đại học quốc gia hà nội
khoa luật
hồ thị duyên căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
theo pháp luật việt nam
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2010
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH
HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH
6
1.1.
Khái quát về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh và hành vi hạn
chế cạnh tranh
5
1.1.1.
Khái quát về cạnh tranh
5
1.1.2.
Khái quát về pháp luật cạnh tranh
51
2.2.1.
Điều tra xác định thị trường liên quan
52
2.2.2.
Xác định thị phần, thị phần kết hợp
57 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH VỀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH HÀNH VI HẠN CHẾ
CẠNH TRANH
61
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về căn cứ xác định
hành vi hạn chế cạnh tranh
61
3.2.
Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định về căn cứ xác định
hành vi hạn chế cạnh tranh
66
3.3.
Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về căn cứ xác định
hành vi hạn chế cạnh tranh
70
3.3.1.
Hoàn thiện các quy định pháp luật về căn cứ xác định hành vi
hạn chế cạnh tranh
70
3.3.2.
chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, trình tự thủ tục giải quyết vụ
việc cạnh tranh… đã khỏa lấp được phần nào thiếu hụt của pháp luật Việt
Nam trong bối cảnh hiện tại.
Một trong những vấn đề quan trọng và chiếm phần lớn nội dung Luật
cạnh tranh là những quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh. Những
khái niệm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, tập trung
kinh tế… dường như còn mới mẻ đối với nền kinh tế Việt Nam. Nhiều doanh
nghiệp vi phạm pháp luật nhưng không biết mình đang vi phạm hoặc khi phát
sinh vụ việc hạn chế cạnh tranh, việc giải quyết vẫn còn nhiều vướng mắc. Để
2
kiểm soát được hành vi hạn chế cạnh tranh cũng như giải quyết các vụ việc
hạn chế cạnh tranh thì cần xác định được thế nào là hành vi hạn chế cạnh
tranh. Nhưng hiện nay, những căn cứ để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
chủ yếu được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành và còn nhiều
vấn đề cần được quan tâm. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài "Căn cứ xác
định hành vi hạn chế cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam" để làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, Luật cạnh tranh là một văn bản pháp luật khá mới mẻ
trong hệ thống pháp luật, nhưng thời gian gần đây, nghiên cứu về pháp luật
cạnh tranh nói chung và pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng đã
thu hút được đông đảo sự quan tâm của các nhà khoa học. Đã có một số công
trình, bài viết nghiên cứu về vấn đề này. Có thể liệt kê một số đề tài như: Dự
án hoàn thiện môi trường kinh doanh VIE/97/016, Các vấn đề pháp lý và thể
chế chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh; PGS.TS
Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh
tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, 2001; PGS.TS Nguyễn Như Phát, Xây dựng pháp luật
cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí
cạnh tranh và căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh;
- Nghiên cứu quy định về căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
trong pháp luật Việt Nam hiện nay; đồng thời, liên hệ với thực tế một số vụ
việc để tìm hiểu về việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và những
phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích các cơ sở lý luận; so sánh, đối chiếu
4
với kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, đồng thời, sử dụng phương
pháp tổng hợp, chứng minh trong quá trình giải quyết những vấn đề mà đề tài
đặt ra. Từ đó, luận văn rút ra cơ sở lý luận để xác định hành vi hạn chế cạnh
tranh trong pháp luật Việt Nam.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về căn cứ xác định hành vi hạn chế
cạnh tranh.
Chương 2: Pháp luật về căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh và
thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cac quy định về căn cứ
xác định hành vi hạn chế cạnh tranh.
5
Chương 1
phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã và giá thành được giảm xuống.
Bên cạnh đó, cùng với mục đích tối đa hóa lợi nhuận, cố gắng giành
những điều kiện có lợi nhất, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tập trung, tích tụ
tư bản. Việc tập trung tư bản có thể cải thiện năng lực cạnh tranh cho các chủ
thể, tuy nhiên đó cũng là tiền đề vật chất cho sự hình thành các hình thái cạnh
tranh không hoàn hảo và độc quyền trên thị trường.
Ngược lại với các hành vi cạnh tranh lành mạnh, công bằng là những
hành vi phản cạnh tranh làm cho thị trường méo mó, phá vỡ cấu trúc thị
trường, gây tổn thất cho bản thân doanh nghiệp, người tiêu dùng và các doanh
nghiệp liên quan.
b) Vai trò của cạnh tranh
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra như một
quy luật của nền kinh tế, vận hành tương ứng với các quy luật khác như quy
luật cung cầu, quy luật giá trị… và tôn vinh quyền lựa chọn của người tiêu
dùng. Vai trò của cạnh tranh được thể hiện dưới các góc độ:
Thứ nhất, cạnh tranh là nguồn gốc, động lực để phát triển khoa học kĩ
thuật và công nghệ cao.
Cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình ngày càng
nhiều khách hàng nên các nhà sản xuất, kinh doanh phải tạo ra những sản
phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng cao và giá thành thấp nhất. Nhờ vậy, sản
phẩm được khách hàng, người tiêu dùng dễ dàng chấp nhận và nhanh chóng
chiếm được ưu thế đồng thời, mang lại lợi nhuận cho người sản xuất, kinh
doanh. Khoa học công nghệ mới sẽ đem lại kết quả hữu hiệu cho sản xuất,
kinh doanh, làm tăng tính năng cũng như chất lượng sản phẩm, đồng thời, làm
giảm giá thành sản phẩm. Các hoạt động nghiên cứu và triển khai nhằm mục
đích tối đa hóa lợi nhuận sẽ thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ,
hướng tới sử dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
7
Thứ hai, cạnh tranh định hướng cho việc kinh doanh sản phẩm dịch
doanh nào có thể mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên
thị trường. Những chủ thể cạnh tranh nào có nguồn lợi mạnh nhất, chiếm ưu
thế nhất sẽ dành được vị trí cao nhất và thu được nguồn lợi nhuận lớn nhất.
Chính vì vậy, người ta nói, cạnh tranh là yếu tố tác động tích cực đến việc
phân phối nguồn lực và điều hòa thu nhập.
c) Các hình thức cạnh tranh
Căn cứ vào tính chất, mức độ can thiệp của công quyền vào cạnh
tranh, người ta chia thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có điều tiết:
- Cạnh tranh tự do: là hình thái thị trường thoát khỏi mọi sự can thiệp
của nhà nước. Đây là quy luật đặc thù của phương thức sản xuất tư bản thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, khi mà giá cả tự do vận động lên xuống theo sự chi phối
của quan hệ cung cầu, của các thế lực trên thị trường.
- Cạnh tranh có sự điều tiết (của nhà nước): là hình thái thị trường của
các nền kinh tế thị trường hiện đại; xuất hiện khi nhân loại chuẩn bị bước vào
thế kỷ XX, cạnh tranh tự do bộc lộ những mặt trái như: thất nghiệp, phá sản
hàng loạt, sự lãng phí tài nguyên…
Trên tinh thần khắc phục những nhược điểm của cạnh tranh tự do, sự
điều tiết của nhà nước đối với cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường là
tất yếu Sự điều tiết của nhà nước không làm thủ tiêu hoạt động cạnh tranh
mà sự can thiệp này là cần thiết nhằm đáp ứng những nhu cầu về mặt xã hội
được đánh giá là thiết yếu.
Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung của thị
trường, của một ngành, một lĩnh vực kinh tế, người ta phân cạnh tranh thành
ba mức độ: Cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền.
- Cạnh tranh hoàn hảo: là cạnh tranh trong một nền kinh tế được mô tả
là một mẫu kinh tế thị trường lý tưởng, theo đó, một thị trường với hiệu suất
cạnh tranh có sự tham gia của nhiều người bán và nhiều người mua, sản phẩm
9
đồng nhất, thông tin hoàn hảo cho tất cả cả các bên tham gia thị trường và họ
không chính đáng để giành giật khách hàng, cơ hội kinh doanh làm thiệt hại
đến đối thủ, người tiêu dùng và xã hội. Cạnh tranh không lành mạnh bị pháp
luật nghiêm cấm vì nó vi phạm pháp luật, trái với tập quán thương mại, đạo
đức kinh doanh, xâm phạm tới quyền lợi của chủ thể khác và đi ngược lại lợi
ích chung của xã hội.
1.1.2. Khái quát về pháp luật cạnh tranh
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động cạnh tranh diễn ra
phức tạp với cường độ ngày càng gay gắt. Hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, hạn chế cạnh tranh ngày càng phong phú và phức tạp. Những mầm
mống tiêu cực của cạnh tranh đã lan tỏa tới các lĩnh vực trong đời sống kinh
tế xã hội dưới mọi hình thức, từ sản xuất đến tiêu dùng, như bán phá giá, thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh để gây hạn chế cạnh
tranh… Những hành vi đó có khả năng ảnh hưởng đến quyền lợi của người
tiêu dùng, của các chủ thể cạnh tranh khác, phá vỡ trật tự kinh doanh công
bằng và nền kinh tế có thể phải đối phó với khủng hoảng nghiêm trọng bởi sự
phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp.
Vì vậy, hoạt động cạnh tranh cần được can thiệp bởi cơ quan nhà nước
thông qua hệ thống chính sách pháp luật. Bằng công cụ này, nhà nước duy trì
một trật tự cạnh tranh lành mạnh, môi trường kinh doanh công bằng, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội đặt "dấu ấn" trên thị trường Việt Nam và
xa hơn là trên thị trường quốc tế.
Trong nền kinh tế thị trường, sự điều tiết của nhà nước đối với hoạt
động này là điều tất yếu. Sự can thiệp của nhà nước một mặt bảo vệ, khuyến
khích những khả năng tốt đẹp của cạnh tranh, mặt khác, khắc phục những
khuyết tật của thị trường do môi trường cạnh tranh mang lại. Mỗi quốc gia
đều có chính sách cạnh tranh, trên cơ sở đó điều tiết môi trường cạnh tranh
trong đời sống kinh tế.
11
Mục đích của chính sách cạnh tranh là đảm bảo thị trường không có
Nghị định 12/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/3/1999 về xử phạt hành
chính trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Quy chế đấu thầu ban
hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
1/9/1999, các quy định về quản lí giá hàng hóa và dịch vụ.
Như vậy, trong giai đoạn này, trong khi một văn bản pháp luật cạnh
tranh cụ thể chưa được ban hành, những văn bản pháp luật nêu trên cũng đã
góp phần tích cực trong việc điều chỉnh hoạt động cạnh tranh của các chủ thể
kinh doanh. Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như các quy
định về cạnh tranh nằm rải rác ở các văn bản khác nhau; một hành vi cạnh
tranh được nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh; phạm vi điều chỉnh còn hẹp và
thiếu và chưa có hệ thống chế tài xử lí hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 03/12/2004, Luật cạnh
tranh được ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/07/2005 với 6 chương 123 điều.
Luật cạnh tranh quy định phạm vi điều chỉnh là các hành vi hạn chế
cạnh tranh (thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế của các doanh nghiệp); hành vi
cạnh tranh không lành mạnh (các chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật
kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệm, quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh…).
Ngoài việc quy định về mặt nội dung, Luật cạnh tranh còn thể hiện ở
mặt hình thức bao gồm cả trình tự thủ tục miễn trừ, giải quyết vụ việc cạnh
tranh và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh. Đây được xem là cách
tiếp cận mới trong kỹ thuật soạn thảo văn bản pháp luật nhằm đảm bảo khả
năng thực thi Luật cạnh tranh cao.
Như vậy, có thể thấy rằng, quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh là
một trong những nội dung chính, cơ bản và chủ yếu của Luật cạnh tranh. Đây
13
được xem là một thành công trong quá trình xây dựng Luật cạnh tranh của
hình thức:
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh;
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền;
- Tập trung kinh tế.
a) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong hoạt động kinh doanh, các chủ thể thường thỏa thuận với nhau
nhằm đạt những hiệu quả cao nhất khi tham gia vào thị trường. Pháp luật cho
phép họ được tự do kinh doanh cũng như thực hiện các hoạt động hợp tác,
đầu tư để thu lợi nhuận. Tuy nhiên, các chủ thể kinh doanh đôi khi đã quá làm
dụng quyền tự do của mình dẫn đến hạn chế khả năng tham gia thị trường của
cac chủ thể khác hoặc loại bỏ những đối thủ đang hoạt động trên thị trường
bằng cách thống nhất với nhau cùng thực hiện chiến lược cạnh tranh. Nội
dung của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chính là sự thống nhất ý chí giữa các
chủ thể dưới bất kì hình thức nào về cách thức, biện pháp nhằm hạn chế, thậm
chí khống chế cạnh tranh trên thị trường liên quan [13, tr. 62].
Như vậy, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải là thỏa thuận chính thức
giữa các doanh nghiệp; là quyết định của một nhóm doanh nghiệp; sự thỏa
thuận này được xem là hành vi có bàn tính. Người ta có thể xem, thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh là một dạng "hợp đồng" [13, tr. 60].
Về chủ thể thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, có sự khác nhau giữa pháp
luật các quốc gia. Theo Luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp, chủ thể của thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh là tổ chức hoặc cá nhân (trên thực tế chủ yếu là các doanh
nghiệp) thuộc mọi thành phần kinh tế. Theo Luật cạnh tranh của Liên minh Châu
Âu, thì chủ thể của thỏa thuận cạnh tranh là các "doanh nghiệp" (khoản 1 điều 81
Hiệp định Rome). Tuy nhiên, hiệp định này không đưa ra khái niệm rõ ràng về
"doanh nghiệp". Còn theo Luật cạnh tranh Việt Nam, chủ thể của thỏa thuận
cạnh tranh không chỉ là doanh nghiệp mà còn là các hiệp hội ngành nghề.
15
Dưới góc độ pháp lý, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thể hiện
các hành vi hạn chế cạnh tranh bị kiểm soát. Theo đó, cùng một hành vi,
nhưng có những chủ thể không bị cơ quan nhà nước can thiệp nếu chưa đến
ngưỡng pháp luật quy định sẽ không bị kiểm soát hoặc không bị cấm.
b) Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phấn đấu vươn
lên để đạt được lợi nhuận cao nhất, dành được ưu thế lớn nhất để chiếm lĩnh
một thị phần tương đối lớn trên thị trường liên quan. Đây là điều đáng mừng
cho bản thân doanh nghiệp cũng như nền kinh tế và luôn được nhà nước ủng
hộ, khuyến khích. Trong một số trường hợp, sự phát triển đó đã đưa doanh
nghiệp lên vị trí thống lĩnh thị trường, thậm chí là độc quyền - những vị trí có
lợi thế cạnh tranh cao nhất. Bản thân vị trí thống lĩnh thị trường hay độc
quyền không có tội, không trái với pháp luật. Tuy nhiên, việc lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, tìm cách hạn chế cạnh tranh để bảo vệ
vị trí của mình, gây bất lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề mà
pháp luật cần phải can thiệp.
Trước khi tìm hiểu lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền,
cần phải tìm hiểu thế nào là vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Vị trí thống lĩnh thị trường:
Vị trí thống lĩnh không phải là khái niệm thuộc phạm trù pháp luật,
mà là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế. Án lệ của Pháp cho rằng, vị trí
thống lĩnh được hiểu là "khả năng đối mặt với đối thủ cạnh tranh thực tế" và
"doanh nghiệp được coi là giữ vị trí chiếm lĩnh một vị trí ưu thế trên thị
trường khi nắm giữ thị phần ưu thế trên thị trường so với các doanh nghiệp là
đối thủ cạnh tranh khác" [13, tr. 71]. Còn Toà án châu Âu quy định:
Vị trí thống lĩnh đối trường… liên quan đến sức mạnh kinh tế
của một doanh nghiệp có khả năng ngăn chặn hữu hiệu cạnh tranh
hiện có trên thị trường thông qua việc doanh nghiệp này có khả
17
năng hành xử trong phạm vi độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách
độc quyền và lạm dụng vị trí đó để gây ảnh hưởng, khó khăn cho đối thủ
khác, cho người tiêu dùng thì mới là vi phạm pháp luật.
Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền:
Khi có được vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, các doanh
nghiệp luôn có xu hướng duy trì để có thể bảo vệ được lợi thế cạnh tranh
tuyệt đối so với các chủ thể khác. Việc các doanh nghiệp phấn đấu vươn lên
và đạt được vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là điều bình thường,
không phải vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp lạm dụng vị
trí đó để gây ảnh hưởng, loại bỏ đối thủ cạnh tranh, làm biến dạng quy Luật
cạnh tranh trên thị trường, gây khó khăn cho đối thủ khác, cho người tiêu
dùng thì mới là vi phạm pháp luật và bị pháp luật điều chỉnh.
- Theo pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật Việt Nam, hành vi
của doanh nghiệp bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị pháp luật
cấm có thể là: Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành; Áp đặt giá mua,
giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý; Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch
vụ, Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới Đỉnh
cao của thống lĩnh thị trường là độc quyền. Như đã nêu ở trên, doanh nghiệp có
vị trí độc quyền là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường, chiếm 100%
thị phần trên thị trường liên quan. Vì vậy, doanh nghiệp có vị trí độc quyền ngoài
việc không được thực hiện các hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh thị trường, còn bị cấm thực hiện các hành vi áp đặt các điều kiện bất
lợi cho khách hàng; Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc
hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.
Sở dĩ pháp luật cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền là để bảo đảm thực hiện mục đích chung của pháp luật là tạo lập một
môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể kinh
doanh vừa và nhỏ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
19
c) Tập trung kinh tế
Dưới góc độ pháp lý, các văn bản pháp luật có thể trực tiếp đưa ra
định nghĩa về tập trung kinh tế hoặc chỉ liệt kê những hành vi được coi là tập
trung kinh tế. Theo điều L430 - 1 Bộ luật Thương mại Pháp:
một vụ tập trung kinh tế được thực hiện khi: một hoặc nhiều
người đã nắm quyền kiểm soát ít nhất một doanh nghiệp hoặc nhiều
doanh nghiệp có được quyền kiểm soát đối với toàn bộ hoặc một
phần doanh nghiệp khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng
cách góp vốn mua cổ phần, giao kết hợp đồng hoặc mọi hình thức
khác [2].
Còn Luật cạnh tranh lại không đưa ra khái niệm cụ thể về tập trung
kinh tế mà lại liệt kê các hình thức tập trung kinh tế.
Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm:
1. Sáp nhập doanh nghiệp;
2. Hợp nhất doanh nghiệp;
3. Mua lại doanh nghiệp;
4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp;
5. Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của
pháp luật [21, Điều 16].
Như vậy, dù cho xem xét dưới góc độ kinh tế hay pháp lý, tập trung
kinh tế đều được nhìn nhận là một hình thức tập trung nguồn lực của các
doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường bằng việc tổ chức lại doanh
nghiệp và hậu quả của nó là việc hình thành các tập đoàn kinh tế, thay đổi cấu
trúc thị trường, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp vừa và người tiêu dùng.
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các quốc gia trên thế giới đều
ghi nhận những hình thức tập trung kinh tế như quy định tại điều 16 Luật
cạnh tranh nêu trên. Để làm rõ hơn các hình thức tập trung kinh tế, Điều 17
Luật cạnh tranh đã đưa ra các khái niệm cụ thể về các hình thức tập trung
kinh tế:
21