Mục lục
A. MỞ BÀI……………………………………………………………..
B. NỘI DUNG………………………………………………………….
I. Lý luận chung về bình đẳng giới………………………………...
1. Khái niệm giới, bình đẳng giới………………………………
1.1. Giới…………………………………………………………..
1.2. Bình đẳng
Trang
2
2
2
2
2
2
giới………………………………………………
2. Quy định pháp luật về bình đẳng giới trong lao động………..
2.1. Bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình
3
3
trong
lao
động………………………………………………...
2.2. Bình đẳng giới khi tham gia vào thị trường lao động....
II. Vấn đề bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong
A. LỜI MỞ ĐẦU
1
Ở Việt Nam, từ sau sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, vấn đề
bình đẳng giới đã bắt đầu được đề cập đến. Chính sách giải phóng phụ nữ, xóa bỏ
định kiến và bất công đối với phụ nữ được Nhà nước ta thực hiện một cách nhất
quán và được ghi nhận trong Hiến pháp đầu tiên- hiến pháp 1946 và được kế thừa,
phát triển trong các bản Hiến pháp sau. Đặc biệt là sau khi tham gia ký và phê chuẩn
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW).
Bình đẳng giới rất quan trọng và được cả xã hội quan tâm. Chủ tịch HCM đã từng
nói: “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đàn bà có quyền bình đẳng với
đàn ông về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”1. Một trong những
khía cạnh nằm trong mối quan tâm ấy là lao động theo giới trong các gia đình và
trong thị trường lao động. Để hiểu thêm về vấn đề này, em xin đi sâu vào tìm hiểu
vấn đề: “ Bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động và tham
gia vào thị trường lao động” ..
B. NỘI DUNG.
I. Lý luận chung về bình đẳng giới.
1. Khái niệm giới, bình đẳng giới.
1.1. Giới.
Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ
nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các
đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi
được theo thời gian.
1.2. Bình đẳng giới.
Theo công ước CEDAW thì bình đẳng giới được hiểu là “ tình trạng (điều kiện
sống, sinh hoạt, làm việc...) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như
người phụ nữ không chỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và
chồng trong những công việc gia đình, mà cái căn bản là phải có sự phân công, sắp
xếp lại lao động của toàn xã hội, đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như
nam giới. Cần tổ chức lại đời sống công nông cũng như sinh hoạt gia đình để phụ
nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo con cái, có điều kiện tham gia sản xuất,
học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều
công việc chuyên môn và đảm nhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với
nam giới” 4. Bình đẳng giới trong gia đình không chỉ là từng bước nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của các thành viên, mà còn phải đấu tranh bảo vệ môi trường
gia đình được ổn định và phát triển bền vững, tiếp thu những mặt tích cực của gia
đình hiện đại và những đặc điểm tốt đẹp của gia đình truyền thống; tránh những tác
động tiêu cực trong xu thế hội nhập tới gia đình như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa
cá nhân. Phụ nữ ngày càng khẳng định vị trí của mình trong xã hội, nhưng trong gia
đình phụ nữ vẫn chưa được tôn trọng vì vẫn còn tồn tại quan niệm phong kiến, định
kiến xã hội. Để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay thì Đảng và nhà
3
Khoản 3, điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006
4
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, 1989, tr 57
3
nước cần ban hành các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ giới pháp
sinh trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực lao động như hiện nay:
Tại điều 18 Luật Bình đẳng giới năm 2006 có quy định bình đẳng giới trong
gia đình. Theo đó thì : “ Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các
thúc đẩy bình đẳng giới
7
Điều 13 Luật Bình đẳng giới năm 2006.
6
4
lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp,
không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn
giáo”8. Như vậy, khi tham gia vào thì trường lao động thì nam, nữ đều có quyền như
nhau về độ tuổi, tiêu chuẩn khi tuyển dụng cũng như được đối xử như nhau trong
việc được trả tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, và được tạo điều kiện lao
động như nhau, không được phân biệt đối xử.
Như vậy, khi tham gia vào thị trường lao động thì các thành viên trong gia đình
có nghĩa vụ như nhau trong việc hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ, đồng thời
“ Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp; học
tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người”9 ( điều
23- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000), để cùng nhau xây dựng gia đình no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Tuy nhiên, nếu quy định như vậy thì mục tiêu bình đẳng giới thực chất thật
khó thực hiện trên thực tế mà cần phải có quy định các biện pháp bảo đảm bình
đẳng giới trong lĩnh vực lao động. Theo quy định tại Khoản 3 điều 13 Luật Bình
đẳng giới có quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
động như: “Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động( điểm a); Đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ ( điểm b); Người sử dụng lao động
tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số
ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại ( điểm c)”10.
Như vậy, khi tham gia vào thị trường lao động thì nam, nữ đều có quyền như nhau,
Trong gia đình, các hoạt động sản xuất của các thành viên gia đình được xem
như là một hình thức hoạt động diễn ra hằng ngày, là công việc cần thiết để duy trì
cuộc sống của mỗi thành viên và sự tồn tại của gia đình. Từ xa xưa, ông cha ta đã có
quan niệm phụ nữ thì phải “công, dung, ngôn, hạnh”,“ xuất giá tòng phu, phu tử
tòng tử, phu xướng phụ tùy”, “ giữ gìn trinh tiết”, nam giới thì “ tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ” hay nói cách khác người đàn ông thường lo những việc lớn
trong gia đình như là trụ cột của kinh tế, lo toan chuyện nghề nghiệp kiếm sống,
quyết định hôn nhân cho con cái, mua đất xây dựng nhà cửa bởi nam giới là tượng
trưng cho sức mạnh, có điều kiện giao tiếp, hiểu biết nhiều và do vậy đóng góp cho
gia đình nhiều hơn, còn người phụ nữ thường đảm nhiệm các công việc nội trợ, sinh
con đẻ cái, quán xuyến công việc trong gia đình.
Theo thống kê khảo sát của CGFED tại Tỉnh Nghệ An trong năm 2007 về phân
công lao động giữa các thành viên trong gia đình thì thì trong “ công việc trồng trọt
thì vợ là 63,5%, chồng là 29,7%, con trai là 2,4%, con gái là 4,4%. Trong chăn
nuôi thì vợ là 73,6% ,chồng là 17,5% , con trai là 4,2%, con gái là 4,7%. Hay
trong nội trợ thì chồng là 6,5%, vợ là 64,5%, có sự chia sẻ của cả vợ và chồng là
14,1%. Của con gái là 8,1 %, con trai là 6%” 11. Như vậy, mặc dù tình trạng bất
bình đẳng giới trong gia đình đã được cải thiện nhưng nhìn chung thì người vợ, con
gái vẫn phải làm việc nặng nhọc hơn. “ So với trẻ em trai, trẻ em gái không được
đến trường hoặc phải chịu gánh nặng gấp ba: vừa làm việc nhà, vừa lo học tập ở
trường, vừa phụ giúp gia đình làm kinh tế mà không được trả công. Ngày càng có
nhiều phụ nữ và trẻ em gái phải bắt đầu kiếm sống vì nhu cầu kinh tế và để tồn tại.
Công việc của phụ nữ và trẻ em gái thường bấp bênh, chất lượng thấp” 12.
11
Theo thống kê khảo sát của CGFED tại Tỉnh Nghệ An trong năm 2007
12
Một dự án chống buôn bán trẻ em và phụ nữ tại tiểu vùng Mekong của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
người vợ, người chị- họ phải cùng một lúc đảm nhận hai vai trò. Trong khi đó,
người đàn ông lại ít tham gia vào các công việc nội trợ trong gia đình. Họ chỉ chú
tâm vào các việc lớn trong gia đình và các công việc ngoài xã hội, kiếm được thu
nhập mà ít quan tâm đến công việc nội trợ trong gia đình. Theo kết quả điều tra xã
hội học của trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ tiến hành năm
2002 thì trong gia đình hiện nay, người vợ là người làm chính các công việc nhà.
Trong công việc chăm sóc sức khoẻ cho con, tuy rằng người vợ vẫn là người thường
7
xuyên làm công việc này (chiếm49,2%) hơn nam giới (chiếm 4,1%), tuy nhiên
người chồng đã có sự tham gia nhiều hơn vào việc chăm sóc con cái thể hiện qua
33,4% người đều cho rằng cả hai vợ chồng cùng tham gia ngang nhau vào công việc
chăm sóc con cái. Trong công việc dạy học cho con, mức độ tham gia của người
chồng là 14,3%, trong khi đó người vợ là 25,6%, và cả hai vợ chồng cùng tham gia
như nhau chiếm tỉ lệ cao nhất là 32,1%. Trong các công việc hàng ngày thì cũng tồn
tại sự bất bình đẳng như trong các công việc như: Nấu ăn: 77.8%; mua thực phẩm:
86.9%; giặt quần áo: 77.6%; chăm sóc con cái: 43.4%. Người đàn ông có tham gia
vào các công việc gia đình nhưng với tỷ lệ rất thấp, chỉ chiếm dưới 5%. Như vậy,
phần lớn công việc gia đình vẫn do người vợ đảm đương. Bên cạnh đó thì cũng có
sự khác biệt giữa các vùng nông thôn và thành phố. Nếu như những người vợ ở
nông thôn làm việc nhà với tỷ lệ: Nấu ăn: 82.1%; mua thực phẩm: 87.3%; giặt quần
áo: 80.8%; chăm sóc con: 52.4% thì những người vợ ở thành phố làm các công việc
trên với tỷ lệ tương ứng là: 76.3% / 84.9% / 55.9% / 30.3%. Như vậy, những người
vợ nông thôn làm việc nhà với tỷ lệ cao hơn hẳn so với những người vợ ở thành
phố. Nghĩa là sự bất bình đẳng giới trongncông việc gia đình có sự chênh lệch giữa
các khu vực13…
◘ Trong tham gia các hoạt động cộng đồng.
Trước đây vai trò của chồng và vợ trong hoạt động cộng đồng còn nhiều sự
khác biệt, phân biệt. người chồng là chủ gia đình và là người tham gia các hoạt động
lệ lực lượng lao động nữ tham gia lao động cũng thấp hơn nhiều so với nam giới
(19,15% của nữ so với 25,49% của nam). Điều đó cho thấy, phần lớn lao động nữ
không được sự bảo trợ của nhà nước theo khía cạnh tiếp cận với việc làm và bảo trợ
xã hội.
Theo kết quả của một số nghiên cứu về bình đẳng giới trong thời gian gần đây
cũng cho thấy khá rõ những bất bình đẳng giới ở nước ta, cụ thể là: Có 41% lực
lượng lao động nam làm việc trong lĩnh vực làm công ăn lương trong khi đó tỷ lệ
này ở nữ giới là 26%; Lao động nữ tập trung quá nhiều ở các công việc kỹ thuật
thấp, có mức lương thấp, đặc biệt trong khu vực không chính thức . Nhiều phụ nữ
làm công ăn lương nhưng không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt lao động
nữ làm việc trong các dây chuyền sản xuất có tính chất đơn điệu, đơn giản, có ít cơ
hội nâng cao tay nghề và tiếp tục phải làm các công việc được trả lương thấp trong
nhà máy (Mekong Economic 2007); Trong giai đoạn 2001 -2005, khoảng cách giới
trong lực lượng lao động tăng lên theo hướng có lợi cho nam giới hơn, từ 0,6% năm
2001 lên 2,8% năm 2005; Phụ nữ chiếm 46,5% trong số các công việc mới hình
thành trong lĩnh vực công và 33% số người tham gia đào tạo nghề trong giai đoạn
2001 – 200515; Như vậy, trong thị trường lao động vấn tồn tại sự bất bình đẳng.
Người phụ nữ khi tham gia vào thị trường lao động sẽ gặp rất nhiều khó khăn do
trình độ, khả năng và định kiến xã hội. Phần lớn phụ nữ đang làm những công việc
có tay nghề thấp và cho thu nhập thấp, điều đó hạn chế các cơ hội, trong đó các cơ
hội đào tạo, thăng tiến như tham gia bầu cử hay được đề bạt, chỉ định vào những vị
trí có quyền ra quyết định đối với những phụ nữ có năng lực là không nhiều, dù họ
15
Bộ KHĐT-Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ, 2006
9
có khả năng và trình độ để đảm nhận công việc nhưng họ vẫn không được tạo cơ hội
đình. Trên thực tế thì người phụ nữ đang tiếp tục phải mang trên mình gánh nặng
10
bất cân đối việc nhà trong khi vẫn phải cạnh tranh ở cùng một mức độ với nam giới
trong tìm kiếm việc làm cũng như khẳng định được địa vị của mình trong xã hội. Để
đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực chất trong thực tế đặc biệt là trong lĩnh vực
lao động thì em xin đưa ra một vài giải pháp sau:
Thứ nhất, biện pháp trước mắt cũng như lâu dài chính là nâng cao các kỹ
năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động nữ, xem đấy là yếu tố then chốt
cần được ưu tiên bởi vấn đề này được xem là một yếu tố chính hạn chế các cơ hội
kinh tế của người phụ nữ. Vấn đề này nếu được chú trọng sẽ giúp nâng cao vị thế
của lao động nữ ,quyền lực và tiếng nói của mình trong cả gia đình và xã hội để có
thể từng bước cạnh tranh bình đẳng với nam giới.
Thứ hai, về xây dựng chính sách, pháp luật: Việc xây dựng hành lang pháp lý
thống nhất, hoàn thiện để quy định về vấn đề này có ý nghĩa xã hội rất lớn,
bảo đảm được quyền lợi của nữ giới trong quá trình công tác, mặt khác nâng cao ý
thức trách nhiệm của các bên liên quan trong việc xóa khoảng cách về giới một cách
hiệu quả. Tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ hơn nữa khuôn khổ pháp lý nói
chung (cả xây dựng chính sách, thực hiện chính sách) đặc biệt là các chính sách có
liên quan trực tiếp đến lao động – việc làm, đào tạo nghề, chống phân biệt đối xử
với phụ nữ…; Cần có tổng kết, đánh giá việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ
các văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực không phù hợp với các nguyên tắc
bình đẳng giới theo quy định tại Điều 6 của Luật bình đẳng giới. Cần quan tâm chỉ
đạo các bộ, ngành, cơ quan soạn thảo thực hiện nghiêm túc quy trình lồng ghép giới,
việc phân tích giới, báo cáo đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối
với nam và nữ trong quá
Thứ ba, về tổ chức thực hiện thì cần sớm tiến hành việc phân bổ kinh phí cho
các hoạt động về bình đẳng giới; cần thực hiện lồng ghép giới vào trong quy trình
dự toán ngân sách nhà nước hằng năm trình Quốc hội. Tiếp tục tiến hành lồng ghép
và thực hiện tốt mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, tập 8, 1989 Luật Bình đẳng giới năm 2006.
16
Nhà xã hội học Chủ Nghĩa Xã hội không tưởng Phurie (XIX)
12
2. Nghị định của Chính phủ số 70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 06 năm 2008 Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới.
3. Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/05/2009 của Chính phủ về các biện pháp
thúc đẩy bình đẳng giới.
4. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2006.
5. Luật Lao động năm 2007
6.
7. Công ước CEDAW
8. Thống kê khảo sát của CGFED tại Tỉnh Nghệ An trong năm 2007.
9. Http:// thongtinphapluatdansu.vn
10.Http://vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?
docid=22418&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText=
13