Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
Cũng như nhiều tổ chức kinh doanh khác, nguồn vốn đóng một vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, trong đó, nguồn vốn
huy động có ý nghĩa quyết định, là cơ sở để các tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt
động cho vay, đầu tư, dự trữ…mang lại lợi nhuận cho mình. Để có được nguồn vốn
này, các tổ chức tín dụng cần phải tiến hành các hoạt động huy động vốn. Bên cạnh
hình thức huy động vốn là nhận tiền gửi thì các tổ chức tín dụng còn được pháp
luật cho phép tiến hành hoạt động phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, phát hành giấy tờ có giá là giải pháp huy động
vốn khá dễ dàng và thuận lợi của các tổ chức kinh tế nói chung và tổ chức tín dụng
nói riêng từ công chúng. Tuy nhiên, về phương diện học thuật, do việc phát hành
giấy tờ có giá là loại hình giao dịch mới xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần
đây, nên các nghiên cứu từ góc độ pháp lý về vấn đề này còn quá ít ỏi. Điều này,
gây khó khăn rất lớn cho việc nhận thức đúng bản chất pháp lý của giao dịch phát
hành giấy tờ có giá nói chung, cũng như giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ
chức tín dụng nói riêng.
Chính vì vậy, bài viết sau đây xin đi sâu về: “Tìm hiểu pháp luật huy động
vốn thông qua hoạt động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng và
những đánh giá, nhận xét của tác giả về vấn đề nêu trên” để hiểu rõ hơn về vấn
đề này.
NỘI DUNG
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212
Page 1
dụng đã bắt đầu phát hành thêm một số loại giấy tờ có giá khác với hình thức và
nội dung hấp dẫn hơn, chẳng hạn như tín phiếu ngân hàng (phiếu nợ ngắn hạn) và
trái phiếu ngân hàng (phiếu nợ dài hạn). Nói chung, tất cả những giấy tờ có giá
này, cho dù có thể có những tên gọi khác nhau (ví dụ như CDs - chứng thư tiền gửi
của các ngân hàng Hoa Kỳ hay các tín phiếu, trái phiếu ngân hàng ở Việt Nam…)
2.
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212
Page 2
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
nhưng đều có bản chất giống nhau, đó là: các phiếu nợ hay chứng khoán ghi nợ,
trong đó phản ánh việc một ngân hàng mắc nợ người sở hữu tờ phiếu một số tiền
nhất định và phải trả cho chủ sở hữu tờ phiếu số tiền đó khi đến thời hạn ghi trên
phiếu nợ.
II.
Những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy
tờ có giá của các tổ chức tín dụng.
Khái niệm và đặc điểm của giấy tờ có giá do TCTD phát hành.
Khái niệm giấy tờ có giá là một khái niệm có nội hàm rộng lớn. Xét trên
phương diện kinh tế thì giấy tờ có giá là một lọai hàng hóa và có thể mua bán trên
thị trường. Trên phạm vi rộng lớn của thị trường hàng hóa, có thể liệt kê ở đây một
số lọai giấy tờ có giá: Trái phiếu, tín phiếu, công trái do Chính phủ phát hành; kỳ
phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn
và các lọai giấy tờ có giá khác do các tổ chức tín dụng phát hành. Ngoài ra, trong
thanh toán quốc tế thì giấy tờ có giá thể hiện dưới các hình thức như hối phiếu, kỳ
Bản chất pháp lý của hoạt động phát hành giấy tờ có giá của TCTD.
Phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng là hoạt động phát hành các loại
giấy tờ có giá theo quy định, trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc và lãi cho
người mua trong thời gian nhất định nhằm huy động vốn.
2.
•
Bản chất pháp lý:
Bên mua:
Tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
Tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật
Việt Nam, bao gồm các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và
không hoạt động tại Việt Nam;
Đối với người mua giấy tờ có giá là tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức tín
dụng chỉ được phát hành giấy tờ có giá có ghi danh.
•
Bên phát hành:
Các tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động theo luật các tổ chức tín
dụng 2010 và đáp ứng các điều kiện quy định tại quy chế, bao gồm: các tổ chức tín
dụng Nhà nước, các tổ chức tín dụng cổ phần, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương,
các tổ chức tín dụng liên doanh, các tổ chức tín dụn 100% vốn nước ngoài và các
chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam;
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212
Page 4
cho tổ chức tín dụng với điều kiện tổ chức tín dụng phải hoàn trả cho khách hàng
sau một thời hạn nhất định, kèm theo khoản lãi do các bên thoả thuận. Về lý
thuyết, tuy không phải là đối tượng của giao dịch nhưng các chứng thư này được
coi là hình thức pháp lý của giao dịch, đồng thời là chứng cứ chứng minh quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ giao dịch. Mặt khác, xét về phương
diện kinh tế, các chứng thư này cũng được coi là một loại “tiền ngân hàng” nhưng
không phải là tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành, mà là tiền được tạo ra bởi
tổ chức tín dụng trong quá trình huy động vốn, thông qua chức năng “tạo tiền” của
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212
Page 5
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
tổ chức tín dụng. Trên thực tế, các chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát
hành ra công chúng có thể là chứng khoán nợ ngắn hạn - có thời hạn thanh toán
dưới 1 năm, ví dụ chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn; kỳ phiếu ngân hàng hay tín phiếu
của tổ chức tín dụng, hoặc là chứng khoán nợ dài hạn (có thời hạn thanh toán từ 1
năm trở lên, ví dụ chứng thư tiền gửi dài hạn hoặc trái phiếu ngân hàng…). Sự
phân biệt giữa hai loại chứng thư nhận nợ này chủ yếu nhằm xác định cơ chế phát
hành và lưu thông chúng như thế nào sau khi đã được phát hành trên thị trường bởi
tổ chức tín dụng (phát hành và bán lại cho ai, ở đâu và bằng cách nào?).
•
Về tư cách pháp lý: trong quan hệ phát hành giấy tờ có giá, các tổ chức tín
dụng có tư cách là người vay hay người mắc nợ, khách hàng “mua” có tư
cách là người cho vay, chủ nợ của các tổ chức tín dụng.
Mặc dù có tư cách là người cho vay nhưng do giao dịch này được tổ chức tín
dụng và khách hàng xác lập, thực hiện thông qua một hợp đồng cho vay có thời
giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thì có thể phân lọai giấy tờ có giá
theo 3 cách sau:
3.
Căn cứ vào thời hạn của giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được chia thành
các loại sau:
Giấy tờ có giá ngắn hạn: là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một 1 năm bao gồm kỳ
phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Giấy tờ có giá dài hạn: là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm
trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.
• Căn cứ vào chủ thể phát hành giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được chia
thành các lọai sau:
Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng cổ phần phát hành, bao gồm các lọai sau: Trái
phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng từ.
Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức tín
dụng có vốn đầu tư nước ngòai phát hành, bao gồm các lọai sau: Kỳ phiếu, trái
phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các lọai
giấy tờ có giá khác.
• Căn cứ vào phạm vi xác định chủ sở hữu giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá
được phân thành các lọai sau:
Giấy tờ có giá ghi danh: là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc
ghi sổ có ghi tên người sở hữu.
Giấy tờ có giá vô danh: là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không
ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm
giữ giấy tờ có giá.
•
-
-
hoạt động tại Việt Nam; các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được phát hành giấy tờ
có giá đối với khách hàng là tổ chức.
Tuân thủ các quy định về hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy
định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Có tình hình tài chính lành mạnh theo đáng giá của Thanh tra ngân hàng.
Với trường hợp phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn: Tổ chức tín dụng được phát
hành giấy tờ có giá ngắn hạn khi tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn
trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà
nước.
Với trường hợp phát hành giấy tờ có giá dài hạn : Tổ chức tín dụng muốn được
phát hành giấy tờ có gái dài han thì ngoài những điều kiện chung ở trên thì còn
phải chấp hành một số các quy định sau đây:
Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức
đi vào hoạt động;
Kết quả hoạt động, kinh doanh của năm liền trước phát hành và tính đến thời điểm
gần nhất là phải có lãi;
Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc phát hành giấy tờ
có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng.
Trong trường hợp tổ chức tín dụng muốn phát hành giấy tờ có giá dưới hình thức
trái phiếu chuyển đối hoặc trái phiếu kèm chứng quyền thì phải chấp hành các quy
định tại Điều 28 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN, như sau:
- Phải là tổ chức tín dụng cổ phần;
Tuân thủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động teho quy định của Luật
Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín
dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước;
Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức
đi vào hoạt động;
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212
dụng.
Ngoài ra, trong trường hợp tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá theo
phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng thì việc phát hành, niêm yết và
giao dịch giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng tại thị trường chứng khoán tập trung
được thực hiện theo các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán.
Trình tự, thủ tục phát hành giấy tờ có giá của TCTD.
Theo điều 19 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN tổ chức tín dụng phát hành
giấy tờ có giá ngắn hạn chủ động tổ chức các đợt phát hành giấy tờ có giá ngắn
hạn trong năm. Trước thời điểm phát hành từng đợt ít nhất là 3 ngày làm việc, tổ
chức tín dụng phải gửi Thông báo phát hành của đợt phát hành dự kiến về Ngân
hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ). Thông báo phát hành bao gồm các nội
dung sau: Tên tổ chức tín dụng phát hành; Tên gọi giấy tờ có giá; Tổng mệnh giá
5.
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212
Page 9
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
của đợt phát hành; Phương thức phát hành; Hình thức phát hành; Địa điểm phát
hành; Thời hạn giấy tờ có giá; Thời hạn phát hành; Lãi suất, Phương thức trả lãi,
Thời điểm, địa điểm trả lãi; Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá; Các nội
dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.
Riêng đối với các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải
tuân thủ các trình tự và thủ tục sau:
-
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212 Page 10
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
-
Các thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có).
Sau đó thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định về việc phát hành giấy
tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng. Thời hạn xem xét và ra
quyết định về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức
tín dụng không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị
phát hành của tổ chức tín dụng. (Điều 24 Quy chế ban hành kèm theo của Quyết
định 07/2008/QĐ-NHNN ).
Theo Điều 25 Quy chế ban hành kèm theo của Quyết định 07/2008/QĐNHNN, sau khi có quyết định chấp thuận cho phát hành của người có thẩm quyền,
tổ chức tín dụng sẽ chủ động tổ chức các đợt phát hành giấy tờ có giá dài hạn trong
phạm vi kế hoạch phát hành của năm tài chính đã được xét duyệt. Trường hợp tổ
chức tín dụng đã được chấp thuận kế hoạch phát hành giấy tờ có giá dài hạn của
năm tài chính nhưng không tổ chức phát hành phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước
(Vụ Chính sách tiền tệ). Trước thời điểm phát hành ít nhất 3 ngày làm việc, tổ chức
tín dụng phải gửi Thông báo phát hành giấy tờ có giá dài hạn của đợt phát hành dự
kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ). Thông báo phát hành giấy tờ
có giá dài hạn bao gồm các nội dung sau: Tên tổ chức tín dụng phát hành; Tên gọi
giấy tờ có giá (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn …); Tổng mệnh giá của đợt
phát hành; Phương thức phát hành; Hình thức phát hành; Địa điểm phát hành; Thời
hạn giấy tờ có giá; Thời hạn phát hành; Lãi suất, Phương thước trả lãi, Thời điểm,
địa điểm trả lãi; Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá; Các nội dung thông
báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.
trái phiếu kèm chứng quyền nhưng không tổ chức phát hành phải báo cáo Ngân
hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ).
Trước thời điểm phát hành ít nhất 3 ngày làm việc, tổ chức tín dụng phải gửi
Thông báo phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của đợt
phát hành dự kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ).
Thông báo phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền bao gồm
các nội dung sau: Tên tổ chức tín dụng phát hành; Tên gọi trái phiếu; Tổng mệnh
giá của đợt phát hành; Phương thức phát hành; Hình thức phát hành; Địa điểm phát
hành; Thời hạn trái phiếu; Thời hạn phát hành; Lãi suất, Phương thức trả lãi, Thời
điểm, địa điểm trả lãi; Địa điểm thanh toán tiền gốc trái phiếu.
Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi phải nêu rõ: Điều kiện, thời hạn
chuyển đổi trái phiếu, Tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu, phương pháp tính giá chuyển
đổi; Biên độ biến động giá cổ phiếu vào thời điểm phát hành và chuyển đổi trái
phiếu (nếu có).
Đối với phát hành trái phiếu kèm chứng quyền phải nêu rõ: Điều kiện được
mua cổ phiều phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được
mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm khác của người
nắm giữ chứng quyền.
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212 Page 12
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
Các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành (Điều 32 Quy
chế ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNH).
Mệnh giá của giấy tờ có giá do TCTD phát hành.
Mệnh giá của giấy tờ có giá ngắn hạn được in sẵn hoặc theo thỏa thuận của
tổ chức tín dụng phát hành đối với người mua.
6.
Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn bằng đồng Việt Nam phát hành theo
o
Bảo lãnh phát hành:
Chủ thể thực hiện: Điều 36 quy định: Các tổ chức bảo lãnh phát hành giấy tờ có
giá, gồm: các tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh
phát hành chứng khoán và các định chế tài chính khác theo quy định tại giấy phép
hoạt động. Nếu các ngân hàng thương mại thực hiện bảo lãnh phát hành trái phiếu
ra công chúng thì phải được Ủy ban chứng khoán Nhà nước chấp thuận teho điều
kiện do Bộ tài chính quy định.
- Phương thức bảo lãnh giấy tờ có giá:
Việc bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá có thể do một hoặc một số tổ chức đồng
o
thời thực hiện.
Trường hợp nhiều tổ chức cùng thực hiện bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá, thực
o
hiện theo phương thức đồng bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá.
Tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện theo đúng cam kết bảo lãnh phát hành với tổ
o
chức tín dụng.
Phí bảo lãnh phát hành do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức bảo
•
Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá được lựa chọn các phương thức đấu thầu
sau:
o Đấu thầu trực tiếp tại tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá.
o Đấu thầu thông qua các tổ chức tài chính trung gian
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212 Page 14
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
o
-
-
-
Đấu thầu thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở Giao dịch chứng khoán.
Tổ chức tín dụng tự quyết định hình thức đấu thầu giấy tờ có giá và xây dựng quy
trình đấu thầu cụ thể cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh doanh của đơn vị
mình và các văn bản pháp luật có liên quan.
Việc tổ chức đấu thầu phải đảm bảo nguyên tắc bí mật về thông tin của các tổ
chức, cá nhân tham gia dự thầu và bảo đảm sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân
tham gia đấu thầu.
Phí đấu thầu giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức
được ủy quyền tổ chức đấu thầu giấy tờ có giá
III.
Nhận xét, đánh giá quy định của pháp luật về vấn đề huy động vốn
thông qua hoạt động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín
dụng.
22/11/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát
hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước. Sau đó, văn
bản này đã bị thay thế bởi Quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có
giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước.
Tiếp đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá
trong nước của tổ chức tín dụng để thay thế cho Quyết định số 02. Đến ngày
11/8/2009, Thống đốc Ngân hàng nhà nước lại ban hành thông tư số 16/2009/TTNHNN để sửa đối một số điều trong quyết định trên. Không những vậy, ngày
16/6/2010, Quốc hội đã ban hành Luật các tổ chức tín dụng 2010 cũng có sửa đổi
một số vấn đề phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng. tuy nhiên, văn bản
dưới luật điều chỉnh vấn đề này thì vẫn chưa kịp thời ban hành, vì vậy, các tổ chức
tín dụng thực hiện hoạt động phát hành giấy tờ có giá vẫn chủ yếu dựa trên quyết
định 07/2008/QĐ-NHNN đã được sửa đổi theo thông tư số 16/2009.
Thứ hai, các quy định trong văn bản mới ban hành đã có những sửa đổi rất
đúng hướng, kịp thời điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này.
Các văn bản mới đã đề cập ở trên đã từng bước thiết lập được sự đồng bộ
giữa các quy định về phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng với các quy
định của Luật chứng khoán 2006 về phát hành chứng khoán ra công chúng. Đặc
biệt, văn bản này đã quy định thêm một số vấn đề mới mà các văn bản bị thay thế
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212 Page 16
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
chưa rõ, chẳng hạn như: quyền phát hành trái phiế,u chuyển đổi và chứng quyền
của tổ chức tín dụng cổ phần; việc áp dụng cơ chế phát hành thông qua phương
thức đấu thầu, thông qua tổ chức làm đại lý hoặc tổ chức trung gian bảo lãnh phát
hành chứng khoán…
Có thể thấy, các quy định về phát hành giấy tờ có giá của Quyết định
07/2008/QĐ- NHNN có khá nhiều điểm bứt phá, một trong những điểm nhấn quan
Trên nguyên tắc, việc phát hành các giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng
chính là những thoả thuận vay nợ giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Sở dĩ có
thể khẳng định như vậy là bởi vì, thực chất các giấy tờ có giá được phát hành theo
Quy chế này đều là những phiếu nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để cam kết
hoàn trả một số tiền nhất định ghi trên giấy tờ có giá đó cho người sở hữu vào một
ngày nhất định trong tương lai. Điều này có nghĩa rằng: khi phát hành giấy tờ có
giá cho người đầu tư là các tổ chức, cá nhân, tổ chức tín dụng không phải là
“người bán” giấy tờ có giá mà chỉ là người tiếp nhận vốn đầu tư (người vay), còn
khách hàng là tổ chức, cá nhân cũng không phải là “người mua” giấy tờ có giá theo
đúng nghĩa của từ này mà chỉ là người đầu tư gián tiếp vào tổ chức tín dụng bằng
cách cho vay đối với chủ thể này để được nhận một khoản lãi cho vay theo thoả
thuận. Tuy nhiên, các quy định hiện hành lại thể hiện quan điểm coi giao dịch phát
hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng như là một giao dịch “mua bán” giấy tờ có
giá, chứ không khẳng định và thừa nhận bản chất là giao dịch cho vay của quan hệ
phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng.
Thứ hai, mặc dù Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN đã đặt nền móng cho
việc nhất thể hoá các quy chế về phát hành các loại giấy tờ có giá của tổ chức tín
dụng, nhưng nét nổi bật dễ nhận thấy trong văn bản pháp quy này là nhà làm luật
vẫn chủ trương tách bạch giữa hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín
dụng với hoạt động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức khác không phải là tổ
chức tín dụng.
Điều này thể hiện ở chỗ, hiện tại, việc phát hành các giấy tờ có giá của các
chủ thể không phải là tổ chức tín dụng đang được thực hiện theo quy định của Luật
chứng khoán năm 2006, còn việc phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức
tín dụng để huy động vốn (trong đó chủ yếu là các trái phiếu ngân hàng) thì vẫn
được thực hiện theo quy định riêng tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định này.
Theo thiển nghĩ của người viết, quy định như vậy là chưa hợp lý, bởi lẽ trái phiếu
ngân hàng thực chất cũng là một loại chứng khoán dài hạn nên về nguyên tắc cần
phải được phát hành và lưu thông trên thị trường chứng khoán, giống như cổ phiếu
và trái phiếu công ty hay trái phiếu chính phủ. Đặc biệt, việc phát hành Hối phiếu
thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ
chức tín dụng ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.
Nguyễn Thị Hồng – MSSV: 341212 Page 19
Bài tập lớn học kỳ - Môn: Luật Ngân hàng
Thực hiện bài viết này với mong muốn nắm bắt được những nội dung cơ bản
trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy tờ có giá của
các tổ chức tín dụng, cùng với những đánh giá, nhận xét xung quanh Quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN với mong muốn góp phần hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp
luật đối với giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ở nước ta trong
bối cảnh hiện nay.
Là sinh viên năm ba, khả năng thực tiễn chưa có và kinh nghiệm còn non trẻ,
vậy nên, bài viết của em chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, mong được thầy (cô
giáo) giúp đỡ để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Giáo trình:
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, NXB.
CAND, Hà Nội, 2010.
1.
2.
Văn bản quy phạm pháp luật: