BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TỐNG ĐỨC DUY
KIỂM SOÁT HÀNH VI ẤN ĐỊNH GIÁ NHẰM
HẠN CHẾ CẠNH TRANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TỐNG ĐỨC DUY
KIỂM SOÁT HÀNH VI ẤN ĐỊNH GIÁ NHẰM
HẠN CHẾ CẠNH TRANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh
Hạn chế cạnh tranh
JFTC
LCT
PP-BL
QLCT
RPM
SX-CC
TTHCCT
XHCN
WB
WTO
Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản
Luật cạnh tranh
Phân phối - bán lẻ
Quản lý cạnh tranh
Ấn định giá bán lại
Nhà sản xuất - cung cấp
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Xã hội chủ nghĩa
Ngân hàng thế giới
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH
Trang
Bảng 1. Bảng số liệu thống kê số vụ việc hạn chế cạnh tranh
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
4
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
4
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
5
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5
8. Bố cục của luận văn
6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
HÀNH VI ẤN ĐỊNH GIÁ NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.1.
Khái quát về hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh
tranh của một số nước trên thế giới
21
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI
ẤN ĐỊNH GIÁ NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH
2.1.
29
Quy định pháp luật về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn
chế cạnh tranh ở Việt Nam
2.1.1. Các loại hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh
29
29
2.1.2. Chủ thể tham gia hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh
tranh...........................................................................................................35
2.1.3. Quy định về xử lý vi phạm đối với hành vi ấn định giá nhằm hạn
chế cạnh tranh ở Việt Nam
2.2.
38
Thực trạng thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi ấn định giá
mục đích đảm bảo duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh
67
3.1.2. Pháp luật về kiểm soát hành vi hành vi ấn định giá nhằm hạn chế
cạnh tranh phải gắn liền với việc đảm bảo quá trình mở cửa hội nhập kinh
tế quốc tế và khu vực
68
3.1.3. Pháp luật về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh
tranh phải đảm bảo sự độc lập của bộ máy thực thi và sự đồng bộ với các
lĩnh vực pháp luật
3.2.
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi
ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay.
3.3.
69
71
Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm
soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh
75
phẩm họ đánh giá là như nhau. Vì vậy, nếu như cạnh tranh trong quá trình lâu
dài, các doanh nghiệp giảm giá thì ít nhiều họ sẽ phải chịu thua lỗ. Thế nên
thay vì cách cạnh tranh lành mạnh về giá, các doanh nghiệp có thể liên kết
thoả thuận với nhau xoá bỏ cạnh tranh và giữ ở một giá để thu lợi nhuận tốt
nhất. Điều đó dẫn tới xoá bỏ cạnh tranh lành mạnh và người tiêu dùng hoặc
những đối tượng mua hàng không được hưởng những lợi ích về việc lựa chọn
giá, về chất lượng sản phẩm và còn ảnh hưởng tới doanh nghiệp kinh doanh
chân chính. Đó là biểu hiện cho một hành vi thuộc nhóm hành vi ấn định giá
nhằm hạn chế cạnh tranh. Vì vậy pháp luật cạnh tranh cần phải kiểm soát
nhóm hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh.
Để kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh, Nhà nước
đã sử dụng rất nhiều biện pháp; trong đó biện pháp cơ bản là ban hành các
văn bản pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, các quy định về kiểm soát hành vi
ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh và chưa có
tính thực thi cao.
1 Bài viết : "Tầm quan trọng của Luật cạnh tranh" trong Hội thảo kinh nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh
của Úc tháng 8/2015 - GS.TS. Tăng Văn Nghĩa
10
Vì vậy, việc nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định pháp luật về kiểm soát
hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh, từ đó kiến nghị các giải pháp
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi là vấn đề hết sức cấp bách.
Trên cơ sở những nhận định trên, tác giả quyết định lựa chọn nghiên
cứu đề tài “Kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh theo
pháp luật Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu các
quy định pháp luật, đánh giá thực trạng về pháp luật cạnh tranh Việt Nam
hiện hành từ đó tìm ra những điểm còn chưa phù hợp và đề xuất các giải pháp
giúp hoàn thiện các quy định này, góp phần nâng cao hiệu kiểm soát hành vi
Bản về kiểm soát hành vi ấn định giá và kinh nghiệm thực thi đóng góp những
bài học quý báu cho Việt Nam.
Về vấn đề kiểm soát hành vi ấn định giá, có công trình của ThS Mai
Duy Phước "Thoả thuận ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh", luận văn thạc
sĩ Luật học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội (2012) . Công trình này
trình bày quy định pháp luật về thoả thuận ấn định giá, nhưng chưa đề cập tới
kiểm soát những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền để ấn định
giá.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã tiếp cận pháp luật về
kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở những phạm vi và
mức độ khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi
sâu nghiên cứu, phân tích những nội dung pháp lý về kiểm soát ấn định giá
nhằm hạn chế cạnh tranh. Do đó, tác giả thấy việc nghiên cứu, đánh giá để
góp phần cùng các công trình trước đây hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt
Nam là cần thiết.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm pháp lý liên quan
đến việc xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, kiểm soát hành vi ấn định giá
nhằm hạn chế cạnh tranh và các văn bản pháp luật của Việt Nam cũng như
một số nước trên thế giới về vấn đề này.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc phân tích, đánh giá
các quy định pháp luật về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh
12
tranh theo Luật cạnh tranh Việt Nam và thực tiễn áp dụng vào việc kiểm soát
hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp luận của triết
học Mác – Lê nin. Trên nền tảng các phương pháp đó, tác giả sử dụng
phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích – tổng hợp ở chương I và chương
II, lịch sử kết hợp với các phương pháp như thống kê ở chương II, so sánh
luật học ở chương I giữa những kinh nghiệm của các nước phát triển Luật
cạnh tranh như Mỹ, Canada, Nhật Bản với Luật cạnh tranh của Việt Nam…để
giải quyết nội dung khoa học của luận văn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về lý luận
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn
chế cạnh tranh. Những đóng góp của luận văn thể hiện tập trung ở những nội
dung sau:
- Luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận về kiểm soát
hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh qua đó cho thấy sự cần thiết
phải có sự kiểm soát của pháp luật đối với hành vi này. Ngoài ra, luận văn có
trình bày khái quát pháp luật về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế
cạnh tranh một số nước trên thế giới, rút ra những nét chung trong pháp luật
về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở những nước đó
làm kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.
- Luận văn phân tích sâu, bình luận các quy định của pháp luật Việt
Nam về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh, từ đó đưa ra
những đánh giá về thực trạng thực thi các quy định pháp luật về kiểm soát
hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam.
14
- Luận văn đã đề xuất một số giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật về kiểm soát hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở
phí cho một sản phẩm, dịch vụ.
Dưới góc độ kinh tế học, có thể hiểu ấn định giá là một thoả thuận hoặc
sự đồng ý giữa các chủ thể tham gia trên cùng thị trường giống nhau hoặc liên
quan với nhau để mua, bán, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, hàng hoá ở một
mức giá cố định, hoặc duy trì các điều kiện thị trường để kiểm soát giá tại
nguồn cung và cầu của loại hình sản phẩm, dịch vụ đó3. Mục đích của ấn định
giá để đẩy giá lên mức cao nhất có thể gia tăng lợi nhuận cho người bán hoặc
cũng có thể vì các mục tiêu khác như ấn định, kiểm soát tỉ giá, kiểm soát giảm
giá hoặc bình ổn giá. Các đặc tính của của ấn định giá là bất kỳ sự đồng ý thoả
thuận về giá cả một cách công khai hoặc ngầm hoá4
2 Theo Từ điển tiếng việt - Viện Ngôn Ngữ học - Nhà xuất bản từ điển bách khoa 2010
3 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/gi%C3%A1 ngày truy cập 5/7/2016
4 Lược dịch từ website http://business-law.freeadvice.com/business-law/trade_regulation/price_fixing.htm
16
Dưới góc độ pháp lý, Luật cạnh tranh Việt Nam và Luật giá không đưa
ra định nghĩa về ấn định giá. Luật giá có khái niệm định giá là việc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất quy định giá cho hàng
hoá, dịch vụ.5 Việc định giá hàng hoá là quyền tự do của tổ chức, cá nhân kinh
doanh cho việc xác định giá trị của hàng hoá, dịch vụ đó trừ mặt hàng mà nhà
nước quy định giá.
Hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh là hành vi mang tính đặc
đặc thù của pháp luật cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh phải kiểm soát những
hành vi này. Luật cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm hành vi ấn
định giá và chỉ liệt kê những hành vi ấn định giá.
Khác với pháp luật Việt Nam, ấn định giá được pháp luật cạnh tranh của
Hoa Kỳ quy định trong những văn bản hướng dẫn về luật chống độc quyền :
"Ấn định giá là một thỏa thuận hoặc là sự đồng ý (bằng văn bản, bằng lời nói,
Tuy nhiên, cũng có trường hợp các doanh nghiệp không thoả thuận một
cách trực tiếp với nhau mà “gián tiếp” đạt được sự thoả thuận thông qua quyết
định của Hiệp hội mà các doanh nghiệp là thành viên. Sở dĩ chúng ta vẫn coi
đó là sự thoả thuận bởi lẽ khi doanh nghiệp tham gia hiệp hội, chấp nhận các
cam kết chung của hiệp hội, trong đó chấp nhận cho phép hiệp hội được đưa
ra các quyết định và mình tuân theo, thì đây cũng chính là sự thoả thuận của
doanh nghiệp, hình thức thoả thuận này gần như là sự “uỷ quyền quyết định”
cho hiệp hội và bất luận như thế nào thì doanh nghiệp cũng đồng ý. Ngoài ra,
sự thoả thuận này còn có thể thể hiện dưới dạng các cam kết đáp ứng các yêu
cầu của một bên hoặc các bên tham gia. Trên thực tế, có trường hợp các
doanh nghiệp có các hành vi giống nhau thì cũng chưa thể kết luận là các
doanh nghiệp này có sự thoả thuận được bởi lẽ có thể đó là sự ngẫu nhiên trên
cơ sở tính toán, xác định của doanh nghiệp. Chỉ coi sự giống nhau về hành vi
biểu hiện của doanh nghiệp là sự thoả thuận khi các doanh nghiệp này có sự
thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, hay nói cách khác các doanh nghiệp tìm
kiếm được ý chí chung mà không bị tác động bởi bất cứ lý do nào. Trong
những trường hợp này, nếu đồng loạt thực hiện hành vi ấn định giá của từ hai
đến bốn doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hình thành nhóm doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh, thì cơ quan điều tra có thể nghi ngờ là có hành vi ấn định giá
của một nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh.
Thứ ba, mục đích của sự thoả thuận ấn định giá hoặc lạm dụng vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền để thực hiện hành vi ấn định giá là nhằm hạn chế
cạnh tranh.
19
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được thể hiện ở dạng thoả thuận
theo chiều ngang hoặc thoả thuận theo chiều dọc. Về nội dung, các thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh rất đa dạng, điều này tùy thuộc vào sự sáng tạo của nhà
định giá hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền thị trường để ấn định giá
phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định.
Về hình thức biểu hiện, các hành vi thoả thuận ấn định giá là việc cùng
hành động giữa các doanh nghiệp hoặc một doanh nghiệp, một nhóm doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc doanh nghiệp độc quyền công khai hoặc bí
mật. Để chứng minh cho hành vi của các doanh nghiệp, cơ quan có thẩm
quyền phải chứng minh giữa các doanh nghiệp đã tồn tại một hợp đồng, bản
ghi nhớ, biên bản họp về một thỏa thuận công khai hoặc ngầm nhằm đồng ý
về giá, về sản lượng, phân chia thị trường, tức là, có chứng cứ để chứng minh
các nhà quản lý doanh nghiệp đã bàn bạc, thống nhất về nội dung cùng hành
động nhằm hạn chế cạnh tranh... Trên thực tế, việc xác định hình thức thể
hiện của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc điều tra và xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm - mặc
dù hình thức pháp lý của một thoả thuận không ảnh hưởng gì đến hậu quả
pháp lý nếu xác định được sự thoả thuận.
Mặc dù việc xác định hình thức pháp lý của các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh không phải là tiêu chí bắt buộc khi đánh giá tính hợp pháp của một
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và vì thế, từ phương diện pháp luật tố tụng
cạnh tranh, các hình thức kể trên đều có thể được chấp nhận. Đáng lưu ý là,
hầu hết các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều tồn tại dưới hình thức thoả
thuận ngầm, nên việc nhận dạng, đấu tranh và phát hiện chúng bằng việc thu
thập những chứng cứ thông thường như: bản hợp đồng, biên bản cuộc họp,
hoá đơn điện thoại, bản fax, nội quy... là hết sức khó khăn. Bởi vậy, trên thực
tế, cơ quan quản lý cạnh tranh ở các nước còn sử dụng các thông tin nghiệp
vụ của các lực lượng chức năng (an ninh, tình báo kinh tế), thông tin chuyên
môn của các cơ quan thống kê, thuế, hải quan... để chuyển hóa chứng cứ
trong quá trình xử lý.
Thứ năm, về hậu quả, các hành vi ấn định giá đã làm cản trở cạnh tranh
trên thị trường.
thuấn ấn định giá xuất phát từ chính bản chất các doanh nghiệp không muốn
cạnh tranh với nhau nữa, bởi khi cạnh tranh liên tục thì rõ ràng các doanh
nghiệp ít hoặc nhiều cũng bị thiệt hại về tài chính. Vì vậy, những thoả thuận ấn
định giá nhằm xoá bỏ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, và họ sẽ thu lại lợi
22
nhuận nhiều hơn, vì lợi nhuận có thể coi là mục đích quan trọng nhất của các
nhà kinh doanh.
Các dạng hành vi thoả thuận ấn định giá thì thường dưới các hình thức
trực tiếp hoặc gián tiếp để đạt được múc đích thống nhất về giá, và thường
được thực hiện dưới các dạng hành vi sau : Áp dụng thống nhất mức giá của
một số hoặc tất cả khách hàng; tăng giá hoặc giảm giá ở mức cụ thể; áp dụng
công thức tính giá chung; duy trì tỉ lệ cố định về giá của sản phẩm liên quan;
không chiết khấu giá hoặc áp dụng mức chiết khấu giá thống nhất; dành hạn
mức tín dụng cho khách hàng; không giảm giá nếu không thông báo cho các
thành viên khác các thoả thuận; sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các
cuộc đàm phán về giá bắt đầu; đưa ra thị trường những sản phẩm được chào
bán ở mức giá thấp nhằm hạn chế nguồn cung và giữ giá cao; thỏa thuận về
việc tuân theo mức giá đã được công bố; thỏa thuận không bán, trừ khi các
điều khoản về giá cả được thỏa thuận và đáp ứng; thỏa thuận sử dụng mức giá
đồng bộ tại thời điểm khởi đầu của cuộc đàm phán
1.1.2.2.Lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền ấn định giá nhằm
hạn chế cạnh tranh
Lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để ấn định giá được hiểu là
hành vi của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc
quyền lợi dụng cái vị trí có sức mạnh thị trường để thực hiện một trong hai
hành vi ấn định giá bao gồm : Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất
hợp lí hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.
nhà nước cần phải kiểm soát chúng bằng các quy định pháp luật với những
chế tài đủ mạnh nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi này.
Đầu tiên, sự phát triển cạnh tranh về giá và chất lượng sản phẩm dịch
vụ sẽ sự phát triển nền kinh tế thị trường. Hoạt động cạnh tranh trên thị trường
ngày được coi là cuộc đua lôi kéo khách hàng về phía mình bằng cách nhanh
nhất là giảm giá, tuy nhiên liên tục cạnh tranh về giá sẽ tạo ra các thua lỗ nhất
định cho doanh nghiệp. Điều này gây ra các thoả thuận ấn định giá hoặc lợi
dụng vị trí thống lĩnh độc quyền để ấn định giá, nhằm tạo ra những lợi nhuận
từ việc ít phải cạnh tranh về giá hoặc xoá bỏ cạnh tranh về giá. Và trong các
7 Trích hành vi ấn định giá bán lại theo Pháp luật Cạnh tranh - Nguyễn Thanh Tú - NCS Đại học Lund Thuỵ Điển
8 Đại Từ điển Tiếng Việt thông dụng (1996), Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
24
hành vi phản cạnh tranh thì TTHCCT là hiện tượng khách quan tồn tại trong
đời sống kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Song nếu để tự do diễn ra thì
những thỏa thuận này sẽ là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng độc quyền nhóm
và việc lạm dụng vị trí thống lĩnh. Do đó, cần thiết phải nhận diện hành vi này
và kiểm soát nó bằng pháp luật.
Tiếp theo, do trong các vụ việc thoả thuận ấn định giá hoặc ấn định giá
của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc doanh nghiệp
độc quyền sẽ tước đoạt khả năng lựa chọn về giá cả của các doanh nghiệp
khác hoặc người tiêu dùng. Trong quyền lựa chọn sản phẩm, việc lựa chọn về
giá luôn là tiêu chí quan trọng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ. Đó là lí do vì các
dịch vụ giá rẻ bùng nổ và phát triển ở Việt Nam và mọi nơi trên toàn thế giới,
như các hãng hàng không giá rẻ đe doạ doanh thu của các hãng hàng không
tiêu chuẩn, hay là dịch vụ Uber chuyên để gọi các xe ô tô con chở khách
không phải taxi đã lấn át thị trường taxi ở Việt Nam nói riêng và kể cả ở Hoa
Kỳ khi các lái xe taxi lo ngại việc các lái xe của Uber lấn át mình, vì dịch vụ
hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh
Thời kì trước đổi mới (trước đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm
1986), nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung nên
chưa có điều kiện cho sự tồn tại cạnh tranh. Trong thời kì này, nền kinh tế
không phải là nền kinh tế thị trường, vậy nên chưa có điều kiện để có sự cạnh
tranh tồn tại.
Từ sau thời kì đổi mới, đánh dấu bằng sự thành công của đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay, nền kinh tế đất nước chuyển dần
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị
trường , đất nước đã có những chuyển biến mạnh về kinh tế, xuất hiện nhiều
thành phần trong nền kinh tế thị trường và các doanh nghiệp cạnh tranh khốc
liệt vì kiếm lợi nhuận, giành giật khách hàng về phía mình. Bên cạnh việc cạnh
tranh lành mạnh, xuất hiện các vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh hoặc
hạn chế cạnh tranh để thủ tiêu cạnh tranh. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường
những hành vi ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh xảy ra giữa các doanh
nghiệp, do đó cần phải có công cụ pháp lí hiệu quả để kiểm soát hành vi ấn
định giá nhằm hạn chế cạnh tranh.
Trước khi có sự ra đời của một đạo luật cụ thể để kiểm soát hành vi ấn
định giá nhằm hạn chế cạnh tranh thì đã có những quy định về nguyên tắc điều
chỉnh hoạt động cạnh tranh tạo nền tảng cho sự xuất hiện của một đạo luật