ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHÙNG VĂN THÀNH
VẤN ĐỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
THEO PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Bính Hà Nội – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phùng Văn Thành
MỤC LỤC
1.2. Chính sách và pháp luật cạnh tranh 18
1.2.1.
Chính sách cạnh tranh 18
1.2.2.
Pháp luật cạnh tranh 20
1.3. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 25
1.3.1.
Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 25
1.3.2.
Yếu tố cơ bản của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 31
1.3.3.
Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 36
1.3.4 Các nhân tố thúc đẩy thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 45
1.4. Khái quát các vấn đề pháp lý về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 45
1.4.1.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Thụy Sỹ 92
2.3.3.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Nhật Bản 95Chương 3: THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH THEO PHÁP
LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN3.1. Khái quát những vấn đề pháp lý cơ bản về thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
102
3.1.1.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh 102
3.1.2.
Quy định và các dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 104
3.1.3.
Quy định cấm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 108
3.1.4.
Định hướng sửa đổi quy định cho hưởng miễn trừ 118
3.3.4.
Định hướng sửa đổi và bổ sung quy định về xử lý vi phạm 119
3.3.5.
Vấn đề áp dụng chính sách khoan hồng 122
3.3.6.
Vấn đề trách nhiệm cá nhân và áp dụng chế tài hình sự 123KẾT LUẬN 124TÀI LIỆU THAM KHẢO 127DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AANZFTA Hiệp định thương mại tự do giữa Asean, Úc và Niu Di-lân (Asean,
Australia and New Zealand Free Trade Agreement)
ACCC Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng của Úc (Australian
Competition and Consumer Commission)
ACFTA Hiệp định thương mại tự do giữa Asean và Trung Quốc (Asean and
China Free Trade Agreement)
AEC Cộng đồng kinh tế Asean (Asean Economic Community)
AFTA Hiệp định thương mại tự do Asean (Asean Free Trade Agreement)
partnership and cooperation agreement)
QLCT Quản lý cạnh tranh
RTA Hiệp định khu vực tự do (Regional Trade Agreement)
SEOM Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp ASEAN
SNG Cộng đồng các quốc gia độc lập
TFEU Hiệp ước về hoạt động Liên minh Châu Âu (Treaty on the
functioning of the European Union)
TIFA Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư Việt Nam- Hoa Kỳ
TTP Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans
– Pacific Strategic Economic Partnership)
UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (United
Nations Conference on Trade and Development)
WB Ngân hàng thế giới (World Bank)
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Mô phỏng sơ lược các dạng hành vi thỏa thuận HCCT cơ
bản 36
Biểu đồ 2.2 Xu hướng tăng phạt tù đối với cá nhân trong thỏa thuận các-
ten 80
Bảng 2.1 Xu hướng tăng mức phạt đối với cá nhân vi phạm pháp luật về
thỏa thuận HCCT của một số quốc gia trong giai đoạn năm 2000
– 2009 81
Bảng 2.2 Xu hướng thay đổi mức phạt tiền đối với doanh nghiệp vi phạm
pháp luật về thỏa thuận HCCT ở một số quốc gia giai đoạn năm
2000 – 2009 82
Bảng 2.3 Quy định về cách tính tiền phạt đối với vi phạm pháp luật về thỏa
thuận HCCT theo pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản 98
Kể từ khi pháp luật cạnh tranh ra đời, các cơ quan cạnh tranh trên thế giới
đều thống nhất một quan điểm cho rằng thỏa thuận HCCT, đặc biệt thỏa thuận các-
ten, vi phạm trực tiếp các nguyên tắc cạnh tranh và được thừa nhận là một trong
những hành vi phản cạnh tranh có tác động nghiêm trọng nhất. Nó được coi là căn
bệnh ung thư của nền kinh tế thị trường, bởi bằng cách hạn chế cạnh tranh nó đã
gây tác hại nghiêm trọng cho nền kinh tế và người tiêu dùng. Hầu hết các nước trên
thế giới, bên cạnh việc nhìn nhận thỏa thuận HCCT ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu
dùng cá nhân, tác động tiêu cực đến thương mại nội địa, còn cho rằng có ảnh hưởng
tiêu cực đến kinh tế thế giới, ngăn cản quá trình tự do hoá thương mại.
2
Thực tiễn cho thấy thoả thuận HCCT xuất hiện từ rất lâu, trong mọi ngành
hay lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, đồng thời xuất hiện ở khắp các quốc gia từ
nước có nền kinh tế phát triển tiên tiến hiện đại cho đến những nước đang phát triển
hay kém phát triển.
Do tính chất nguy hiểm và khả năng tác động tiêu cực nên kiểm soát thoả
thuận HCCT là mục tiêu hàng đầu trong chính sách cạnh tranh của nhiều quốc gia
nhằm (i) duy trì, bảo vệ cạnh tranh tự do và thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả, (ii) bảo vệ
lợi ích người tiêu dùng, (iii) bảo vệ tổng phúc lợi xã hội và sự phát triển kinh tế bền
vững, thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ.
Thoả thuận HCCT đã được pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới quy
định từ rất lâu như tại Mỹ từ năm 1890, tại Nhật từ năm 1947 hay tại Châu Âu từ
năm 1957. Hiện nay, thoả thuận HCCT được quy định trong pháp luật cạnh tranh
của hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Theo xu thế chung và giống như ở nhiều nước, Luật cạnh tranh của Việt
Nam được ban hành năm 2004 trong đó bao gồm các quy định kiểm soát thoả thuận
HCCT. Tuy nhiên, những quy định này còn nhiều bất cập và chưa hoàn thiện. Vì
vậy, nghiên cứu một cách tổng thể vấn đề thoả thuận HCCT theo pháp luật nước
ngoài để có cơ sở thực hiện việc phân tích so sánh nhằm tìm ra những điểm tiến bộ
để từ đó đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát thoả thuận
tranh Hoa Kỳ, Cộng đồng Châu Âu, Nhật Bản và một số bình luận về Luật cạnh
tranh của Việt Nam của Nguyễn Văn Cương được Nhà xuất bản Tư pháp phát hành
năm 2004; Tìm hiểu về Luật Cạnh tranh của Trần Minh Sơn năm 2005; Bình luận
khoa học Luật Cạnh tranh của TS. Lê Hoàng Oanh năm 2005; Pháp luật cạnh tranh
tại Việt Nam của PGS.TS. Lê Danh Vĩnh được Nhà xuất bản Tư pháp phát hành
năm 2006; Báo cáo rà soát các quy định của pháp luật cạnh tranh của Việt Nam
của Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, năm 2012. Ngoài ra, cũng có một số
công trình khoa học nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh được đăng ở một số báo,
tạp chí chuyên ngành.
Tuy nhiên, các công trình trên đây cũng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu
các quy định của pháp luật cạnh tranh nói chung, về cạnh tranh không lành mạnh và
4
chống HCCT trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nói riêng chứ chưa phân tích,
đánh giá chuyên sâu về những quy định của pháp luật và thực tiễn các thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh trong khi về vấn đề này có những đặc thù riêng rất cần được
nghiên cứu chi tiết, cụ thể.
Ở phạm vi ngoài nước, các nghiên cứu liên quan đến chính sách và pháp luật
cạnh tranh nói chung, và thỏa thuận HCCT nói riêng rất phong phú và đa dạng,
được thực hiện bởi nhiều cá nhân và tổ chức khác nhau. Một trong những công trình
được biết đến rộng rãi hiện nay trên thế giới là Chính sách cạnh tranh, Lý thuyết và
thực tiễn (Competition Policy, Theory and Practice) của tác giả Massimo Motta do
Cambridge University Press phát hành năm 2004. Ngoài ra, còn nhiều công trình
nghiên cứu công phu khác như Luật chống độc quyền và Kinh tế (Antitrust law and
Economics) của nhóm ba tác giả Ernest Gellhorn, William E. Kovacis, Stephen
Calkings do Thomson West phát hành năm 2004 (tái bản lần 5), Chính sách cạnh
tranh và pháp luật chống độc quyền quốc tế (International antitrust law and policy)
do Viện nghiên cứu pháp luật luật cạnh tranh thuộc Đại học Fordham của Hoa Kỳ
thực hiện và phát hành năm 2008, Pháp luật cạnh tranh Châu Âu (EC Competition
Law) của nhóm tác giả Joanna Goyder, Albertina Albors-llorens được Nhà xuất bản
với các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và đối chiếu, tổng hợp, tham
vấn để làm sáng tỏ từng nội dung cụ thể. Trong số đó, phương pháp so sánh và
đối chiếu được sử dụng phổ biến hơn. Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu nêu trên,
các tài liệu liên quan đến đề tài luận văn được thu thập để rà soát, phân tích và dẫn
làm nội dung tham khảo. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu
trước đây được tổng hợp và kế thừa về mặt nội dung. Các quan điểm, chính sách
của Đảng và nhà nước được phân tích và vận dụng làm cơ sở định hướng.
5. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là nhằm làm sáng tỏ vấn đề thoả
thuận HCCT ở cả góc độ lý luận và thực tiễn quy định theo pháp luật cạnh tranh
nước ngoài trong mối liên hệ so sánh để từ đó đưa ra định hướng và giải pháp hoàn
thiện pháp luật kiểm soát thỏa thuận HCCT của Việt Nam.
6
Để đạt được mục đích đó, đề tài luận văn lần lượt giải quyết từng mục tiêu cụ
thể gồm (i) nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn cạnh tranh, chính sách và pháp luật cạnh
tranh trong đó bao gồm thoả thuận HCCT dưới góc độ lý luận, (ii) nghiên cứu thực
tiễn các quy định kiểm soát thoả thuận HCCT theo pháp luật nước ngoài, và (iii)
nghiên cứu các quy định kiểm soát thỏa thuận HCCT theo pháp luật cạnh tranh Việt
Nam trong mối liên hệ phân tích so sánh với pháp luật nước ngoài.
Từ các kết quả nghiên cứu cụ thể, luận văn đưa ra những định hướng và giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm soát thỏa thuận HCCT của Việt Nam.
Đề thực hiện những mục tiêu trên, luận văn trước hết tập trung nghiên cứu
một cách toàn diện nội dung và các vấn đề liên quan đến cạnh tranh, chính sách và
luật cạnh tranh trong đó có vấn đề thoả thuận HCCT. Tiếp đó, vấn đề thoả thuận
HCCT được nghiên cứu một cách tổng thể về mặt lý luận và đặc biệt là tác động
của nó đến sự vận hành của nền kinh tế để từ đó làm sáng tỏ lý do đặt mục tiêu
kiểm soát thoả thuận HCCT trong chính sách và luật cạnh tranh của nhiều quốc gia
trong đó có Việt Nam. Sau khi nghiên cứu dưới góc độ lý luận, luận văn đi sâu
nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đến thoả thuận HCCT theo pháp luật nước
các vấn đề lý luận về thỏa thuận HCCT và khái quát các vấn đề pháp lý liên quan
đến thỏa thuận HCCT. Tiếp đó, Chương 2 đề cập đến những nội cung cơ bản trong
pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới đồng thời nêu các quy định cụ
thể liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của 03 nước đại diện cho ba châu
lục khác nhau gồm Mỹ - đại diện cho Châu Mỹ, Nhật Bản – đại diện cho Châu Á và
Thụy Sỹ - đại diện cho Châu Âu. Và cuối cùng, Chương 3 đề cập đến pháp luật
kiểm soát thỏa thuận HCCT của Việt Nam và mạnh dạn đưa ra đề xuất về định
hướng và những giải pháp hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những kinh
nghiệm của nước ngoài phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nền kinh tế của đất nước
trong điều kiện hội nhập thương mại quốc tế hiện nay.
8
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH, PHÁP LUẬT CẠNH
TRANH VÀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc bảo vệ cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cùng với sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát
triển của xã hội loài người, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình
thái kinh tế xã hội. Động lực của sự phát triển đối với nền kinh tế thị trường chính là
cạnh tranh. Cạnh tranh là một khái niệm rộng, xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Trong kinh tế, cạnh tranh liên quan đến mọi lĩnh vực thị
trường và chủ thể kinh doanh. Tuy vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong
một cơ chế kinh tế nhất định – cơ chế kinh tế thị trường. Cạnh tranh là một trong
những quy luật cơ bản, đồng thời là thuộc tính của nền kinh tế thị trường, vì vậy nó
hiện diện trong nền kinh tế như một yếu tố tất yếu [12, tr.78]. Cạnh tranh một mặt
mang lại cho thị trường và cho đời sống xã hội diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng,
phong phú và ngày càng phát triển, nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn
đề xã hội như phá sản, kinh doanh gian dối, cạnh tranh không lành mạnh.
Do tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế
hiện đại, các định nghĩa hay khái niệm về cạnh tranh mặc dù đã nêu được trong một
khác cạnh tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các
nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng. Thứ ba, mục đích của
cạnh tranh là tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Và như vậy, cạnh tranh được hiểu một cách chung nhất là hành vi của các
chủ thể kinh doanh trên thị trường với mục đích giành cho mình những ưu thế cao
nhất so với các chủ thể khác.
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh
Mặc dù được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, song theo các lý
thuyết về kinh tế, cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là linh
hồn và là động lực cho sự phát triển của thị trường. Từ đó, cạnh tranh được mô tả
bởi ba đặc trưng căn bản sau:
10
Thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh
doanh [29]. Cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định sau:
Một là, có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh
tế với các hình thức sở hữu khác nhau. Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động
của các chủ thể kinh doanh nhằm tranh giành, mở rộng thị trường nên đòi hỏi phải
có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp trên thị trường. Một khi trên một thị trường
nào đó chỉ có một doanh nghiệp hoạt động thì chắc chắn nơi đó cạnh tranh không
thể nảy sinh và phát triển. Mặt khác, khi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp
nhưng chỉ thuộc một thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh không còn ý
nghĩa. Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh
doanh tốt hơn nếu các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác nhau với
lợi ích và tính toán khác nhau [29, tr.10], [19].
Hai là, cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do
hành xử trên thị trường. Với việc tự do khế ước, tự do lập hội và tự chịu trách
nhiệm sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể chủ động tiến hành cạnh tranh để
tìm cơ hội phát triển trên thương trường. Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng
xử, cho dù được thực hiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo
luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường.
Với sự giúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao
cho họ lợi ích mà họ mong muốn. Cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có
chung lợi ích tiềm năng về nguồn nguyên liệu đầu vào hay còn gọi là cạnh tranh
mua, hoặc về thị trường đầu ra hay còn gọi cạnh tranh bán. Việc có cùng chung lợi
ích để tranh giành làm cho các doanh nghiệp trở thành đối thủ của nhau. Lý thuyết
cạnh tranh xác định sự tồn tại của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp theo hướng xác
định sự tồn tại của thị trường liên quan đối với các doanh nghiệp. Việc có cùng một
thị trường liên quan làm cho các doanh nghiệp có cùng mục đích kinh doanh và trở
thành đối thủ cạnh tranh của nhau [29, tr.13].
Mục đích lợi nhuận và chiếm lĩnh thị trường phản ánh bản chất kinh tế của
hiện tượng cạnh tranh. Từ đó có thể phân biệt cạnh tranh với các hiện tượng xã hội
khác có cùng biểu hiện ganh đua như thi đấu thể thao hay các cuộc thi đua để tranh
12
dành danh hiệu khác trong đời sống kinh tế - xã hội. Các doanh nghiệp tham gia vào
quá trình cạnh tranh luôn nhắm đến chiếm lĩnh thị trường, khách hàng và các yếu tố
kinh tế của thị trường. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên
thương trường luôn đưa đến kết quả bàn tay vô hình của thị trường sẽ lấy lại phần
thị trường, lấy lại các yếu tố thị trường như vốn, nguyên vật liệu, lao động… của
người yếu thế và kinh doanh kém hiệu quả hơn để trao cho những doanh nghiệp có
khả năng sử dụng hiệu quả hơn. Như thế, sẽ có kẻ mất và người được trong cuộc
cạnh tranh. Người được sẽ tiếp tục kinh doanh với những gì đã gặt hái, còn doanh
nghiệp thua cuộc phải thu hẹp hoạt động kinh doanh, thậm chí phải rời bỏ thị
trường. Có thể nói, với đặc trưng này, cạnh tranh được mô tả như quy luật đào thải
tự nhiên diễn ra trên thương trường [29, tr.14].
1.1.3. Ý nghĩa của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả là
diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường [19, tr.24]. Nhờ có cạnh tranh,
với sự thay đổi liên tục về nhu cầu và với bản tính tham lam của con người mà nền
chính, trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Những gì doanh nghiệp chưa đáp ứng
sẽ là các đề xuất từ phía thị trường để doanh nghiệp lên kế hoạch cho tương lai. Do
đó, có thể nói nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng có vai trò định hướng hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp [29, tr.19].
Kinh tế học đánh giá hiệu quả của thị trường dựa vào khả năng đáp ứng
nhu cầu cho người tiêu dùng. Thị trường sẽ được coi là hiệu quả nếu nó cung cấp
hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng với giá trị cao nhất. Thị trường sẽ kém
hiệu quả nếu chỉ có một người bán bị cô lập với các đối thủ hay khách hàng khác.
Việc đáp ứng nhu cầu thị trường thông qua cạnh tranh cũng đồng thời làm tăng lợi
ích người tiêu dùng bởi họ có được nhiều cơ hội tiếp cận và lựa chọn các sản phẩm,
dịch vụ với chất lượng tốt và giá cả phù hợp hơn [29, tr.20].
Thứ hai, cạnh tranh điều phối hoạt động kinh doanh. Như một quy luật
sinh tồn của tự nhiên, cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh
tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi, có khả năng và bản lĩnh trong kinh
doanh. Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạm dụng quyền lực thị
14
trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh và bóc lột khách hàng. Vai trò điều phối của
cạnh tranh thể hiện thông qua các chu trình của quá trình cạnh tranh. Cạnh tranh là
một chuỗi các quan hệ và hành vi liên tục không có điểm dừng diễn ra trên thương
trường, được lý thuyết kinh tế mô tả bằng hình ảnh phát triển theo hình xoắn ốc.
Theo đó, chu trình sau có mức độ cạnh tranh và khả năng kinh doanh cao hơn chu
trình trước. Do đó, khi một chu trình cạnh tranh được giả định là kết thúc, người
chiến thắng sẽ có được thị phần lớn hơn điểm xuất phát. Thành quả này lại được sử
dụng làm khởi đầu cho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo. Cứ thế, kết quả thực hiện các
chiến lược kinh doanh và cạnh tranh hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp có sự tích tụ
để nâng cao dần vị thế của người chiến thắng trên thương trường. Trong cuộc cạnh
tranh dường như có sự hiện diện của một bàn tay vô hình lấy đi mọi nguồn lực kinh
tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để trao cho những người có khả
năng sử dụng một cách tốt hơn. Sự dịch chuyển như vậy đảm bảo cho các giá trị
cầu của đời sống hiện đại, sự phát triển liên tục của khoa học kỹ thuật, sự tiến bộ
trong nhận thức của con người về các vấn đề liên quan đến kinh tế xã hội [29, tr.23].
1.1.4. Các hình thức tồn tại của cạnh tranh
Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, các nhà khoa học có nhiều
cách phân loại cạnh tranh khác nhau để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu hoặc cho
công tác xây dựng chính sách cạnh tranh.
Dựa vào vai trò điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh có thể được phân loại
thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà.
Thị trường cạnh tranh tự do là thị trường tồn tại không có sự can thiệp của
Chính phủ và tại đó các tác nhân cung cầu được phép hoạt động tự do [16, tr.397].
Do đó, lý thuyết về cạnh tranh tự do đưa ra mô hình cạnh tranh tự do mà ở đó các
chủ thể tham gia cuộc tranh đua hoàn toàn chủ động và tự do ý chí trong việc xây
dựng và thực hiện các chiến lược, các kế hoạch kinh doanh.
Mô hình cạnh tranh tự do ra đời cùng với quan điểm về bàn tay vô hình do
nhà kinh tế học Adam Smith (1723-1790) đề xuất. Theo Adam Smith, sự phát triển
kinh tế phụ thuộc vào quy luật của tự nhiên vì trong các hiện tượng tự nhiên luôn
tồn tại một trật tự có thể thấy được qua quan sát hoặc bẳng cảm giác. Do đó, cơ chế
16
kinh tế và pháp luật nên tuân theo thay vì đi ngược lại các trật tự hay quy luật của tự
nhiên. Trong tác phẩm Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc
gia viết năm 1776, Adam Smith tôn vinh vai trò điều tiết thị trường của bàn tay vô
hình và cho rằng, sự tự do tự nhiên đã sản sinh ra một hệ thống điều tiết các quan hệ
và các lợi ích thị trường đơn giản và rõ ràng. Theo đó, khi chạy theo lợi ích cá nhân,
mỗi người đã vô tình đồng thời đáp ứng lợi ích của xã hội, cho dù trước đó họ
không có ý định này. Vì vậy, hệ thống cạnh tranh tự do tự nó đã sản sinh những
quyền lực cần thiết để điều tiết và phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu nên các cơ
quan công quyền không cần phải can thiệp sâu vào đời sống thị trường.
Khác với cạnh tranh tự do, cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình
thức cạnh tranh mà ở đó Nhà nước bằng các chính sách và công cụ pháp luật can
Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức mà ở đó mỗi doanh nghiệp
đều có mức độ độc quyền nhất định vì họ có sản phẩm của riêng mình. Mặc dù các
sản phẩm trên thị trường có thể thay thế cho nhau, song các doanh nghiệp luôn nỗ
lực thực hiện cá biệt hoá sản phẩm của mình [28]. Sự thành công trong việc dị biệt
hoá sản phẩm phù hợp với sự đa dạng và tính hay thay đổi của nhu cầu quyết định
mức độ độc quyền và thành công của doanh nghiệp. Lý thuyết cạnh tranh độc quyền
gắn liền với các nghiên cứu của nhà kinh tế học người Mỹ Edward Chamberlin
(1899-1967) và nhà kinh tế học người Anh Joan V. Robinson (1903-1983).
1.1.5. Môi trường cạnh tranh lành mạnh cần được tạo lập và bảo vệ
Như đã đề cập, cạnh tranh mang nhiều ý nghĩa và có tác động tích cực đối
với nền kinh tế của các quốc gia phát triển theo kinh tế thị trường. Cạnh tranh được
coi là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là một trong những
quy luật cơ bản, đồng thời còn là thuộc tính của nên kinh tế thị trường, do vậy, nó
hiện diện trong nền kinh tế như một yếu tố tất yếu. Nếu cạnh tranh diễn ra một cách
công bằng thì luôn có những tác động tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bởi
vì, cạnh tranh là hoạt động căn bản của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, là động lực để các doanh nghiệp phải tự cải tổ và trang bị cho mình những
điều kiện tốt nhất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển. Và điều này mang lại nhiều