MỞ ĐẦU
Trong kinh doanh, tranh chấp tồn tại như một tất yếu: có thể ở dạng tranh chấp
hiện tại, cần phải giải quyết hoặc tranh chấp tương lại. Các mối quan hệ càng
nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra tranh chấp càng lớn, bất chấp một khung
pháp lý có hoàn chỉnh đến đâu - bởi không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ
pháp luật một cách nghiêm chỉnh. Đặc biệt trong thương mại Quốc tế, lĩnh vực mà
các bên tham gia có những đặc điểm về tập quán kinh doanh, ngôn ngữ và cả các
đặc điểm văn hoá rất khác nhau, thì tranh chấp lại càng lớn, cả về mặt quy mô và
khả năng xảy ra tranh chấp. Chỉ cần một sự sai lệnh nhỏ trong cách hiểu, xuất
phát từ bất đồng ngôn ngữ là đã có thể dẫn đến tranh chấp. Đây là chưa nói đến
vấn đề phức tạm hơn là văn hoá và tập quán kinh doanh. Chẳng hạn như hàng
nhập khẩu vào Trung Quốc bắt buộc phải có mã số, mã vạch, và điều này được
coi là đương nhiên đối với các nhà nhập khẩu Trung Quốc và do đó có thể gây
thiệt hại cho nhà xuất khẩu nếu không chú ý đến điều đó trong thoả thuận hợp
đồng. Hay như quy định về điều kiện cơ sở giao hàng của Hoa Kỳ không hoàn
toàn giống với các điều kiện cơ sở giao hàng của Phòng Thương mại quốc tế
(Incoterm) mà nếu không nghiên cứu kỹ các bên có thể dẫn đến tranh chấp về các
khoản chi phí giao hàng,…Trước khi bắt đầu một thương vụ, các chủ thể không
bao giờ muốn có ranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, nó vẫn có thể xảy ra do những
nguyên nhân chủ quan và khách quan. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hạn chế
đến mức thấp nhất khả năng xảy ra tranh chấp là điều luôn được quan tâm. Nhưng
một khi tranh chấp đã xảy ra, hoặc để đảm bảo lợi ích cho bản thân trong trường
hợp xảy ra tranh chấp, thì vấn đề lựa chọn một phương pháp giải quyết tranh chấp
cũng cần được quan tâm thích đáng, sao cho tranh chấp được giải quyết thoả đáng
với chi phí về thời gian, công sức và tiền bạc là ít nhất.
Một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp hay được áp dụng hiện nay là
thông qua trọng tài kinh tế. Có nhiều ưu điểm của phương pháp này so với các
phương pháp khác: như tính bảo mật, độ tin cậy cao…. khiến nó trở thành một
biện pháp giải quyết tranh chấp phổ biến nhất trên thế giới.
có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nên
chúng được gọi theo ngành luật đó. Ví dụ: Tranh chấp về tiền lương giữa người
lao động và người sử dụng lao động được gọi là tranh chấp lao động. Tương tự
như vậy, tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai ... những tranh chấp rõ là có liên
quan đến lợi ích kinh tế của các bên. Do đó chúng có thể được gọi là tranh chấp
kinh tế theo nghĩa rộng. Một đặc trưng của các tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng
đó là các chủ thể tham gia vào quan hệ này không nhằm mục đích tìm kiếm lợi
nhuận. Trong phạm vi hẹp, quan hệ kinh tế là quan hệ giã các chủ thể kinh doanh
trong lĩnh vực kinh tế. Kể từ khi nước ta có pháp luật về hợp đồng kinhtế, những
tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng kinh tế gọi là tranh chấp
3Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 4 kinh tế, đó là sự bất đồng quan điểm của các bên về
việc thực hiện quyền vụ nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng kinh tế. Song
trong nền kinh tế thị
trường mở cửa và nhiều thành phần kinh tế hiện nay, tranh chấp kinh tế không
chỉ đơn thuần là tranh chấp hợp đồng kinh tế, mà còn nhiều loại tranh chấp
khác, phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh như: tranh chấp giã công
ty và các thành viên công ty; giữa các thành viên công ty với nhau, các tranh
chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu...
Tóm lại: "tranh chấp kinh tế là tranh chấp trong quan hệ kinh doanh "
Kinh doanh như quy định tại Khoản 2 - Điều 3 - Luật doanh nghiệp "Là việc
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lời" Chủ thể của các hoạt động kinh doanh là các doanh nghiệp, các
đơn vị kinh tế, vì thế có thể có một khái niệm về tranh chấp kinh tế như sau:
"Tranh chấp kinh tế là những bất đồng, xung đột, mâu thuẫn xảy ra ở các
doanh nghiệp, đơn vị kinh tế trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động và
giải thể doanh nghiệp".
Một cách đơn giản có thể hiểu tranh chấp thương mại là tranh chấp phát
sinh trong lĩnh vực thương mại. Điều 238 Luật thương mại Việt Nam nêu ra
khái niệm về tranh chấp thương mại "là tranh chấp phát sinh do việc không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt đồng thương mại".
Tại Khoản 2 - Điều 5 cũng quy định "hoạt động thương mại là việc thực
hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương
mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã
hội".
Tuy nhiên, hành vi thương mại gồm những hành vi nào là điều đáng
quan tâm hơn cả. Hiện nay trên thế giới có nhiều quy định khác nhau về hành
vi thương mại:
Ở Việt Nam, Điều 45 Luật thương mại quy định các loại hành vi
thương mại gồm:
1. Mua bán hàng hoá
2. Đại diện cho thương nhân
3. Môi giới thương mại
5Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 6
4. Uỷ thác mua bán hàng hoá
5. Đại lý mua bán hàng hoá
6. Gia công trong thương mại
7. Đấu giá hàng hoá
8. Dịch vụ giao nhận hàng hoá
9. Đấu thầu hàng hoá
10. Dịch vụ giám định hàng hoá
thương mại có thể là:
* Theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thương mại trong nước và tranh
chấp thương mại quốc tế.
* Tranh chấp hai bên và tranh chấp nhiều bên
* Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của các bên
- Tranh chấp do người mua không thực hiện hay thực hiện không đúng
theo quy định của hợp đồng.
- Tranh chấp do người bán không thực hiện hay thực hiện không đúng
theo quy định hợp đồng.
* Tranh chấp hiện tại và tranh chấp tương lai. Tranh chấp hiện tại là
tranh chấp đã xảy ra đang cần được giải quyết. Tranh chấp tương lai được
hiểu là tranh chấp có thể xảy ra và việc giải quyết được dự liệu trong một điều
khoản của hợp đồng.
* Theo nghiệp vụ giao dịch
- Tranh chấp liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến viêc thanh toán
* Theo tính pháp lý của hợp đồng (gồm có giá trị pháp lý và hiệu lực
của hợp đồng)
- Tranh chấp liên quan đến việc áp dụng sai chế độ ký kết hợp đồng
Vi phạm nguyên tắc ký kết
Căn cứ ký kết không hợp pháp
Chủ thể ký kết hợp đồng không hợp pháp, hợp lệ
- Tranh chấp liên quan đến nội dung của hợp đồng
- Tranh chấp liên quan đến cách thức ký kết hợp đồng
* Theo tiến trình thực hiện hợp đồng
- Tranh chấp trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng
7Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghĩa vụ đó của các bên - đó chính là những tranh chấp thương mại.
Thứ ba, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể
được Nhà nước thừa nhận quyền doanh nghiệp có chức năng kinh doanh đó là
các doanh nghiệp. Vì vậy không phải tranh chấp nào phát sinh từ hoạt động
8Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 9
kinh doanh cũng là tranh chấp thương mại. Là tranh chấp thương mại khi các
đơn vị kinh tế có đăng ký kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế (các
doanh nghiệp Nhà nước, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư
nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ kinh doanh cá thể ).
Thứ tư, tranh chấp thương mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh
chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác. Đó là tính phức tạp và đa dạng của
các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị
trường. Mặt khác, mua bán trao đổi là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên
tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế khiến
cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên quan đến nhau
khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể dẫn đến tranh
chấp trong mối quan hệ khác. Chẳng hạn doanh nghiệp A vay tiền của ngân
hàng để mua nguyên vật liệu của doanh nghiệp B và bán sản phẩm cho doanh
nghiệp C theo các hợp đồng đã ký. Nếu doanh nghiệp B không cung cấp đúng
nguyên vật liệu như đã thoả thuận thì doanh nghiệp A cũng sẽ không giao được
hàng cho bên C như trong hợp đồng và không thu hồi được vốn đầu tư để trả
cho ngân hàng. Tranh chấp phát sinh giữa doanh nghiệp A và doanh nghiệp
B; doanh nghiệp A và doanh nghiệp C; doanh nghiệp A và ngân hàng.
1.1.2.4. Tính tất yếu tồn tại tranh chấp thương mại trong nền kinh tế thị
trường.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, sản phẩm được sản
xuất ra để bán, trao đổi trên thị trường, mọi yếu tố đầu vào và đầu ra đều là
trên bao bì, nhãn hiệu hàng hoá. Các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường
Trung Quốc nếu không tìm hiểu rõ quy định này và xuất hàng chưa đăng ký
và in mã số, mã vạch thì sẽ không được thông qua nhập khẩu và thế là tranh
chấp phát sinh. Hay như quy định về hạn ngạch dệt may của Mỹ khác với quy
định của EU là ở loại hạn ngạch tính theo số lượng nhập khẩu....
Các rủi ro khách quan như: sự thay đổi pháp luật, cấm vận, chiến tranh,
bạo loạt, đình công... ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên làm
phát sinh tranh chấp. Mặc dù đó có thể là những trường hợp bất khả kháng,
song việc giải quyết hậu quả, phân định mức thiệt hại cho mỗi bên cũng có thể
phát sinh tranh chấp. Tranh chấp còn phát sinh khi một bên cho rằng rủi ro
không nằm trong các trường hợp được miễn trách.
10Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 11
Trong nền kinh tế thị trường đạo đức kinh doanh không phải lúc nào
cũng được các bên tôn trong, đặc biệt là việc giữ chữ tín với bạn hàng. Vì lợi
nhuận họ sẵn sàng có những hành động cố tình vi phạm hợp đồng, hoặc lừa
đào khách hàng... làm thiệt hại cho đối tác. Bản thân mục tiêu lợi nhuận
không mang tính đạo đức nhưng cách thức để đạt được lợi nhuận thì có và
tranh chấp phát sinh, trong trường hợp này thuộc về lý do chủ quan. Rõ ràng
trong nền kinh tế thị trường quan hệ kinh tế trở lên sống động, đa dạng và
phức tạp. Mục đích nhằm tối đa hoá lợi nhuận trở thành động lực trực tiếp của
các bên tham gia quan hệ kinh tế thương mại. Trong điều kiện đó, tranh chấp
là một vấn đề tất yếu, không thể tránh khỏi, đòi hỏi phải có sự quan tâm giải
quyết một cách thoả đáng. Điều này vừa là một yêu cầu nghiêm ngặt của
nguyên tắc pháp chế vừa là một đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế nói
chung và quan hệ thương mại nói riêng.
mạnh và công bằng. Khi tranh chấp xảy ra phải có các thủ tục, biện pháp để
giải quyết, nếu không giải quyết kịp thời thì hậu quả sẽ dây dưa kéo dài và
thiệt hại rất lớn. Điều đó không những làm thiệt hại, kìm hãm phát triển nền
kinh tế mà còn gây nên một khuyết điểm lớn của môi trường kinh doanh, các
chủ thể sau tranh chấp có thể "quay lưng" lại với nhau đố kỵ và không tin
tưởng lẫn nhau. Một tâm lý yên tâm làm ăn kinh tế, mạnh dạn đầu tư sẽ góp
phần cải thiện nền kinh tế.
Giải quyết hậu quả kịp thời tranh chấp còn có ý nghĩa cực kỳ quan trong
việc quản lý xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiập, vừa góp phần tạo môi trường pháp lý có kỷ cương. Trong sản xuất
kinh doanh tạo niềm tin, thực hiện công bằng và bình đẳng cho các doanh
nghiệp trong nước và ngoài nước. Thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tính hiệu quả được xét ở hai góc độ hiệu quả chuyên môn và hiệu quả
kinh tế. Muốn vậy trong khi tiến hành một hình thức giải quyết tranh chấp
nào cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc.
1.1.3.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp.
Dựa trên cơ sở tự do và tự chủ trong kinh doanh, bình đẳng trước pháp
luật, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
12Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 13
- Nguyên tắc tự định đoạt: Theo nguyên tắc này thể hiện trước hết là ở
chỗ các bên có quyền thoả thuận phương thức giải quyết tranh chấp có lợi
nhật có thể là tự thương lượng, hoặc thông qua trung gian hoà giải, hoặc
thông qua một hình thức tài phán. Sau đó các bên có thể không nhất thiết phải
tham gia tố tụng mà có thể uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng, có
quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Cuối
lựa chọn giải quyết với chi phí thấp nhất, đồng thời các cơ quan giải quyết tranh
chấp cũng phải tính đến yêu cầu này để đặt ra nhưng quy định phù hợp, tạo
niềm tin cho người kinh doanh.
Thứ hai, phải bảo vệ được uy tín của các bên trong thương trường.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, không bên nào được đưa ra bất kỳ một
thông tin nào ngoài phạm vi giải quyết tranh chấp, nhằm hạ uy tín hay ảnh
hưởng tiêu cực đến hình ảnh của đối phương trên thương trường, trước công
luận, hay trước tổ chức giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp phải bảo đảm các yếu tố bí mật trong kinh
doanh trong hoạt động kinh doanh để có được thành công thì các chủ thể đều
có những bí quyết riêng của mình vì vậy họ không muốn đề người khác biết.
Khi mà quyền kinh doanh được coi là hợp pháp thì quyền giữ bí mật trong
kinh doanh cũng được pháp luật bảo hộ.
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp chỉ có thông qua toà án là
xét xử công khai nhưng ngay cả trong trường hợp các bên kiện ra toà, thì yêu
cầu về tính bảo mật và uy tín cũng được tôn trọng như quy định ở Điều 7
pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế: "Các vụ án kinh tế được xét
xử công khai trừ trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của
đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ".
Trong nền kinh tế, có nhiều phương thức và loại hình giải quyết tranh
chấp khác nhau, tất cả đều nhằm giải quyết một cách có hiệu quả nhất, quyền
và lợi ích của các bên đều được bảo đảm. Các khả năng, hình thức và biện
pháp giải quyết tranh chấp được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia
thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó. Đó là việc giải quyết
tranh chấp thông qua một cơ quan tài phán có đơn kiện, hoặc giải quyết tranh
chấp thông qua thủ tục đơn kiện.
1.1.3.3. Các biện pháp giải quyết tranh chấp.
a. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.
hoặc một cơ quan hoà giải mới giải quyết được chứ thương lượng không giúp
ích gì nhiều.
b. Giải quyết tranh chấp bằng trung gian hoà giải.
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua một
người thứ ba gọi là hoà giải viên. Hoà giải viên được các đương sự chọn có
15Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 16
nghĩa vụ "trung lập" tạo điều kiện giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được một
giải pháp để điều hoà lợi ích khắc phục mâu thuẫn bất đồng đã phát sinh.
Hoà giải viên sẽ tiến hành họp kín với riêng từng bên hoặc họp chung
với cả hai bên để tìm hiểu kỹ nội dung tranh chấp, đưa ra những lý giải, phân
tích cho các bên thấy rõ lợi ích của mình và của bên kia để cùng tìm ra một
giải pháp thống nhất giải quyết tranh chấp hợp tình hợp lý. Hoà giải viên
không có quyền hạn gì để ra quyết định hoặc áp đặt một giải pháp nào đối với
các bên, cũng như không thể đưa ra các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp mang tính chất tự nguyện, nó
mang đầy đủ những ưu điểm của thương lượng. Ngoài ra, hoà giải còn có
những ưu điểm khiến không giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn. Chẳng hạn
hoà giải viên thường là những chuyên gia am hiểu về vấn đề đang tranh chấp,
họ lại có một đánh giá sự việc khách quan hơn, hoà giải viên có thể đưa ra
giải quyết cho cả hai bên cùng tham khảo, họ thường có những phân tích
chính xác, rõ ràng các vấn đề thực tế trong tranh chấp, từng bước gỡ từng
bước "mút" bất đồng.
Hoà giải cũng chỉ thành công khi hai bên có thiện chí giải quyết tranh
chấp và nhìn chung thể thức này không có giá trị bắt buộc trừ khi các bên đạt
được sự thoả thuận. Nếu các bên cứ khăng khăng bảo thủ thì tranh chấp cũng
không giải quyết được vì hoà giải viên không đưa ra những quyết định buộc
các bên phải thi hành.
Muốn đưa tranh chấp ra kiện ở Toà án nguyên đơn phải có đơn và tài
liệu chứng minh cho yêu cầu của mình, đồng thời phải tạm ứng án phí. Trước
khi xét xử Toà sẽ tiến hành hoà giải. Nếu hoà giải thành thì thẩm phán lập
biên bản hòa giải thành và coi đây như là quyết định của Toà án, bằng không
cũng lập biên bản hoà giải không thành và tiếp tục xét xử. Việc xét xử gồm xét
xử sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có). Sau phiên sơ thẩm, nếu không nhất trí với
quyết định của Toà thì các đương sự vẫn có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc
thẩm, trong thời gian 10 ngày, lên Toà án trên một cấp. Bản án phúc thẩm sau
khi tuyên thì có hiệu lực pháp luật ngay và không được quyền kháng cáo.
Trong một số trường hợp đặc biệt sau khi thi hành án, có thể có những
phiên giám đốc thẩm và tái thẩm.
Giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng tại Toà án thường là giải pháp
cuối cùng của các bên bởi quyết định của Toà án có tính cưỡng chế rất cao vì
được đảm bảo bằng bộ máy thi hành và giám sát thi hành án của Nhà nước.
Ngoài ra trong quá trình thụ lý và xét xử , Toà án có thể đưa ra những "biện
pháp khẩn cấp tạm thời" như tạm giữ tài sản, phong toả tài khoản... để bảo vệ
bằng chứng, bảo đảm việc thi hành án.
18Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 19
Tuy nhiên, tranh chấp kinh tế trên thế giới thường ít được kiện ra Toà
án vị nhiều lý do. Trước hết đó là trong thủ tục Toà án, quyền tự quyết của
các đương sự ở mức thấp nhất so với các phương thức khác, pháp luật can
thiệp trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp. Các bên sẽ phải tuân thủ
theo những thủ tục cứng nhắc, bắt buộc, phức tạp và kéo dài, án phí lại
thường cao. Thứ hai, một khi đã đưa tranh chấp ra Toà thì những bí mật kinh
doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp sẽ không được bảo toàn, cho dù
kiệm được chi phí do không phải trả phí cho bộ máy hành chính. Đây là biện
pháp giải quyết tranh chấp mềm dẻo, linh hoạt, phán quyết của trọng tài AD HOC vẫn được công nhận có giá trị chung thẩm và được thi hành.
Để thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp thì khi lựa chọn
trọng tài vụ việc, các bên nên thoả thuận quy tắc tố tụng trong hợp đồng để khi
muốn áp dụng thì chỉ cần dẫn chiếu. Trong trường hợp cần thiết, các bên có thể
sửa đổi, bổ sung một số chi tiết cho phù hợp với tính chất từng vụ việc. Việc áp
dụng các quy tắc này không đòi hỏi các bên phải trả thêm bất kỳ một khoản lệ
phí nào mà lại có thể mang lại cho các bên một cách thức giải quyết nhanh.
Tuy nhiên trọng tài vụ việc còn có nhược điểm là tính hiệu quả của nó
phụ thuộc vào tinh thần hợp tác toàn diện của các bên tranh chấp và cần có sự
hỗ trợ của một hệ thống pháp luật kinh tế hoàn chỉnh. Nguyên tắc "tự do lựa
chọn" sẽ chỉ là hình thức nếu các bên không có thiện chí với nhau. Trình tự
xét xử dễ bị trì hoãn nếu các bên không thống nhất được thủ tục giải quyết
hoặc trở ngại trong việc lựa chọn trong tài viên.
Trọng tài vụ việc trên thực tế chỉ thích hợp với những tranh chấp nhỏ,
khi các đương sự có sự am hiểu về pháp luật, dày dạn trên thương trường và
có kinh nghiệp tranh tụng.
Trọng tài thường trực: bên cạnh loại hình trọng tài AD - HOC, còn có
loại hình trọng tài hoạt động thường xuyên, theo thông lệ quốc tế được gọi là
trọng tài thường trực hay trọng tài quy chế. Trọng tài thường trực có điều lệ
21Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 22
riêng và quy chế hoạt động cụ thể. Mỗi tổ chức trọng tài quy chế đều đưa ra
một bản quy tắc tố tụng hướng dẫn trình tự tiến hành thủ tục giải quyết tranh
chấp. Các trung tâm trọng tài này đươc gọi dưới các tên như Toà án trọng tài
(Ví dụ Toà án trọng tài quốc tế, Toà án trọng tài Luân Đôn); Trung tâm trọng
kiện tụng. Nếu họ không muốn có điều gì bất lợi cho mình thì họ chọn trọng
tài thường trực với bộ quy tắc có sẵn để giải quyết tranh chấp. Hơn nữa trọng
tài quy chế hoạt động thường xuyên, có tổ chức chặt chẽ tạo điều kiện cho các
bên dễ dàng quy định một thoả thuận trọng tài riêng. Một ưu điểm khác của
trọng tài quy chế là vấn đề lựa chọn trọng tài viên. Trong trường hợp vụ việc
tranh chấp bị một bên gây căng thẳng làm cản trở việc lựa chọn trọng tài viên
thì sự chỉ định của Chủ tịch Trung tâm trọng tài là hết sức cần thiết. Các trọng
tài Trung tâm là những người được tuyển chọn kỹ càng, và các bên hoàn toàn
có thể đặt niềm tin vào trình độ chuyền môn cũng như sự khách quan của họ.
Ngoài ra còn phải kể đến vai trò của ban thư ký đối với quá trình giải quyết
tranh chấp, họ có nhiệmvụ theo dõi, giám sát việc giải quyết tranh chấp làm
cho quá trình thụ lý và xét xử không bị gián đoạn.
Bên cạnh những ưu điểm trên thì trọng tài quy chế cũng có những hạn
chế nhất định như chi phí trọng tài cao hơn so với trọng tài AD - HOC. Ngoài
chi phí trọng tài, các tổ chức trọng tài còn thu thêm phí hành chính. Và cũng
do bộ máy hành chính nên đôi khi quá trình tố tụng trọng tài quy chế kéo dài
vì phải tuân thủ những thủ tục trong quy tắc tố tụng một cách tuần tự và
nghiêm chỉnh. Nguyên tắc "tự do lựa chọn" của các bên thực chất đã bị hạn
chế trong quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài.
Theo kinh nghiệm, khi phải giải quyết những vụ tranh chấp phức tạp, có
giá trị kinh tế cao thì nên kiện ra trong trọng tài quy chế.
b. Căn cứ theo vị trí trọng tì trong hệ thống tổ chức gồm:
Trọng tài Nhà nước: (hay còn gọi là trọng tài Chính phủ): Là cơ quan
thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành Nhà nước, có chức năng quản
lý Nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế. Hoạt động giải quyết tranh
chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được
mục đích là trực tiếp tham gia việc điều hành, tổ chức các quan hệ kinh tế.
án. Tuy nhiên, việc thoả thuận giải quyết tranh chấp phải được thực hiện trong
khuôn khổ do pháp luật quy đinh.
Theo mục một, Thông tư 02 - PLDSKT ngày 03/01/1995 hướng dẫn thi
hành về thẩm quyền của trọng tài kinh tế được quy định tại Nghị định 116/CP về
24Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TTTT quốc tế Việt Nam 25
tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế, "trọng tài có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp sau đây, không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên tranh chấp.
Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa
pháp nhân với doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh
nghiệp tư nhân và giữa pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân với cá nhân kinh
doanh...
Vấn đề thoả thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp còn được quy
định trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam. Ví dụ Mục 3 Điều
239 Luật Thương mại quy định: "Trong trường hợp thương lượng hoặc hoà giải
không đạt kết quả thì tranh chấp thương mại tại trọng tài, Toà án được tiến hành
theo các thủ tục tố tụng của trọng tài, Toà án mà các bên lựa chọn". Điều 21b
Điều lệ mua bán licent, Điều 241 Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Khoản 2 Điều 30
Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Điều 38 Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế, Điều 24 Luật đầu tư nước ngoài... cũng có những quy định tương tự.
1.2.3. Nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Quy tắc tố tụng là khung pháp lý mà Uỷ ban trọng tài và các bên đương
sự phải tuân theo. Do trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp được hình thành
trên cơ sở tự nguyện của các trọng tài viên, theo quy định của Pháp luật; hoặc
trên cơ sở lựa chọn của các đương sự (trọng tài AD - HOC), nên không tồn tại
một tố tụng thống nhất. Tuy vậy, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
của tất cả các tổ chức, hình thức trọng tài phải đảm bảo các nguyên tắc sau mà
nếu vi phạm các nguyên tắc này sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý rất phức tạp.