành đang áp dụng.
Đồng thời, vì thỏa thuận ấn định giá vì là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng,
kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị của các tổ chức như OECD, WB như trên đã trình bày,